Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Sang Việt ngữ, Văn hóa Email bài này

Việt Nam khai quốc: cục diện thế kỷ thứ vi xét theo sử liệu Trung Quốc (chương 4, phần 2)

Các tài liệu của Trung Quốc và Việt Nam đều có ý kiến trái ngược nhau về các diễn biến lịch sử tại miền Nam vào thế kỷ 6. Trước khi nghiên cứu các sử liệu Việt Nam, chúng ta hãy xem xét cẩn thận các quan điểm trong sử liệu của Trung Quốc để xác định xem mức độ khả tín từ phía sử liệu Việt Nam. Điểm chính là xét đến sự sụp đổ của quyền lực Trung Quốc đã tạo được những khoảng trống để người Việt Nam có thể theo đuổi nền chính trị độc lập của họ trong thời gian này.

Năm 548, sau khi dẹp tan được cuộc nổi dậy của Lý Bí, Trần Bá Tiên quay về với chức vụ cũ của ông là Đốc Hộ Quan ở sông Tích trong tỉnh Quảng Tây bây giờ. Lúc đó, đế quốc Thác Bạt, (tức là triều Bắc Ngụy) đã từng thống trị miền Bắc Trung Quốc trong một thế kỷ rưỡi, đang bị tan rã dưới áp lực của những vị tướng quân Trung Quốc đầy tham vọng và kiểm soát phần lớn vùng đồng quê Trung Quốc. Trong số các vị tướng này có Hầu Cảnh làm Thứ Sử khu vực tỉnh Hồ Nam bây giờ. Năm 547, Hầu Cảnh tuyên bố là ông sẽ trung thành với triều Lương, nhưng qua năm sau, với nội ứng của một số hoàng thân và quan chức Nhà Lương, ông đã công khai tấn công kinh đô Nhà Lương và giết được Lương Vũ Đế vào năm 549.

Việc Hầu Cảnh làm phản ở kinh đô khiến Trần Bá Tiên càng nôn nóng muốn kéo ngay quân về Bắc để đọ sức với kẻ soán nghịch. Vào năm 548 khi đang sắp sửa kéo quân về cứu giá Lương triều thì Bá Tiên được tin Thứ Sử châu Quảng là Nguyễn Cảnh Trọng đang bí mật chuẩn bị theo phe Hầu Cảnh. Thế là xung đột giữa Bá Tiên và Cảnh Trọng nổ ra công khai ngay lập tức. Năm 549, Bá Tiên đánh bại Cảnh Trọng và mời Tiêu Bột làm Thứ Sử Quảng Châu. Như thế là mặt phía Nam đã tạm ổn nên Bá Tiên lại tính đến chuyện Bắc tiến, nhưng ông vẫn biết rằng vẫn còn nhiều khó khăn trước mặt vì trên đường bắc tiến, nằm giữa châu Quảng và vùng núi rừng ở phía Bắc ngăn chia lưu vực sông Tích và sông Dương Tử, là châu Hàng. Khi Bá Tiên mang quân đánh Lý Bí năm vào 545 thì có Lan Khâm, thứ sử Hàng Châu và người phụ tá rất tin cậy của ông ta là Âu Dương Nguy đi theo. Khi Lan Khâm chết vì bệnh trên đường đi đến Giao Châu thì Âu Dương Nguy được phép đem thi thể Lan Khâm về Hàng Châu. Sau đó, Âu Dương Nguy được lệnh ở lại canh giữ Hàng Châu để các quan chức tháp tùng Bá Tiên Bắc tiến đánh Hầu Cảnh.

Khi Hầu Cảnh giết được Lương Vũ Đế thì ở miền Nam, các quan chức địa phương tranh nhau nổi lên chiếm quyền và giành đất đai; trong số đó có Lan Dụ là em của Lan Khâm đã chết. Lúc đó Lan Dụ đang làm Thứ Sử Cao Châu và có ý rủ Âu Dương Nguy theo y làm phản nhưng Nguy từ chối. Thấy thế Lan Dụ bèn xua quân đánh Âu Dương Nguy ở Hàng Châu nhưng nhờ có Trần bá Tiên kéo quân đến cứu nguy nên Lan Dụ bị đánh bại. Vì thế sau này Âu Dương Nguy đã giúp Trần Bá Tiên khi ông tiến qua vùng núi Hàng Châu để tiến đánh Hầu Cảnh.

Cũng như đã từng khuyên Trần Bá Tiên đừng đánh Lý Bí, Tiêu Bột lần này lại khuyên Bá Tiên nên kiềm chế nhưng Bá Tiên cũng vẫn không nghe. Năm 550, Bá Tiên thắng một trận lớn ở phía Bắc dãy núi nằm trong tỉnh Giang Tây ngày nay nên được một hoàng thân triều Lương thưởng công bằng cách phong ông làm Thứ Sử Giao Châu. Cần nói thêm rằng rõ ràng Trần Bá Tiên lúc đó không ở Giao Châu nên trong tình hình nhiễu nhương đó những vụ bổ nhiệm của Lương triều chỉ là hình thức.

Năm 551, Trần Bá Tiên lại đánh thắng nhiều trận khác nữa và đến năm 552, Hầu Cảnh bị đánh bật ra khỏi kinh đô và bị giết chết. Nguyên đế, một hoàng thân nhà Lương gốc ở vùng trung lưu sông Dương Tử, lên ngôi và giao phó nửa phần phía Đông Trung Quốc, bao gồm cả kinh đô, cho hai vị tướng quân có uy thế nhất trong đó có Trần Bá Tiên; còn vua thì đóng đô ở thành trì mà bây giờ gọi là Vũ Hán (Hán Khẩu). Miền Nam thì vẫn trong tay Tiêu Bột.

Vào lúc đó việc đầu tiên của Tiêu Bột là dẹp yên một cuộc nổi dậy mới ở Quảng Châu. Việc Lương triều bị suy sụp quyền lực ở miền Nam được kể trong sử Trung Quốc rằng khu vực dưới quyền của Tiêu Bột trải dài ra gần 1.000 dặm, mà dân số đăng ký không quá 30.000 người. Một dặm Hoa thường được tính là 360 bộ, như thế 1.000 dặm Hoa tính ra khoảng 365 dặm Anh gần bằng khoảng cách từ hành dinh của Tiêu Bột ở Quảng Châu đến sát biên giới Giao Châu. Do đó câu nói “1.000 dặm” trong sử liệu Trung Quốc có tính cách khoa trương cả về tâm lý và địa lý. Nếu ta để ý thêm một chút nữa thì câu “chưa đến 1 nghìn dặm” có ngụ ý rằng phạm vi quyền hành của Tiêu Bột hết sức giới hạn.

Tuy là một người hợp tác cũ với Bá Tiên, nhưng Tiêu Bột lại không được Nguyên đế tin cẩn lắm vì thấy ông chiêu mộ và huấn luyện một đạo quân rất lớn. Hòng phá tan mối nghi ngờ của vua, Tiêu Bột đánh liều về triều yết kiến Nguyên đế và sẵn sàng trả lời bất cứ tội trạng nào mà ông bị cáo buộc nhưng Nguyên đế vẫn giả bộ làm ngơ như không biết ông là ai. Đến năm 554, Nguyên đế sai Vương Lâm, một vị tướng danh tiếng ở miền Bắc xuống thay Tiêu Bột. Vương Lâm trú đóng gần một năm nơi ở nơi mà bây giờ là Quảng Tây. Cảm thấy bị sức ép từ triều đình do việc bổ nhiệm và trú đóng của Vương Lâm nên Âu Dương Nguy ngày càng ngả theo ý định làm phản của Tiêu Bột. Khi ấy, Âu Dương Nguy đang cai quản Thủy Hưng một địa điểm chiến lược nằm trên đường từ Quảng Châu lên phía Bắc. Tuy nhiên tình hình căng thẳng giữa Vương Lâm và Tiêu Bột đột nhiên tắt ngấm vì Vương Lâm phải vội quay về Bắc do các biến cố quan trọng diễn ra trên đấy.

Kể từ khi Hầu Cảnh cướp ngôi nhà Lương thì ở Tây Bắc Trung Quốc có xứ Thác bạt còn được gọi là Tây Ngụy, đang lấn chiếm biên giới Bắc và Tây của lãnh thổ Lương và cuối cùng thì Thác Bạt chiếm được kinh đô nhà Lương vào năm 555. Tây Ngụy cũng chiếm phần lớn vùng trung lưu sông Dương Tử mà về sau trở thành triều đại Bắc Chu vào năm 557. Chính vì muốn chống lại cuộc xâm lăng này mà đột nhiên Vương Lâm phải vội quay về Bắc vào cuối năm 554 nhưng không quên để Lưu Nguyên Yển, một bộ hạ thân tín của ông, ở lại Quảng Tây. Lưu Nguyên Yển là người được phong chức thứ sử danh dự Giao Châu vì ông ta chưa đặt chân lên đất Giao Châu bao giờ.

Ngay sau khi Vương Lâm về Bắc thì Tiêu Bột tiếp tục củng cố sức mạnh quân sự. Cuối năm 555, khi Tiêu Bột đang củng cố địa vị ở miền Nam thì Lưu Nguyên Yển lại đem quân trở về Bắc để tìm gặp Vương Lâm. Năm 556, cả Tiêu Bột lẫn Âu Dương Nguy được Trần Bá Tiên thăng chức. Tuy nhiên đến đầu năm sau, khi Bá Tiên đoạt ngôi nhà Lương và chính thức xưng đế nhà Trần, thì Tiêu Bột, vì thuộc dòng giõi hoàng tộc Nhà Lương, đã thẳng thừng tuyên chiến. Tiêu Bột ở lại Thủy Hưng và sai Âu Dương Nguy đem quân lên Bắc để đánh tân vương là Trần Bá Tiên nhưng Âu Dương Nguy bị thua và bị bắt. Tin thua trận vừa về đến Thủy Hưng thì bộ hạ của Tiêu Bột vội vã thủ thân ai lo phận nấy. Trong số các bộ hạ này có Trần Pháp Vũ, đã làm phản và giết được Tiêu Bột. Cũng như trước đó Trần Bá Tiên với chức Thứ Sử danh dự Giao Châu, Lưu Nguyên Yển với chức thứ sử danh dự Giao Châu, Trần Pháp Vũ cũng giữ chức thứ sử danh dự Cửu Đức vào năm 557 mặc dầu ông ta chẳng bao giờ ở Cửu Đức, trừ thời gian theo Trần Bá Tiên đi đánh Lý Bí.

Sau khi Tiêu Bột chết, miền Nam lại rối loạn. Biết được là Âu Dương Nguy cũng có một ít uy danh ở miền Nam nên Trần bá Tiên quyết định thả ông về và bổ ông làm Thứ Sử Hàng Châu kiêm Đô Đốc với quyền hành quân sự trên toàn bộ 19 châu mà trên lý thuyết bao gồm cả hai châu Quảng và Giao. Con của Âu Dương Nguy là Âu Dương Hốt, là người cũng đã từng ở miền Nam, phụ tá cho cha để tìm cách lôi kéo phe Tiêu Bột cũ về quy thuận vì phe này đã rút về Quảng Châu.

Nhưng một tháng sau, Vương Lâm ở trong lưu vực sông Dương Tử lại nổi loạn và miền Nam phải gánh chịu sự cai trị hà khắc của y tới ba năm. Mặc dầu được Tân vương Trần Bá Tiên phong chức vào năm 557, Vương Lâm vẫn ngấm ngầm trung thành với hoàng gia Lương. Được hậu thuẫn của một quan chức ở miền Nam nên năm 558 Vương Lâm tìm cách lôi kéo họ về hẳn phe cánh với ông. Cũng vào năm ấy, Âu Dương Nguy được bổ nhiệm Thứ Sử Quảng Châu, có lẽ vì Trần Bá Tiên muốn mua chuộc lòng trung thành của ông. Khi Trần Bá Tiên mất năm 559, Thứ Sử Quế Châu tức Quảng Tây bây giờ đến quy thuận Vương Lâm nhưng Âu Dương Nguy vẫn trung thành với Bá Tiên và được phong môt loạt chức tước mới và quyền lực cao hơn. Rốt cuộc, đến năm 560, Vương Lâm bị đánh bại và buộc phải về ẩn trốn ở vùng Đông Bắc Trung Quốc. Trong thập kỷ sau, tình hình ở miền Nam được tương đối ổn định dưới quyền cai trị của cha con Âu Dương Nguy.

Tương truyền rằng trong thời gian Vương Lâm nổi loạn, Âu Dương Nguy bí mật nhận được một số vàng từ Viên Đàm Hoãn, lúc đó là Thứ Sử Giao Châu. Âu Dương Nguy đem một phần số vàng ấy chia cho Thái Thú Hợp Phố và phần còn lại ông đem cho con trai mình là Âu Dương Hốt. Việc làm mập mờ này có lẽ có liên quan đến việc tưởng thưởng cho lòng trung thành với Nhà Trần vì ông không theo phe nổi dậy của Vương Lâm.

Khi Viên Đàm Hoãn chết, chức Thứ Sử Giao Châu lại về tay em của Âu Dương Nguy là Âu Dương Thịnh. Chức này của Âu Dương Thịnh lại cũng rõ ràng là một chức danh dự bởi vì hành động duy nhất của ông được ghi lại là việc ông giúp anh ông ta dẹp yên được loạn quân ở Quảng Châu. Điều này gợi nhớ đến vụ bổ nhiệm Trần Bá Tiên làm Thứ Sử Giao Châu năm 550 sau khi Bá Tiên đã rời khỏi miền Nam, và cả vụ ra đi của Lưu Nguyên Yển, Thứ Sử Giao Châu lên miền Bắc để theo Vương Lâm vào năm 555; cùng là chức phong cho Trần Pháp Vũ, Thứ Sử Cửu Đức, người đã giết được Tiêu Bột ở Thủy Hưng năm 557. Những người này thực sự chắc cũng có ít nhiều liên hệ đến Giao Châu, có lẽ là đã tham gia đội viễn chinh của Bá Tiên đi chinh phạt Lý Bí, nhưng tất cả mọi bằng chứng đều cho thấy là họ chỉ giữ chức Thứ Sử danh dự mà thôi.

Năm 563, Âu Dương Nguy qua đời, Âu Dương Dương Hốt lên kế vị. Sử chép Âu Dương Hốt: “Rất oai nghiêm nhưng tử tế với người Bách Việt”. Danh từ Bách Việt được dùng ở đây như một từ tổng quát để chỉ tất cả mọi dân bản xứ ở miền Nam và câu “những người đã sống với người Bách Việt” là chỉ những người Trung Quốc và họ hàng của họ ở miền Nam. Từ sự việc đó, ta có thể cho rằng gia đình Âu Dương đã tạo được một cảnh thái bình tương đối trong khu vực dưới quyền kiếm soát của họ mà rõ ràng là không vượt quá vùng Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay. Năm 567, Thứ Sử châu Định, bây giờ là Hồ Nam, nổi loạn và rủ Âu Dương Hốt theo mình. Tuy Dương Hốt không đóng vai trò gì tích cực trong vụ nổi loạn ngắn ngủi này ông cũng bị Triều Trần nghi ngờ. Năm 569, khi được gọi về triều trình diện, Âu Dương Hốt quyết định không về và công khai làm loạn. Năm 570, ông bị bắt và bị đem chém đầu.

Năm 570 đánh dấu một bước ngoặt nhỏ ở miền Nam. Từ khi Lý Bí nổi dậy vào năm 541, miền Nam luôn luôn ở trong tình trạng bất ổn định. Hoặc nếu có một chút ổn định nào đó thì đều được thi hành bởi những người địa phương có thế lực mạnh, những người biết tránh liên lụy đến những rối ren chính trị ở Bắc, hoặc là biết khéo léo lợi dụng những cơ hội ấy. Đi đầu là Trần Bá Tiên rồi đến những nhân vật lãnh đạo khác ở miền Nam theo sau ông đều công khai nổi loạn.

Sau cái chết của Âu Dương Hốt vào năm 570, triều Trần đặt ra biện pháp tổng quản quyền hành ở miền Nam. Sử chép rằng vào thời đó “những người Lao man di ở Giao Chỉ thường hay tụ tập lại đi cướp phá” và Nguyễn Trác được giao nhiệm vụ giải quyết việc này. Tuy thế Giao Chỉ vẫn liên lạc với Lâm Ấp và việc buôn bán về “vàng, chim trả, ngọc trai, đồi mồi, ngọc quý và những đồ hiếm quý” vẫn phát đạt vì tất cả những “sứ giả” gửi xuống Giao Chỉ, từ đầu đến cuối, chỉ lo tích lũy của cải; riêng có Nguyễn Trác thì không làm như thế, và bỏ về tay không”.

Tin tức quý báu này đã soi sáng quan hệ giữa bắc triều và miền Nam xa xôi. Rõ ràng là những người được bổ nhiệm xuống Giao Chỉ đều chẳng ngó ngàng gì đến nhiệm vụ được giao mà chỉ đi theo nghề buôn bán vì béo bở hơn nhiều. Danh từ “sứ giả” dùng ở đây ngụ ý nói những quan chức nhỏ, cấp dưới không quan trọng. Mặc dù Nguyễn Trác cố chống lại những cám dỗ và lợi lộc ấy và bỏ về, ông đã thành công trong việc tạo được mối liên lạc giữa triều Trần và những ngôi chợ phồn thịnh ở miền biển Nam Hải vì trong những năm có cuộc viễn chinh của ông, các sứ bộ ngoại giao của Phù Nam và Lâm Âp, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, đã sang tận triều Trần để yết kiến.

Ngoài việc mở lại những tiếp xúc thương mại, sứ mạng của Nguyễn Trác cũng tạo được ít ảnh hưởng ở biên giới. Không lâu sau đó, một người tên là Thái Ngung cũng bị nhà Trần tạm thời trục xuất xuống Giao Chỉ mặc dù sử đã không nói rõ y giữ chức vụ gì trước đó. Cũng vào thời gian đó, lại có một người khác tên là Đại Hoàng có tên trong danh sách các quan chức làm Thứ Sử châu Ninh, một trong hai châu xa lắc mà triều Lương thiết lập ở biên giới Lâm Ấp trước đó. Có lẽ Đại Hoàng đã tháp tùng Nguyễn Trác và được phong chức này để thưởng công; mà cũng có thể y được phong chức này như là một chức danh dự mà chẳng bao giờ ra khỏi triều đình Trần cả. Còn về Thái Ngung, mặc dầu y bị đuổi xuống Giao Chỉ, có thể y lại được giao cho một quan hệ chính thức nào đó với các quyền lực địa phương; mặc dù sử liệu không ghi lại bằng chứng nào rõ rệt về một quan hệ như thế.

Trong hai năm sau khi Nguyễn Trác viễn chinh xuống miền Nam, tức là cho tới năm 572, một tướng quân tên Trần Khắc là nhân vật nổi bật nhất ở miền Nam với tư cách là Thứ Sử Quảng Châu. Trần Khắc sau đó lại được thay thế bởi Phượng Tần, một hoàng thân, cháu của mẫu thân Trần Bá Tiên. Phượng Tần được phong chức Đô Đốc là chức cũ của họ Âu Dương ngày trước. Ông nhậm chức vào năm 574 và năm 575 lại bị thay thế bởi một hoàng thân khác. Đến năm sau, ông này lại bị đổi đi, thành ra việc lãnh đạo không được liên tục trong những năm ấy.

Năm 576, Trần Quân Cảo được phong Đô Đốc Quảng Châu. Sử chép rằng: “Bộ lạc Di và những người Lao liên tục đánh lẫn nhau. Quân Cảo lại là một nho sĩ, không thông thạo việc quân sự; nên ông dốc hết tâm lực vuốt ve xoa dịu họ và giảng giải phải trái để đem lại sự hài hoà trong dân chúng”. Năm 578. Quân Cảo chết, thọ được 48 tuổi, chỉ sau hai năm tại chức.

Danh từ Lao, như chúng ta đã biết, là để chỉ những người sống trong vùng núi non miền Nam, và Li, danh từ ở thế kỷ 5 để nói các bộ lạc sống ở miền núi, là một từ được dùng ở thế kỷ 6 để chỉ những sắc tộc phi Trung Quốc sống định cư ở các vùng đất thấp. Người Việt Nam được coi là ở trong số các tộc Li. Theo kinh nghiệm của Quân Cảo, những quyền lực địa phương không thích vai trò kiểm soát của bắc triều, nên ông chỉ tìm cách đóng vai trung gian mặc dù chẳng đi tới đâu!

Những sự rối loạn này đã làm cho Trần Quân Cảo mệt mỏi và có lẽ vì thế ông qua đời sớm dẫn đến kết cuộc là quyền chỉ huy bao trùm của ông trước đó nay bị chia năm xẻ bảy ra thật nhỏ với việc xuất hiện khá nhiều Đô Đốc với quyền hạn trách nhiệm hết sức giới hạn. Theo sách An Nam Chí Lược căn cứ trên các sử liệu Trung Quốc, môt người tên Dương Tấn đã giữ chức Đô Đốc hai châu Giao và Ái một thời gian, sau khi Quân Cảo chết. Và khi triều đại Trần Bá Tiên sụp đổ vào năm 589, lại có một người tên Dương Hựu Phổ làm Đô Đốc Giao Châu.

Ngược lại với các vị đô đốc này, trong số những người có thể đã ở miền Nam với danh nghĩa đại diện của triều đình, có một người tên là Lý Hữu Vinh nào đó, được sử chép là Thứ Sử Giao Châu. Năm 583, Lý Hữu Vinh gửi một số voi đã huấn luyện thuần thục sang triều cống Trần Bá Tiên. Trước đó, voi được thuần hóa đem triều cống thường là của Lâm Ấp. Do đó việc tiến voi một cách lạ lùng của “Thứ Sử Giao Châu” hàm ý rằng Thứ Sử Giao Châu đang ứng xử theo lề lối ngoại giao phi Trung Quốc.

Việc duyệt xét lại một cách ngắn ngủi trên đây về những biến cố ở miền Nam trong thời gian 40 năm kể từ khi Trần Bá Tiên chiến thắng Lý Bí cho đến khi triều đình nhà Trần sụp đổ đều hoàn toàn lấy ở trong sử liệu Trung Quốc. Sử liệu nói về về Giao Châu trong thời gian này thì gần như không có, ngoại trừ lác đác nói đến những chức vị, thậm chí vài lời phê bình bâng quơ còn hầu hết chỉ nói đến những tiếp xúc thương mại thay vì chính trị. Những chi tiết mà chúng tôi đã xem xét theo sử liệu Trung Quốc đều hậu thuẫn những quan điểm cho rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục kiểm soát Giao Châu trong suốt thời gian này. Tuy nhiên, có hai điều mâu thuẫn đáng lưu ý:

Điều thứ nhất là thông tin mà chúng tôi đã xem xét kỹ đều nói đến sự suy yếu của quyền lực Trung Quốc ở miền Nam trong suốt thời gian ấy. Trong khi Trần Bá Tiên trở về Bắc những năm 548-52, tinh thần vương triều cũng đi theo ông. Năm 552, quyền của Tiêu Bột không ra khỏi giới hạn tỉnh Quảng Tây bấy giờ. Khoảng giữa những năm 554-60, khu vực tỉnh Quảng Tây bây giờ lại phần lớn chịu ảnh hưởng Vương Lâm. Trong 10 năm sau đó, họ Âu Dương ở Quảng Châu áp dụng hệ thống gia đình trị và sự trung thành được xét theo từng cá nhân. Hệ thống cai trị này đã ảnh hưởng xuyên suốt xuống tới Giao Châu và xa hơn nữa mà phần chính là qua hệ thống thương mại. Sự sụp đổ của họ Âu Dương năm 570 mà tiếp theo là cuộc viễn chinh của Nguyễn Trác xuống tận miền biên giới đã khiến Lâm Ấp và Phù Nam phải vội gửi sứ giả lên triều đình. Nhưng điều này cũng không thu được kết quả gì và điều ngạc nhiên nhất là nhân vật Nguyễn Trác đã bặt tăm không được nghe nói đến nữa. Những tranh chấp địa phương đã gây nên sự tuyệt vọng của Trần Quân Cảo (576-78) và đưa đến kết quả là sự tan rã của quyền lực bắc triều trong khi triều đại Trần Bá Tiên thoi thóp dưới bóng nhà Tùy. Việc duy trì thương mại có thể là động lực của việc cống nạp voi lên triều Trần vào năm 583 bởi một lãnh tụ địa phương Giao Châu. Như vậy là nguồn sử Trung Quốc không đi ngược lại với điều cho rằng trong những năm nói trên, Giao Châu tự chủ, nếu không phải là độc lập một cách hữu hiệu.

Điều thứ hai là khá nhiều chi tiết lịch sử từ thế kỷ 6 vẫn còn được bảo tồn ở Việt Nam cho đến tận ngày nay. Khi Lý Bí qua đời, nhiều lãnh tụ địa phương nổi dậy chống lại bắc triều; và sau khi qua đời, họ đều được dân chúng lập đền thờ phượng. Những tiểu sử và đời hoạt động của những vị anh hùng ấy đã được ghi chép lại và bảo tồn trong những ngôi đền thờ cúng họ. Trong nửa đầu thế kỷ 12, những điều ấy đã được chép vào một tác phẩm lịch sử mà tiếc thay, không còn nữa (nhà Minh đã xâm chiếm Việt Nam và ra lệnh thu hồi về Trung Quốc hoặc đốt hết sách của Việt Nam vào thế kỷ thứ 14). May mắn là một số những điều trong tác phẩm bị thất lạc đó đã được sao chép lại sang những sách khác còn tồn tại cho đến nay. Như chúng ta vẫn hằng mong ước, những chi tiết lịch sử giá trị từ tiểu sử và hoạt động của các vị anh hùng được phong thánh là những gì còn lại, mặc dù không tránh khỏi ít nhiều huyền tích. Tuy thiếu những sự kiện lịch sử giúp chúng ta hiểu được thực sự những gì đã xảy ra; các lời truyền tụng và ghi nhớ trong các đền thờ cũng phô bày một cách rõ ràng môi trường văn hoá mà trong đó những biến cố ấy diễn tiến, hoặc là được dân chúng tạc ghi trong lòng và truyền lại cho con cháu. Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng vào thời ấy, sau hơn 5 thế kỷ dưới ảnh hưởng Trung Quốc, chủ đề độc lập tự chủ đã có từ thời tiền Trung Quốc vẫn mang những ý nghĩa sống còn cho dân tộc Việt.

.

bài đã đăng của Keith Weller Taylor


No Comment »

1 Pingbacks »

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)