Thường Quán chuyển ngữ
Ngựa Á Rập Xanh
Ngựa chiến Á Rập xanh thon nhỏ múa trên đồi
như một trận rào thoáng thấy, như một cơn giông tập hậu giữa trời .
Trong tai ngựa vểnh: gió, kẻ lang bạt và gián điệp
hát những đụn cát Xứ Á Rập có màu vàng sư tử, bất động.
Ngựa chiến Á Rập xanh thon nhỏ chồm lên như một thần mình người đầu thú
kéo lưới tóm mặt trời trong bờm vẩy bụi sóng biển, quên
những nàng ngựa cái trang trại, ngựa đuổi ma trơi phi nước đại
hóa biến những ngọn đồi cao, tím, thành bóng sa mạc ảo.
[‘Blue Arab’, The Moving Image, 1946]
Chó Dingo bị sụp bẫy
Thế, ở đây, bị vặn chéo trong miệng thép, vấy đỏ
tấm da vàng nắng của ngươi toát mùi thần chết và sự hãi sợ,
họ bóp nghẽn vắt từ cổ ngươi bài ca kinh khiếp
ngươi đã hát trong rừng tối đại ngàn.
Bằng tiếng tru khóc nào ngươi để tang hắn! –
kẻ uống máu, kẻ đem cái chết tới nhanh như cắt
kẻ chạy với ngươi bao đêm tối; và đêm thì dài .
Ta nghe ngươi, nhà thơ tuyệt vọng. Anh có nghe thấy
tiếng âm thầm của ta nối tiếp tiếng rú ấy không? – trả lời:
Achilles đã thất thủ, Hector đã chết
đất thó chặn lấy bao cứa miệng chiến binh, kẻ hát dã hoang ơi.
Giọng hát từ những trái đồi và sông say vì mưa
cho bài bi ca của ngươi đêm dài đã quá ư ngắn ngũi.
Ném những bi thương của ngươi vào trăng, khúc xương già mài trắng ấy,
cho tới khi những bầy sao bị cạo da trụi lũi trên đồi của nền trời
ôm nép lấy nhau, run rẩy, ngươi kéo chuông báo tử cho kẻ ấy, kẻ nổi loạn.
Andromache điên, tha từng bước một quanh trụ tháp của ngươi,
cái chết chấm dứt bài thơ ngươi đã hát,
ngươi nằm đây. Tình nhân, kẻ làm ra
những bài sầu ca, ngươi bị chém ngã,
giấu mặt trời vụng trộm của thân thể nàng sau lớp lông máu.
[‘Trapped Dingo’, The Moving Image, 1946]
Vòng Lửa Thiêng
Bài ca biến mất, khúc múa
nằm bí mật với những vũ công trong đất,
nghi thức vô dụng, câu truyện bộ tộc
mất tích trong xa lạ một chuyện đời xưa.
Chỉ duy cỏ đứng tắp thẳng
đánh dấu vòng múa; những gốc táo lai khuynh diệp mọc dại
đứng trụ, diễn câm một lửa trại corroboree thời quá vãng
hát thầm thì một tán ca đứt khúc.
Kẻ đi săn đã biến mất, ngọn dáo
bị chẻ vụn dưới lòng đất, những hình hài tô màu
một giấc mộng thế giới đã từng thở giờ ngủ yên bị quên lãng.
Chân du mục đứng bất động.
Chỉ duy trái tim kẻ cỡi ngựa
khựng lại trước một bóng mù, một lời không nói
khoá miệng trong máu lời nguyền ấy tự cổ thời
cơn hãi sợ già nua như Cain.
[ ‘Bora Ring’, The Moving Image, 1946]
Đàn bà đến đàn ông
Kẻ lao tác không mắt trong đêm
mầm hạt vô ngã, vô dạng hình, ta giữ;
nuôi lớn cho ngày phục sinh –
im, không lời và nhanh và sâu thẳm, ngoài tầm nhìn
tiên tri thấy ánh sáng chưa tưởng tượng được.
Đây không là đứa trẻ với khuôn mặt trẻ nhỏ
đây không có tên để định tính danh;
thế nhưng anh và ta cùng biết rất rõ.
Đây của chúng ta người săn, và con mồi,
kẻ thứ ba nằm trong vòng ôm của ta và anh.
Đây là sức lực cánh tay anh biết
vòng cung thân thể đây là ngực tôi
tinh thể chính xác của hai đôi mắt.
Đây là cây hoang của máu đang mọc
hoa hồng xếp cánh, hoa hồng tinh vi.
Đây là người làm và tạo vật;
đây là câu hỏi và câu trả lời
chiếc đầu mù va đập vào tăm tối,
lưỡi ánh sáng rực dọc đường kiếm cong.
Ôi giữ chặt tôi hỡi người, vì tôi sợ hãi.
[‘Woman to Man ‘, Woman to Man, 1949]
Ngắn
Nhịp điệu cũ, phách thơ xưa
những ngày này ta không
lấy được hơi sâu. Không có gì
nhiều còn lại để nói.
Vần, gieo cuối câu, cái chiêng cũ của ta,
ta không đánh to ngươi được thường như mọi lúc,
hay tín cậy những lời ngươi hứa ngày cũ
về âm nhạc và thể nhập.
Ta vốn yêu Keats, Blake;
bây giờ ta thử hài cú
học sự cô ngắn, sắc
và những khoảng lặng bên trong.
Issa. Shiki. Buson. Basho.
Vài chữ và không khoa ngữ.
Gói bên trong bằng im lặng
như là tiếng chim rừng quát.
[‘Brevity’, Phantom Dwelling, 1985]
(Thường Quán chuyển ngữ từ tuyển tập Judith Wright, A Human Pattern: Selected Poems, NXB Angus and Robertson, 1990)