Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn, Văn Chương Ukraine Email bài này

CÁI MŨI

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 25.03.2022

 

LTS: Bản dịch tiếng Việt được nhà văn Trần Thị NgH chuyển ngữ từ bản tiếng Anh “The Nose” của Ronald Wilks. Da Màu đã nhờ GS. Trần C. Trí so bản tiếng Anh này với nguyên tác tiếng Nga nhằm giải toả một vài khúc mắc về các chức vị trong hệ thống hành chánh thời bấy giờ. Trong khi đối chiếu hai bản Nga-Anh, GS. Trần C. Trí đã nhận thấy bản tiếng Anh có một số chỗ dịch không chính xác, và thiếu hẳn hai câu đối thoại so với nguyên bản. Dựa vào những phát giác này, nhà văn Trần Thị NgH. đã điều chỉnh và bổ sung những chi tiết mới vào bản dịch tiếng Việt. Quý bạn sẽ thấy vài điểm khác biệt giữa bản tiếng Việt của Trần Thị NgH. và bản tiếng Anh của Ronald Wilks. Đó là vì bản tiếng Việt “Cái Mũi” trên Da Màu hiện nay đã được đối chiếu kỹ với nguyên tác tiếng Nga.

Da Màu chân thành cám ơn nhà văn Trần Thị NgH. và GS. Trần C. Trí



clip_image001

1

Một việc cực kỳ quái lạ đã xảy ra ở St. Petersburg vào ngày 25 tháng Ba. Ivan Yakovlevich, một lão thợ cạo sống trên đường Voznesensky (họ của lão không còn trên bảng hiệu, và tấm bảng chỉ cho thấy hình ảnh một quý ông cằm đầy bọt xà-phòng cạo râu, cùng một dòng chữ ghi “Chúng tôi cũng nhận chích lể”, lão thợ cạo ấy, một sáng sớm tỉnh giấc, đánh hơi nghe mùi bánh mì nóng giòn. Lão ngồi dậy trong giường và nhìn thấy vợ mình, một quý bà đáng kính cũng là một tay sính cà phê có hạng, đang lấy bánh mì mới nướng ra khỏi lò.

“Hôm nay tôi không muốn cà phê đâu nhé, Praskovya Osipovna,” Ivan Yakovlevich nói, “thay vì cà-phê, tôi sẽ làm vài cái bánh mì nhỏ với củ hành.” (Chỗ này tôi cần nói rõ là Ivan Yakovlevich cũng sẽ rất thích dùng cả cà-phê, nhưng thừa biết làm gì có chuyện vừa bánh mì lại vừa cà phê vì Praskovya Osipovna sẽ chẳng ưa chi cái tính bốc đồng của lão.) “Thôi cứ để mặc xác cho lão ngốc ăn bánh mì, nhờ vậy mình có thêm một phần cà phê!” Bà Praskovya Osipovna nghĩ, thế là bà ta ném một chiếc bánh lên bàn cho chồng.

Ivan kéo áo khoác dạ trùm lên áo ngủ cho có vẻ tươm tất, ngồi vào bàn, rắc ra một ít muối, bóc vỏ hai củ hành, cầm lấy một con dao, rồi với vẻ mặt cả quyết lão bắt đầu cắt một trong mấy ổ bánh mì nhỏ.

Khi xẻ ổ bánh ra làm hai, lão nhìn vô ruột bánh và kinh ngạc thấy có cái chi trăng trắng trong đó. Ivan cẩn thận dùng mũi dao xỉa vào vật ấy xong lấy ngón tay sờ. “Dầy khù,” lão tự nhủ. “Trời đất quỷ thần ơi, cái quái gì đây?”

Lão thò hai ngón tay vô lôi nó ra – một cái mũi!

Lão ngã ngửa ra ghế, bắt đầu dụi mắt và lại sờ nắn quanh ổ bánh mì. Đúng, rành rành là một cái mũi, không thể nhầm lẫn. Ngoài ra, cái mũi này lại trông rất quen. Mặt lão hằn lên vẻ kinh hoàng. Nhưng nỗi hoảng sợ của lão chẳng ăn thua gì so với cơn phẫn nộ của bà vợ.

“Đồ quái vật, xẻo mũi của ai ra rồi đấy?” Bà ta giận dữ la lên. “Quân vô lại, đồ bợm nhậu lưu linh lưu địa. Tôi báo cảnh sát đây. Đồ đầu trộm đuôi cướp. Nghĩ lại, tôi nhớ có nghe ba khách hàng nói là hễ mỗi lần họ đến để cạo gọt thì ông lại bắt đầu kéo mũi họ loạn cả lên, lạ là sao cái mũi cũng còn nằm trên mặt họ!

Nhưng Ivan cảm thấy như mình sống không bằng chết. Lão biết cái mũi đó là của một người, không ai khác hơn là Kovalyov, giám định viên đại học, người mà lão đã phục vụ cạo gọt vào những ngày thứ Tư và Chủ nhật.

“Chờ chút Praskovya. Tôi sẽ gói nó lại trong một miếng vải rồi quẳng nó vô hốc kẹt. Để nó nằm đấy ít lâu sẽ tìm cách tống nó đi.”

“Tôi không thèm biết ông sẽ làm gì với nó. Bộ ông nghĩ tôi cứ để cho cái mũi bị xẻo nằm lây lất trong phòng ngủ của tôi hử…đồ ngu. Tối ngày cứ lo mài liếc lưỡi dao cạo hung tàn của mình để rồi làm hỏng bét mọi thứ. Tưởng tôi sẽ bao che cho ông thoát cảnh sát ư? Đồ heo thúi! Đồ óc bã đậu! Mang nó ra khỏi đây ngay! Muốn làm gì nó thì làm đi, nhưng tôi không muốn cái vật đó còn dây dưa ở đây thêm một phút nào nữa.”

Ivan Yakovlevich cảm thấy quá sốc. Lão nghĩ tới nghĩ lui mà không biết phải giải quyết ra sao.

Cuối cùng lão vừa gãi tai vừa nói, “tôi mà có biết chuyện gì xảy ra thì cho tôi chết đi. Không thể nói chắc tôi có say xỉn khi về nhà tối qua chăng. Tôi chỉ biết là chuyện này điên quá đi mất. Bánh mì thì được nướng trong lò, chẳng lẽ mũi cũng được đưa vào lò bánh mì để nướng? Chịu, không thể hiểu đầu cua tai nheo ra sao!…”

Chợt Ivan Yakovlevich im bặt. Nghĩ đến việc cảnh sát có thể đến lục soát chỗ này, tìm thấy cái mũi và sau đó buộc tội mình, lão gần như quẫn trí. Chưa chi lão đã hình dung cái cổ áo màu đỏ thẫm có thêu thùa đẹp đẽ bằng chỉ bạc, và cái lưỡi gươm đó…thế là lão bắt đầu run bắn cả người. Cuối cùng lão xỏ chân vào cái quần cũ nhàu nhượi, mang đôi giày tả tơi rồi trong tiếng chửi rủa của Praskovya Osipovna lải nhải bên tai, lão đi ra đường mang theo cái mũi được gói trong một miếng vải.

Lão chỉ muốn quẳng nó đi đâu đó, hoặc giấu nó giữa hai viên đá lát đường, cạnh cửa ra vào nhà ai đấy, hoặc “vô tình” đánh rơi để cho nó tuột xuống đường. Nhưng làm như cái số xui hay sao, lão cứ va vào bạn bè người quen khiến họ hỏi mãi: “Ủa đi đâu vậy?” hoặc “Đi cạo mặt cạo mày cho khách giờ này hơi bị sớm quá phải không?” Kết quả là lão chẳng có cơ hội để thoát của nợ. Có một lần lão cố ý đánh rơi nó nhưng một viên cảnh sát lại chĩa cây dùi cui vào cái gói và nói: “Nhặt nó lên kìa! Bộ không biết mình làm rơi đồ à?” Thế là Ivan Yakovlevich đành nhặt nó lên giấu vào túi. Lão bấn lên vì tuyệt vọng, nhất là khi phố sá ngày càng đông và hàng quán bắt đầu mở cửa.

Lão quyết định đi về phía cầu St. Isaac để xem liệu có thể quẳng nó xuống sông Neva mà chẳng ai nhìn thấy chăng. Đến đây tôi thật có lỗi vì đã không nói cho độc giả biết đôi điều về Ivan Yakovlevich, một con người đáng được quý vị kính trọng trong nhiều cách thức.

Ivan Yakovlevich, như bất cứ một người Nga lương thiện nào có công ăn việc làm, là một bợm nhậu đáng sợ. Và mặc dù cả ngày làm công việc cạo râu cho thiên hạ, lão không bao giờ rớ tới râu tóc của mình. Áo khoác dạ của lão (Ivan Yakovlevich không bao giờ dùng áo khoác ngoài) có thể được ví như bộ lông của một con chó đốm: có nghĩa là áo thì đen nhưng lỗ chỗ khắp nơi là nhưng đốm vàng nâu và xám. Cổ áo sáng sạch nhưng có thò ra vài cọng chỉ lòng thòng cho biết trước đây đã từng có mấy cái cúc ở đấy. Ivan Yakovlevich có tính phớt tỉnh, và khi ông Kovalyov giám định viên nói “Tay của anh lúc nào cũng hôi rình” trong lúc ông ta đang được cạo râu, thì Ivan Yakovlevich sẽ hỏi: “Sao lại hôi chứ?” Giám định viên thường trả lời: “Chớ có hỏi tôi, anh bạn thiết ạ. Tôi chỉ biết là nó hôi thôi.” Ivan Yakovlevich sẽ đáp lại bằng cách nhón lấy một nhúm thuốc lá bột và rồi như để trả thù, thoa khắp hai bên má, dưới mũi, sau hai vành tai và bên dưới bộ râu của ông ta – nói tóm lại, bất cứ nơi nào mà lão cảm thấy cần xát xà phòng.

Giờ thì công dân đáng kính của chúng ta đã đến cầu Isaac. Trước hết lão nhìn kỹ xung quanh. Rồi nghiêng người qua thành cầu giả vờ như đang nhìn xuống sông xem có nhiều cá dưới đó chăng, kế đến lão lén lút ném cái gói xuống nước. Lão cảm thấy như mấy trăm cân nặng chịch vừa được trút khỏi vai, thậm chí lão còn nhoẻn miệng cười nữa.

Thay vì đi tiếp để làm công việc cạo gọt cho các cán bộ viên chức, lão nhắm hướng cửa hàng có bảng hiệu “Thức ăn nóng sốt và trà nóng hổi” để làm một ly. Bất thình lình lão thấy một viên cảnh sát ở đầu cầu, trong sắc phục rất đẹp, râu ria tua tủa, nón gấp 3 góc, kè kè một thanh gươm. Lão lạnh toát cả người khi viên cảnh sát ra hiệu với lão và nói: “Tới đây, anh bạn.”

Biết phép tắc xã giao, Ivan Yakovlevich đi loạng choạng năm sáu bước đến gần và giở mũ ra chào: “Kính chúc Ngài buổi sáng tốt lành!”

“Khỏi, anh bạn. Việc gì phải gọi tôi bằng “Ngài” long trọng thế. Chỉ cần cho tôi biết lúc nãy anh làm gì trên cầu.”

“Dạ nói thật là tôi đang trên đường đến phục vụ cho một khách hàng, có dừng lại trên cầu để xem dòng nước bên dưới chảy xiết đến đâu.”

“Anh nói láo. Anh tưởng tôi có thể tin một chuyện như thế! Tốt hơn nên minh bạch ngay đi.”

“Tôi sẵn sàng cạo gọt cho ngài một tuần hai lần, hay thậm chí ba lần, mà không kêu ca gì ạ,” Ivan Yakovlevich đáp.

“Anh bạn ơi, không có chuyện đó đâu. Tôi đã có ba ông thợ cạo rất lấy làm hân hạnh được phục vụ tôi rồi. Bây giờ anh có chịu nói anh đã làm gì đằng kia không nào?”

Ivan Yakovlevich tái xanh mặt mày…Nhưng đến đây mọi thứ trở nên quá mù mịt đến nỗi thật khó nói việc gì đã xảy ra sau đó.

2

Giám định viên Kovalyov thức dậy khá sớm và lẫy môi thành tiếng “brrrr…” Ông luôn luôn làm thế mỗi khi thức dậy. Nếu hỏi tại sao, ông chịu, không thể đưa ra lý do. Ông duỗi tay duỗi chân xong sai người mang lại cho tấm gương nhỏ trên bàn để ngó qua cái mụn xuất hiện trên mũi mình đêm hôm trước, nhưng rồi trong kinh ngạc tột độ, ông nhìn thấy, thay vì cái mũi thì chẳng có gì ngoại trừ một phiến phẳng lỳ! Hoảng kinh, Kovalyov sai mang nước đến đoạn chùi mắt bằng khăn lông. Lầm sao được: cái mũi của ông ta đã biến mất. Ông bắt đầu tự ngắt véo để cầm chắc mình không đang ngủ mê mà hoàn toàn tỉnh thức. Giám định viên phóng ra khỏi giường và rung lắc toàn thân: vẫn chẳng thấy mũi đâu! Ông lệnh cho mang tới quần áo rồi vội vã phóng thẳng đến gặp vị cảnh sát trưởng.

Cũng nên nói vài lời về Kovalyov để độc giả biết ông ta thuộc loại giám định viên gì. Quý vị không thể so sánh những chuyên viên giám định có nhiệm sở nhờ nhiều thứ chứng thực được linh động chỉ định ở vùng Caucasus. Hai loại viên chức hoàn toàn khác nhau nhé. Loại trên khác với loại Giám định viên có bằng cấp qua đào tạo học hành đàng hoàng…Nhưng nước Nga là một quốc gia kỳ quái đến nỗi cho dù vượt qua được bất cứ đánh giá nào dành cho một vị giám định viên thì đó là chuyện riêng tư của mỗi vị từ Riga cho đến Kamchatka. Đối với tất cả những người có tước vị và chức vụ trong guồng máy nhà nước đều như vậy. Kovalyov là đối tượng được linh động đãi ngộ thuộc vùng Caucasus.

Ông ta được chức giám định viên chỉ mới hai năm nay thôi nên không có giây phút nào mà quên được việc đó. Để làm cho mình có vẻ quan trọng và địa vị của mình thêm nặng nề ông chẳng bao giờ tự xưng mình là giám định viên, thay vì thế lại dùng tước vị “Major”/Thiếu tá. Nếu gặp một phụ nữ bán dạo những tấm khoác trước ngực áo ông sẽ nói “Nghe đây cưng, đến gặp ta ở tư gia nhé. Căn hộ của ta nằm trên đường Sadovaya. Chỉ cần hỏi có phải Thiếu tá Kovalyov sống ở đây không, sẽ có người chỉ lối.” Nếu người phụ nữ đó có nhan sắc ông ta sẽ thì thầm một vài chỉ dẫn bí mật rồi nói “Chỉ cần hỏi thiếu tá Kovalyov nhé cưng.” Vậy thì qua câu chuyện này ta sẽ gọi ông ấy là Thiếu tá. Thiếu tá Kovalyov có thói quen hàng ngày đi dạo dọc theo đại lộ Nevsky. Cổ áo sơ mi luôn luôn sạch bong và được hồ cứng. Râu ria của ông ta thuộc loại ta thường thấy nơi các kiểm sát viên tỉnh lẻ, kiến trúc sư, bác sĩ giải phẫu quân y, những người có chút dính líu đến cảnh sát, những người có môi má hồng hào và là những tay cờ bạc lão luyện. Mớ râu ria này mọc từ giữa má lan đến tận hai lỗ mũi. Thiếu tá Kovalyov thường mang theo trong người rất nhiều huy hiệu – mang biểu tượng áo giáp hoặc có khắc chữ Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Hai, vân vân. Thiếu tá Kovalyov đã đến St Petersburg với mục đích tìm một công việc sao cho có thể duy trì cấp bậc của mình. Nếu gặp may ông ta sẽ giữ chức phó thống đốc, nhưng nếu thất bại, làm việc với tư cách thư ký hành chính trong các ban ngành của nhà nước thì cũng ổn. Thiếu tá Kovalyov không chống đối hôn nhân nếu cô dâu trị giá 200.000 rúp. Giờ thì quý vị đã có thể đánh giá nhân vật này để biết ông ấy cảm thấy như thế nào khi mà thay vì một cái mũi khá là bảnh bao với kích cỡ đâu ra đấy thì ông ta chỉ thấy một khoảnh phẳng lỳ trơn nhẵn đến phi lý.

Như thể đã chưa đủ tệ, chẳng thấy bóng dáng xe cộ nào qua lại thành ra ông ta phải cuốc bộ về nhà, vừa đi vừa co ro trong áo choàng, mặt thì che lại bằng chiếc khăn tay để thiên hạ tưởng mình đang bị chảy máu mũi. “Nhưng có lẽ mình đang nằm mơ thôi. Chứ làm gì có chuyện mình ngốc đến làm mất cả mũi chứ?” Nghĩ vậy ông ta bèn ghé tạt qua một quán cà-phê để liếc qua gương. May mà quán vắng khách, chỉ có vài nhân viên phục vụ đang quét dọn và xếp lại bàn ghế. Một vài người trong số này với ánh mắt mệt mỏi, đang bê mấy cái khay chất đầy bánh nướng nóng hổi. Các tờ nhật báo của ngày hôm trước loang lỗ vệt cà-phê nằm rải rác trên bàn ghế của quán. “Tạ ơn trời, không có ai xung quanh,” ông ta nói, “giờ mình có thể ngó qua một phát.” Ông ta rón rén bước đến gần tấm gương rồi nhìn vào! “Trời đất quỷ thần ơi? Cái quái gì thế này?” ông ta la lên, nhổ đánh toẹt xuống sàn nhà. “Phải chi có gì đó trám chỗ cái mũi, đàng này chẳng có gì sất!”

Ông bặm môi bực bội, rời khỏi quán cà-phê và nhất quyết không thèm mỉm cười hay nhìn ngó bất cứ ai, hành xử như vậy thật chẳng giống ông ta chút nào. Bất thình lình ông đứng sựng lại như trời trồng gần cửa ra vào của một ngôi nhà và nhìn thấy một việc khó tin. Một chiếc xe ngựa đậu xịch lại trước cổng. Cửa xe mở và một quý ông mặc sắc phục khom người nhảy xuống, hối hả bước lên bậc tam cấp. Kinh hoàng lẫn kinh ngạc chiếm lấy Kovalyov khi ông ta nhận ra cái mũi ngạo nghễ của chính mình! Sau khi nhìn thấy cảnh này mọi thứ bỗng trở nên hỗn loạn. Hai chân khó thể đứng vững, và dù toàn thân run bắn và nóng bừng ông vẫn quyết định bằng bất cứ giá nào cũng chờ cho đến khi cái mũi quay trở ra xe.

Khoảng hai phút sau cái mũi trở ra thật. Nó mặc sắc phục có thêu chỉ vàng, bâu áo dựng thẳng, quần da sơn dương, kiếm dắt bên hông. Nhìn cái lông đính trên nón người ta có thể biết tay này giữ chức Ủy viên Hội đồng Quốc gia. Và rõ ràng là cái mũi vừa ghé thăm ai đó. Nó nhìn phải nhìn trái rồi la to với tay đánh xe: “Đi nào!” xong leo lên xe, và thế là đi.

clip_image002





Ông Kovalyov tội nghiệp lúc này gần như mất trí. Ông không biết phải hiểu chuyện này ra làm sao. Làm thế nào mà cái mũi mới hôm qua còn chễm chệ trên mặt mình giờ đây lại có thể bách bộ loanh quanh, đi xe ngựa, lại còn mặc sắc phục nữa chứ! Ông ta chạy rượt theo chiếc xe, may mà nó chỉ đi một quãng ngắn rồi dừng lại bên ngoài thánh đường Kazan. Kovalyov hối hả chạy vào quảng trường của Thánh Đường, để mở đường vào, ông ta chen qua một đám mấy bà ăn xin – những người thường làm Kovalyov cười ngất vì cái cách họ che bít mặt mũi chỉ chừa hai con mắt. Chỉ có vài người đang cầu nguyện, những người khác đứng ở lối vào. Kovalyov cảm thấy quẫn trí quá, không có tâm trạng cầu nguyện chi cả, mắt cứ láo liên lùng sục mọi ngóc ngách để tìm cái mũi mặc sắc phục. Một lát sau ông ta nhận ra nó đang đứng cạnh một trong những bức vách dọc thánh đường. Mặt nó bị che khuất sau cổ áo cao, và nó đang say sưa cầu nguyện với vẻ thành kính.

“Cách nào hay nhất để tiếp cận nó đây?” Kovalyov nghĩ. “Xét về bộ trang phục, cái nón và ngoại hình, nó hẳn là Ủy viên Hội Đồng Quốc Gia. Nhưng quỷ thần ơi, ta mà biết là chết liền!” Ông ta cố gây chú ý bằng cách ho thành tiếng, nhưng cái mũi không hề xao lãng vẻ thành tâm lấy một giây, lại còn tiếp tục cúi lạy về phía bàn thờ.

“Thưa ngài,” Kovalyov thu hết can đảm nói, “thưa ngài…”

“Anh có việc gì thế?” cái mũi quay lại hỏi.

“Tôi không biết nói sao cho phải, thưa ngài, nhưng tôi thấy kỳ lạ quá…Ngài không biết ngài thuộc về nơi đâu ư? Và tôi đã tìm ngài ở đâu nhỉ, khắp nơi, nhưng rồi lại gặp ngài ở nhà thờ! Tôi tin chắc ngài sẽ đồng ý rằng…”

“Xin lỗi, nhưng vui lòng cho tôi biết anh đang nói gì thế? Giải thích xem nào.”

“Làm sao mà nói tách bạch đây?” Kovalyov băn khoăn. Động não thêm lần nữa, ông ta nói: “Tất nhiên ạ. Tôi, đúng ra là một Thiếu tá. Hẳn ngài cũng đồng ý với tôi rằng ở địa vị của tôi, đi tới đi lui mà không có mũi thì trông không đặng chút nào. Chẳng thà như bà già bán cam đã lột vỏ trên cầu Voskresensky đi, không sao. Do tôi đang hy vọng sớm được thăng tiến… Ngoài ra tôi cũng có quen biết một vài phu nhân thuộc giới thượng lưu: thí dụ như quý bà Chekhtaryev, Ủy viên Hội đồng Quốc gia, ngài có thể tự mà phán đoán…Tôi thật tình không biết nói sao thưa ngài. (Ông ta nhún vai khi nói câu này). Xin thứ lỗi cho tôi, nhưng ngài cần xem xét việc này như một vấn đề thuộc về danh dự và nguyên tắc. Ngài có thể tự mình thấy …”

“Tôi chẳng thấy gì cả,” cái mũi đáp. “Vui lòng đi vào trọng tâm.”

“Thưa ngài,” Kovalyov nói tiếp bằng giọng tự mãn, “tôi thực sự không hiểu ý ngài. Sự việc rõ rành rành ai cũng thấy… Trừ phi ngài muốn…Ngài không nhận ra ngài chính là cái mũi của tôi hay sao?”

Cái mũi chau mày nhìn Thiếu tá Kovalyov.

“Anh bạn ạ, anh nhầm rồi. Tôi cũng là người như ai vậy. Hơn nữa tôi không thấy giữa chúng ta có điểm nào chung. Ngó qua mấy cái cúc áo trên trang phục của anh, tôi có thể nói anh trực thuộc một ban ngành khác của nhà nước.”

Nói đến đây cái mũi quay đi và tiếp tục cầu nguyện.

Kovalyov quá bối rối đến không biết phải làm gì nghĩ gì. Đúng lúc ấy ông ta nghe tiếng sột soạt vui tai từ áo váy đính đầy ren tua của một phụ nữ, một bà cao niên, đang đến gần, đi cùng là một thiếu nữ dáng thanh mảnh vừa vặn trong chiếc đầm trắng làm tôn lên dáng người thon thả, đầu đội nón màu vàng nhạt trông nhẹ tênh như một chiếc bánh ngọt. Một người hầu râu ria xồm xoàm, trông như có đến nửa tá bâu áo quanh cổ, đứng phía sau hai nguời phụ nữ, tay mở nắp một hộp thuốc lá. Kovalyov đến gần, kéo cao bâu áo, chỉnh lại mấy cái huy hiệu treo tòng teng ở dây đồng hồ quả quýt, miệng cười toe toét, mắt hướng về cô thiến nữ thanh mảnh lúc này đang cúi đầu cầu nguyện như một đóa hoa xuân, bàn tay trắng nhỏ với những ngón thon gần như trong veo không ngớt đưa lên trán. Nụ cười của Kovalyov càng rộng huỵch khi nhìn thấy bên dưới vành nón của nàng là một chiếc cằm tròn trịa nhỏ xinh có màu trắng sáng và đôi má phơn phớt ửng sắc đóa hồng đầu tiên của mùa xuân.

Nhưng ông ta thình lình nhảy lui như bị phỏng lửa, sực nhớ ra thay vì có mũi thì mình chẳng có gì sất, thế là nước mắt trào ra. Ông ngoái lại định nói toẹt ra với cái mũi mặc sắc phục rằng chẳng qua đây chỉ là trò chơi cải trang thành Ủy viên Hội đồng Quốc gia mà thôi, rằng nó chỉ là một kẻ lừa đảo, một tên du thủ du thực, và thật ra chuyện này không gì khác hơn là vấn đề tài sản riêng tư của ông, cái mũi…Nhưng cái mũi đã mất dạng, nó đã thừa cơ lẻn đi mà không ai thấy, chắc lại viếng thăm ai đó.

Điều này khiến Kovalyov hoàn toàn tuyệt vọng. Ông ta bước ra ngoài và đứng tần ngần khoảng dăm phút dưới hàng cột, cẩn trọng đưa mắt nhìn quanh với hy vọng nhìn thấy cái mũi. Ông ta nhớ rất rõ là nó đội cái nón trên có cắm lông và mặc sắc phục có thêu chỉ vàng. Nhưng lại không để ý xem cái áo khoác của nó như thế nào và xe ngựa nó đi có màu gì, với lại mấy con ngựa kéo xe nữa, và có hay chăng một người hầu mặc đồng phục gia nhân ngồi phía sau. Ngoài ra, có quá nhiều xe ngựa dập dìu tới lui nhưng lại di chuyển quá nhanh thành ra khó mà nhận ra chiếc nào là chiếc nào, dẫu có nhận ra cũng không cách chi bắt nó dừng lại được.

Hôm ấy là một ngày chủ nhật đầy nắng. Đại lộ Nevsky chật như nêm. Một dòng người chảy như thác dọc lề đường từ Tổng Nha Cảnh Sát xuống đến cầu Anichkov. Cách đó không xa ông ta nhìn thấy Cố vấn Tòa Án mà ông gọi là Trung tá, nhất là những lúc xung quanh có nhiều người. Gần đấy có Yaygin Thư ký Thượng viện, một người bạn thân của ông, luôn thua bài khi chiếu bài có tám người chơi. Một vị thiếu tá khác, giám định viên, thuộc đối tượng được linh động đãi ngộ vùng Caucasus, vẫy tay rủ ông ta đến tán gẫu.

“Thôi dẹp đi!” Kovalyov vừa nói vừa vẫy một chiếc xe ngựa. “Bác tài, đưa ta đến nhà Cảnh sát trưởng.”

Ông ta trèo lên xe rồi quát: “Chạy hết tốc lực nhe!”

“Ông cảnh sát trưởng có nhà không,” ông vừa hỏi vừa bước vào tiền sảnh.

Người gác cửa nói: “Ngài ấy không có ở đây, thưa ông, đã rời đi vài phút trước rồi ạ.”

“Chà hôm nay ta xui thật”

“Vâng,” người gác cửa nói thêm, “ông chỉ trễ chút xíu thôi, sớm hơn một phút thì ông đã kịp gặp ngài ấy rồi.”

Khăn mùi-xoa vẫn còn bịt mặt, Kovalyov lại trèo lên xe ngựa bốn bánh rồi la to bằng một giọng vô vọng: “Đi nào.”

“Đi đâu ạ?” người đánh xe hỏi.

“Đi thẳng.”

“Đi thẳng? Nhưng đây là ngõ cụt – chỉ có thể quẹo phải hoặc quẹo trái.”

Câu hỏi của người đánh xe khiến Kovalyov khựng lại và suy nghĩ. Ở địa vị của mình, tốt hơn hết nên đi thẳng đến Cơ Quan An Ninh Thành Phố trước cái đã, không phải vì nơi này trực tiếp liên đới với cảnh sát mà vì đó là nơi giải quyết mọi sự vụ nhanh chóng hơn bất cứ ban phòng nào của nhà nước. Không lý gì mà đi thẳng đến cơ quan đầu ngành nơi cái mũi khoe là nó làm việc ở đấy, ông ta thừa biết trước là cái mũi chẳng coi thứ gì ra thể thống gì và sẽ dễ dàng thuyết phục cấp trên của nó bằng cách nói dối trắng trợn là nó chưa hề gặp Kovalyov bao giờ.

Đúng cái lúc Kovalyov suýt bảo người đánh xe đi thẳng đến Cơ Quan An Ninh, ông ta chợt nghĩ cái kẻ lừa đảo, cái tên du thủ du thực hành xử không biết xấu hổ ấy có thể đã lợi dụng sự trì trệ mà lẻn ra khỏi thành phố, và thế là mọi nỗ lực truy lùng nó sẽ trở nên vô ích, và chuyện có thể kéo nhì nhằng ra thêm cả tháng nữa, lạy Trời, mong là không phải thế. Tuy nhiên bỗng dưng mà được ơn trên khiến cho nẩy ra ý khác. Ông ta quyết định đi thẳng đến tòa báo để đăng một mục rao vặt trong đó mô tả chi tiết cái mũi, ai có tình cờ bắt gặp xin lập tức giao nộp nó cho Kovalyov, hoặc ít nhất cho ông biết phải tìm nó ở đâu. Quyết định hành động như vậy thật là thượng sách. Ông lệnh cho người đánh xe trực chỉ toà báo và trong suốt hành trình này ông liên tục dùng nắm tay đấm thùm thụp trên lưng bác tài miệng quát tháo: “Nhanh nữa, đồ ôn hoàng dịch lệ, nhanh thêm nữa coi.”

“Nhưng mà thưa ông…” người đánh xe vừa vặn lại phản đối vừa lắc đầu rồi giật dây cương con ngựa của mình, nó có bộ lông dài thậm thượt như chó Tây Ban Nha. Cuối cùng chiếc xe ngựa cũng dừng lại và Kovalyov hớt hơ hớt hải phóng vô phòng chờ, nơi một ông thư ký tóc muối tiêu mang kính, mặc áo khoác dạ cũ sì đang ngồi tại bàn làm việc, miệng cắn cây bút giữa hai hàm răng, tay đếm mớ tiền xu bằng đồng.

“Ai phụ trách mục rao vặt ở đây?” Kovalyov la to. “À quên nữa, chào quý vị, sáng nay đẹp trời quá nhỉ.”

“Chào ông,” thư ký tóc muối tiêu đáp lễ, nhướn mắt lên một giây rồi lại ngó xuống cái đống tiền cắc vương vãi đầy bàn.

“Tôi muốn đăng một mẩu rao vặt.”

“Phiền ông đợi cho một lát,” ông thư ký trả lời, một tay ghi chép con số, tay còn lại di chuyển hai hạt trượt trên bàn tính.

Một người hầu, qua trang phục gia nhân có tết dây vàng và vẻ ngoài khôn lanh, hẳn đang giúp việc cho gia đình quyền quý nào đó, đang đứng cạnh bàn, tay cầm mảnh giấy, và như để khoe mình có thể chén anh chén chú với thượng vàng hạ cám, bắt đầu râm ran:

“Tin tui đi, con chó xấu xí đó chỉ đáng giá tám mươi kopek. Tui sẽ không thèm trả hơn mười sáu kopek đâu. Nhưng bà Bá Tước bả mê nó như điếu đổ, vì thế mà bả không ngại gì trả 100 rúp cho bất cứ ai tìm thấy nó. Chỗ thành thật với nhau, tui xin nói thẳng ra là về vấn đề thị hiếu thì chẳng biết đâu mà lần. Nếu một tay chơi sành điệu trả 500 rúp, thậm chí cả ngàn cho một con chó săn hươu hoặc một con chó lông xoắn thuộc giống tốt thì tui còn hiểu được, đàng này….”

Viên thư ký già lắng nghe gã gia nhân một cách nghiêm chỉnh trong khi vẫn loay hoay tính toán từng chữ trong các mục quảng cáo. Căn phòng đông nghịt các cụ bà, nhân viên bán hàng, gác-dan, tất cả đều cầm trong tay các mẩu quảng cáo cần đưa lên báo. Trong số các mẩu này có thông tin về một người đánh xe “có hoàn cảnh tối tăm” đang tìm việc làm; một mẩu khác rao bán một xe ngựa ít dùng được mang về từ Paris năm 1814; mẩu khác giới thiệu một cô hầu gái 19 tuổi có kinh nghiệm giặt giũ, nhưng sẵn sàng nhận làm việc khác; các mẩu khác rao bán xe ngựa còn tốt, trừ một chiếc thiếu mất lò xo; một ngựa “non” đốm xám 17 tuổi; hạt giống củ cải đỏ và cải turnip hàng mới về từ Luân Đôn; một ngôi nhà miền quê với đầy đủ tiện nghi hiện đại, có cả chuồng đủ lớn để chứa hai con ngựa và một miếng đất đủ rộng để trồng cây con hoặc rừng thông. Một thông báo mời các khách hàng tiềm năng đến phòng đấu giá các loại đế giày ống cũ từ 8 đến 3 giờ chiều mỗi ngày. Gian phòng nơi tất cả những con người này chen chúc rất nhỏ và ngột ngạt. Nhưng giám định viên Kovalyov không ngửi thấy mùi gì vì cả khuôn mặt bị bịt kín – mà dù sao thì ông ấy cũng chẳng còn khứu giác vì cái mũi đã lỉnh đâu mất chỉ có Trời biết.

“Anh ơi làm ơn làm phước ghi xuống chi tiết ngay đi. Tôi thực tình không thể chờ lâu hơn,” ông ta nói, bắt đầu sốt ruột.

“Xin ông đợi cho một phút! Hai rúp bốn mươi ba kopek. Tôi gần xong rồi đây. Một rúp sáu mươi bốn kopek,” viên thư ký tóc muối tiêu vừa lầu bầu vùa giúi mấy miếng giấy nhỏ vào tay các bà cụ và gia nhân đang đứng xung quanh. Cuối cùng ông ta quay sang Kovalyov và nói: “Ông cần chi?”

“Tôi cần…” Kovalyov bắt đầu kể lể. “Có chuyện ám muội đang xảy ra, tôi chưa dám nói chắc đây là một trò đùa bẩn thỉu hay một âm mưu xấu xa. Tôi muốn anh rao thưởng hậu hĩnh cho người nào đầu tiên tìm thấy một tên vô lại…”

“Xin ông cho biết tên.”

“Sao lại cần đến tên? Tôi không thể cho anh biết. Rất nhiều người biết tôi, thí dụ như bà Palagaya Podtochin nhân viên chánh văn phòng, bà Chekhtaryev Ủy viên Hội đồng Quốc gia…họ sẽ biết ngay là ai, mà lạy Trời, mong là chuyện này không xảy ra! Chỉ cần ghi ‘thẩm định viên’ hoặc tốt hơn, ghi ‘Thiếu tá’.

“Người thất tung là nông nô của gia đình ông?”

“Nông nô của gia đình? Nếu được vậy thì tội ác chỉ nghiêm trọng có một nửa! Là cái mũi của tôi bị thất tung á!”

“Ừm… tên lạ nhỉ. Thế cái me-xừ Mũi lúc biến đi có lấy cắp nhiều thứ không?”

“Ý tôi là cái mũi của tôi. Anh không hiểu sao. Là chính cái mũi của tôi đã biến mất. Ai đó đã chơi tôi một cú quái ác”

“Nó biến đi như thế nào? Tôi không hiểu.”

“Tôi không thể cho anh biết nó biến đi như thế nào. Nhưng làm ơn hiểu cho rằng, chính trong lúc này đây cái mũi của tôi đang chu du khắp thành phố, tự xưng là Ủy viên Quốc gia. Bởi vậy tôi mới nhờ anh in giùm cái mẩu quảng cáo này thông báo ai là người đầu tiên bắt được nó xin vui lòng trả lại cho chính chủ sớm chừng nào hay chừng ấy. Anh tưởng tượng đi, thiếu mất cái phần nổi trội nhất của cơ thể thì cảm thấy ra làm sao chứ! Nếu chỉ là cái ngón chân nhỏ chút chéo thì tôi có thể mang giày vô, không ai mà không biết phải làm thế. Vào những ngày thứ năm tôi thường đến nhà bà Chekhtaryev (bà ấy là ủy viên) và bà Podtochin nhân viên chánh văn phòng – cả cô con gái nhỏ xinh đẹp của bà ta nữa. Tất cả những người này là bạn thiết của tôi, vậy hãy tưởng tượng xem…trong hoàn cảnh của tôi làm sao mà lui tới thăm viếng họ được nữa chứ?”

Viên thư ký mím chặt môi ra chiều suy nghĩ rất lung. Sau một hồi lâu im lặng, ông ta nói: “Tôi không thể nào in một mẩu quảng cáo như vậy trên báo chúng tôi.”

“Cái gì? Sao lại không thể?”

“Để tôi nói cho ông nghe. Một tờ báo có thể bị thân bại danh liệt. Nếu ai cũng báo là mất lỗ mũi, tôi không biết rồi mọi việc sẽ kết thúc ra sao. Đã có nhiều tin giả và lời đồn đãi thất thiệt bị in lên báo rồi…

“Mà sao anh lại thấy là vô lý chứ? Tôi không nghĩ thế.”

“Thì đó là do ông nghĩ. Mới tuần trước đã có một ca tương tự. Một thư ký đến đăng rao vặt giống như ông. Tốn hết 2 rúp 73 kopek chỉ để rao con chó lông xoắn màu đen của anh ta đã bỏ đi mất. Ông nghĩ xem thực sự anh ta có ý gì? Cuối cùng thì chúng tôi có trong tay một ca mạ lỵ: con chó lông xoắn mang ý nghĩa châm biếm ám chỉ một viên thủ quỹ – không nhớ anh ta thuộc bộ nào.”

“Nhưng tôi muốn đăng rao vặt về cái mũi của tôi, không phải chó lông xoắn, một thứ thân thiết với tôi không biết bao nhiêu mà nói!”

“Không, tôi không thể nhận đăng một mẩu rao vặt như vậy.”

“Nhưng tôi đã mất cái mũi!”

“Vậy ông tốt hơn nên đi bác sĩ. Tôi nghe nói có chuyên gia có thể gắn cho bất cứ cái mũi nào ông thích. Dù gì ông có vẻ thuộc típ người vui tính, thích đùa một tí cho vui.”

“Thánh thần thiên địa ơi, thề với anh là tôi nói thật. Nếu anh thực sự muốn, tôi sẽ chứng minh cho anh thấy.”

“Nếu là ông, tôi sẽ không làm thế,” viên thư ký nói tiếp, tay nhón lấy một nhúm bột thuốc lá dạng hít. “Tuy nhiên, nếu thực sự không thành vấn đề,” anh ta vừa nói thêm vừa chồm người về phía trước với tất cả hiếu kỳ, “tôi cũng không lấy làm phiền ngó qua một phát.”

Giám định viên tháo cái mùi-xoa ra.

“Ồ kỳ lạ thật! Dẹt lét, giống như một cái bánh phèng la mới ra lò. Phẳng phiu đến khó tin.”

“Còn cự nự nữa thôi! Giờ anh đã tận mắt nhìn thấy thì anh còn từ chối gì nữa. Tôi sẽ đặc biệt ghi nhớ chút ân huệ này, thật là vui được gặp anh.”

Ông Thiếu tá nghĩ một chút tâng bốc sẽ rất được việc.

“Tất nhiên in mẩu quảng cáo này không có vấn đề gì,” viên thư ký nói. “Nhưng tôi không hiểu ông được gì từ chuyện này. Nếu muốn, ông có thể biếu nó cho ai đó có năng khiếu viết lách, anh ta sẽ nặn ra một câu chuyện thuộc loại quái đản hiếm có rồi đăng nó lên tờ The Northern Bee (nói đến đây anh ta hít thêm một hơi bột thuốc lá) cho giới trẻ có dịp thưởng thức (anh ta chùi mũi). Không thì nó cũng là một cái chi đó thú vị đối với đại chúng.”

Tất cả hy vọng của giám định viên hoàn toàn tan thành mây khói. Ông ta ngó xuống cuối trang một tờ chương trình của nhà hát. Tên một nữ diễn viên có nhan sắc suýt chút nữa khiến ông ta nhoẻn miệng cười, ông cho tay vào túi để kiếm một tờ 5 rúp vì theo ý ông các viên chức cao cấp của nhà nước chỉ nên ngồi ở các hàng ghế tầng trệt. Nhưng rồi sực nhớ đến cái mũi của mình, ông biết không thể nào tính đến chuyện đi xem kịch cọt gì nữa.

Rõ ràng là đến viên thư ký cũng xúc động trước hoàn cảnh éo le của Kovalyov, anh ta nghĩ nói ra vài lời thông cảm để làm ông ấy vui lên chắc chẳng hại gì.

“Thật tình tôi lấy làm vô cùng tiếc về chuyện đã xảy ra. Làm một hơi nhé? Hít thuốc có thể chữa được chứng nhức đầu – nó cũng làm cho trong lòng thấy vui tươi hơn. Trị cả bệnh trĩ đấy.”

Vừa nói viên thư ký vừa đưa hộp thuốc lá ra mời Kovalyov, khéo léo mở bật nắp hộp nơi có đính chân dung một thiếu nữ đội nón.

Hành động vô tư vô lự thiếu suy nghĩ của viên thư ký khiến Kovalyov mất hết kiên nhẫn.

“Tôi không hiểu vì sao anh có thể đùa được trong lúc này,” ông ta nói một cách giận dữ. “Bộ anh đui hay sao mà không thấy tôi chẳng có cái dùng để ngửi? Với bột thuốc lá, anh biết anh phải làm gì. Nhìn nó tôi không thể chịu nổi, vả lại ít nhất anh cũng nên mời tôi loại hàng Pháp chứ không phải cái nhãn hiệu Berezinsky tào lao này.”

Càm ràm xong ông ta đùng đùng sải bước ra khỏi tòa báo, đi ngay đến chỗ Thanh tra Cảnh sát địa phương (một tay cuồng đồ ngọt, phòng khách chất đầy những viên đường do mấy người lái buôn biếu xén để giữ quan hệ tốt với y). Kovalyov đến đúng lúc y đang nằm duỗi người, miệng lầu bầu, “đến giờ đánh một giấc trưa hai tiếng đây.” Giám định viên của chúng ta quả đã chọn sai thời điểm để ghé thăm.

Thanh tra Cảnh sát là người bảo trợ quan trọng cho ngành nghệ thuật và công nghiệp, nhưng y mê nhất là tiền giấy do nhà nước phát hành. “Không gì tuyệt hơn tiền giấy,” y thường nói. “Nó không cần phải được nuôi ăn, chiếm rất ít chỗ và trượt vào túi ta một cách mê ly. Ngoài ra, nếu có đánh rơi nó cũng không vỡ.”

Thanh tra Cảnh sát tiếp đón Kovalyov một cách lạnh nhạt, y nói thời gian sau cơm tối không phải để điều tra, rằng thiên nhiên đã qui định phải có nghỉ ngơi sau các bữa ăn (nghe vậy giám định viên của chúng ta bèn kết luận Thanh tra Cảnh sát rất thông thạo về trí khôn loài người thời cổ đại), rằng những con người đáng kính không thể nào bị xẻo mũi, và rằng mấy tên Thiếu tá lúc nào cũng đi loanh quanh gõ cửa nhà này nhà nọ, mấy tên đó rất là tuềnh toàng về quần áo lót và có thói quen la cà những nơi ô uế nhất.

Những chuyện kín không nên nói ra này ngay lập tức khiến Kovalyov nổi dóa. Đến đây tôi cần nói rõ Kovalyov là một người cực kỳ nhậy cảm. Thiên hạ có bình luận gì về con người của ông ấy, Kovalyov chẳng lấy thế làm phiền, nhưng những bôi nhọ chĩa mũi dùi vào cấp bậc hay địa vị xã hội của ông lại là một vấn đề khác.

Theo như ông biết, người ta muốn nói gì thì nói về nhân viên cấp dưới, nhưng nếu muốn tấn công thì phải chừa ra các viên chức cao cấp của nhà nước.

Thái độ tiếp đón của viên Thanh tra khiến Kovalyov chỉ biết lắc đầu giơ hai tay lên trời, thế là ông nói bằng một giọng nghiêm túc, “Xin được thẳng thắn, sau những nhận định rất xúc phạm của ông, tôi không còn gì để nói…” đoạn bước ra ngoài. Ông ta về đến nhà và cảm thấy như đôi chân mình chẳng còn ở chỗ của nó. Trời đã sụp tối. Sau những yêu cầu không kết quả, về tới nhà mình sao thấy nó buồn thảm chán chường quá. Khi bước vào sảnh, ông thấy anh chàng gác-dan Ivan nằm trên cái ghế dài bằng da nhớp nhúa đang cố gắng phun bắn nước bọt lên trần nhà sao cho chạm vào vết cũ, lần nào cũng trúng đích. Tính hời hợt bờ chờ bợt chợt của cậu này khiến Kovalyov nổi trận lôi đình lấy nón quật cho chàng ta một phát vô trán và nói: “Đồ heo mập! Bộ không có việc gì khác hay ho hơn để làm hử?”

Ivan nhanh nhẩu chồm dậy cởi áo khoác cho Kovalyov. Mệt mỏi và ngán ngẩm, Thiếu tá vào phòng, gieo người xuống ghế bành và sau mấy lượt thở dài thở vắn ông ta thốt lên:

“Trời ơi là Trời! Ta đã làm gì để phải chịu cảnh này? Mất một cái chân hay một cánh tay cũng không tàn tệ đến thế. Thậm chí mất cả hai cái lỗ tai cũng đâu đến nỗi thê thảm như vậy. Người không có mũi thì, ông Trời biết đấy, chẳng là cá cũng chẳng là chim. Chỉ là thứ vứt đi thôi. Chẳng thà bị đứt phăng cái mũi trong chiến tranh hay trong một cuộc đấu súng tay đôi thì ít ra mình cũng có chuyện để nói về nó. Đằng này vô cớ mà mất và không thể huênh hoang về điều đó, thật không đáng đồng xu cắc bạc! Không…không thể như thế được. Cái mũi không thế cứ như vậy mà biến! Không bao giờ! Chắc là mơ ngủ thôi, hay mình đã uống phải cái loại vodka thường dùng thay nước để vuốt râu sau khi cạo: thằng Ivan ngu ngốc có thể đã đặt nó lại trong tủ.”

Để tự chứng minh mình không say rượu Thiếu tá ngắt véo mình thật mạnh đến nỗi phải kêu lên đau đớn, điều này thực sự thuyết phục rằng ông tỉnh táo và hoàn toàn làm chủ các giác quan. Ông rón rén men đến gần tấm gương và nheo mắt lại với hy vọng cái mũi tái xuất hiện đúng vị trí của nó, nhưng lập tức nhảy lùi, kêu lên: “Lại cũng trống hốc!”

Thật không thể nào hiểu nổi. Mất một cúc áo, cây muỗng bạc, đồng hồ đeo tay hoặc cái gì đại loại như thế thì còn hiểu được. Nhưng mất lỗ mũi ngay trong căn hộ của mình… Thiếu tá Kovalyov cân phân mọi chứng cứ và cho rằng giải thích hợp lý nhất chính là bà Podtochin, nhân viên chánh văn phòng, bà này muốn gả con gái của mình cho ông, chính bà ấy chứ không ai khác. Thật ra ông ta thích đeo đuổi cô gái chứ chưa hề cầu hôn. Rồi khi bà ấy đề nghị thẳng toẹt muốn trao bàn tay con gái mình cho Kovalyov thì ông lịch sự rút lui viện cớ hãy còn trai tráng và muốn cống hiến cho sự nghiệp thêm 5 năm nữa, đến lúc ấy thì ông cũng chỉ mới 42 thôi. Để trả thù, bà ta hẳn đã thuê một vài phù thủy đến cuỗm nó đi, đó là cách duy nhất cái mũi của ông có thể bị xẻo – đâu có ai đã bước vào căn hộ, lão thợ cạo Ivan Yakovlevich cạo râu cắt tóc cho ông thứ Tư tuần trước rồi, sau đó và suốt cả ngày thứ năm cái mũi vẫn còn y nguyên. Ông nhớ rành rành tất cả những điều này. Hơn nữa nếu bị xẻo mũi thì phải đau đớn lắm chứ và vết thương không thể lành lặn tức thì, trơn phẳng nhẵn nhụi như một cái bánh phèng la. Ông bắt đầu lên kế hoạch những gì cần làm: hoặc là kiện bà nhân viên chánh văn phòng về sự thiệt hại, hoặc đến gặp riêng bà ta để thẳng thừng buộc tội.

Nhưng rồi ông ta không còn tập trung suy nghĩ khi nhìn thấy ánh sáng qua khe cửa, có nghĩa là cậu gác-dan Ivan đang thắp đèn trong tiền sảnh. Chẳng bao lâu sau Ivan xuất hiện tay cầm nến đưa ra phía trước vì thế cả gian phòng sáng trưng. Phản ứng đầu tiên của Kovalyov là quơ lấy cái mùi-xoa đậy cái khoảnh trống mà mới hôm qua đây là chỗ của cái mũi để thằng ngốc không phải đứng há hốc nhìn. Ivan chưa rời đi được bao lâu thì nghe có giọng nói vọng đến từ sảnh:

“Có phải giám định viên Kovalyov sống ở đây không?”

“Xin mời vào. Thiếu tá có ở nhà đây, Kovalyov vừa nói vừa đứng bật dậy ra mở cửa.

Bước vào là một sĩ quan cảnh sát mặt mũi ngời ngời hai má phinh phính, râu ria không quá đậm cũng không quá nhạt – đúng tay cảnh sát đã đứng trên cầu Isaac hồi đầu câu chuyện.

“Ngài có phải là quý ông đã mất cái mũi?”

“Đúng, là tôi đây.”

“Tìm thấy nó rồi ạ.”

“Anh nói sao?” Thiếu tá Kovalyov reo lên. Mừng húm đến không nói nên lời. Ông ta giương to mắt nhìn viên cảnh sát, ánh nến nhảy múa trên hai má phính và đôi môi mỏng của anh ta.

“Làm thế nào mà anh tìm ra nó?”

“Lạ lắm. Chúng tôi bắt được nó khi nó sắp sửa chẩu đi trong cái xe ngựa Riga. Giấy thông hành của nó mang tên một công chức. Kỳ cục là lúc đầu tôi nhầm nó với một quý ông. May mà tôi có mang theo kính thành ra tôi thấy đó là một cái mũi. Tôi bị cận thị, nếu ngài đứng ngay trước mặt thì tôi chỉ nhận ra cái mặt thôi chứ còn mũi, râu hay gì gì thì chịu. Bà mẹ vợ của tôi cũng cùng cảnh ngộ.

Kovalyov không giữ được bình tĩnh nữa.

“Nó đâu? Tôi sẽ đi lấy nó về ngay bây giờ.”

“Ngài chớ có kích động quá thế. Tôi biết ngài rất muốn lấy lại cái mũi nên tôi có mang nó theo đây. Lạ là chính phạm trong vụ án vớ vẩn này là tay thợ cạo lừa đảo trên đường Voznesensky: lão ta hiện đang ở đồn cảnh sát. Tôi để mắt đến lão đã lâu do tay này thuộc dạng tình nghi say xỉn và trộm cắp, chỉ mới 3 ngày trước đây lão ta bị bắt quả tang đang chôm cả lô cúc áo trong một cửa hàng. Ngài sẽ thấy cái mũi của ngài vẫn còn nguyên trạng như lúc ngài mất nó.”

Viên cảnh sát thò tay vô túi lôi ra cái mũi được gói trong một miếng giấy.

“Đúng nó rồi!” Kovalyov reo lên, “không sai! Anh phải ngồi lại thưởng chút trà.”

“Rất muốn, nhưng người ta đang chờ tôi quay lại nhà tù…Giá thực phẩm đang phi mã…Bà mẹ vợ tôi đang sống chung với tôi, cùng với lũ trẻ nữa; thằng cả có vẻ đầy hứa hẹn, rất xuất sắc, nhưng chúng tôi không có điều kiện tài chính để cho nó đến trường…”

Kovalyov đoán được ý viên cảnh sát muốn gì, bèn lấy một tờ tiền giúi vào tay anh ta. Viên cảnh sát cúi chào thật thấp rồi đi ra đường, nơi ông ta khoa chân múa tay la lối một anh nông dân ngờ nghệch đánh xe bò trên đại lộ.

Khi viên cảnh sát đi rồi, giám định viên của chúng ta cảm thấy có hơi chưng hửng và mấy phút sau thì hoàn toàn tỉnh người, vui quá đi mất. Ông ta cẩn thận khum hai bàn tay nâng cái mũi lên và một lần nữa tỉ mẩn xem xét nó.

“Đúng, chính nó, đích thị là nó!” Thiếu tá Kovalyov nói, “lại còn có cả cái mụn nằm bên trái mới nhú lên hôm qua nữa chứ.” Thiếu tá gần như cười phá lên khoái trá.

Nhưng không có gì là trường tồn trên cuộc đời này. Chỉ sau một phút thôi niềm vui đã bắt đầu phai nhạt. Hai phút sau nó thoi thóp, và cuối cùng nó bị nuốt chửng bởi những cái thường nhật, chìm khuất trong đầu óc thực tiễn của chúng ta, giống như khi ta ném một hòn sỏi xuống nước, gợn sóng nhỏ sẽ dần nhòa nhập vào mặt nước phẳng lặng. Sau một hồi suy nghĩ Kovalyov cho rằng chuyện như thế đâu đã xong, còn vấn đề cho cái mũi trở lại đúng chỗ của nó nữa.

“Nếu nó không dính vô thì sao đây?”

Cảm thấy sợ hãi khôn xiết ông ta nhào tới cái bàn và kéo tấm gương lại gần hơn, lo mình sẽ đính lệch cái mũi. Hai tay ông run lẩy bẩy. Với tất cả sự cẩn trọng, ông đưa nó vào đúng vị trí. Nhưng mà hỡi ôi, nó không dính. Ông ta hơ nóng cái mũi bằng cách áp nó vào mồm hà hơi ấm cho nó, rồi lại ấn nó lên cái chỗ phẳng lì giữa hai má. Nhưng cố gắng đến mấy cái mũi vẫn không trụ lại.

“Dính lại đấy, đồ ngốc!” ông ta nói. Nhưng cái mũi giống như được làm bằng gỗ, nó rụng xuống bàn nghe đánh phạch như tiếng bần rớt. Mặt ông thiếu tá run giật. “Có lẽ mình không ghép nó vô được rồi,” ông ta sợ hãi nói. Bao nhiêu lần nỗ lực vẫn chỉ là công cốc.

Ông ta gọi Ivan bảo cậu ấy đi mời ông bác sĩ vốn đang sống ở một trong những căn hộ đẹp nhất của tầng một, trong cùng tòa nhà.

Vị bác sĩ này là một anh chàng đẹp trai, có râu mịn và đen như mực, với một cô vợ dáng vẻ tươi mát khỏe mạnh. Mỗi sáng anh ta ăn táo và chăm chút giữ cho mồm miệng sạch sẽ, súc miệng ít nhất 45 phút mỗi ngày và dùng đến 5 loại bàn chải đánh răng khác nhau. Bác sĩ đến ngay. Anh ta hỏi Kovalyov bị như vậy lâu chưa và đẩy cái cằm của ông ta ra xa rồi dùng ngón cái ấn vào vị trí của cái mũi – mạnh đến nỗi phần sau đầu của thiếu tá đập vào tường. Bác sĩ bảo ông đừng lo và yêu cầu ông đứng nhích xa khỏi bức tường, trước hết ngoẹo đầu về phía bên phải. Véo cái chỗ đã từng có mũi, bác sĩ nói: “Ừm!” xong lệnh cho Thiếu tá quay đầu sang trái và lại nói: “Ừm!” Cuối cùng bác sĩ thúc mạnh Kovalyov lần nữa khiến cái đầu ông ấy co giật như ngựa bị khám răng.

Sau khi khám tới khám lui bác sĩ lắc đầu nói: “Không hay rồi. Tốt nhất ông có như thế nào cứ để y nguyên như thế ấy không thì chỉ có làm cho tình hình tệ hơn thôi. Dĩ nhiên đính nó trở lại cũng được, tôi có thể làm cho ông không chút khó khăn. Nhưng tôi nói trước với ông nhé, sẽ trông ghê lắm đấy.”

Hay chửa? Làm sao tôi có thể cứ thế mà không có mũi?” Kovalyov nói. “Bác sĩ có làmthì vẫn không thể khiến nó tệ hơn; Trời ạ, vậy là đã đủ tệ lắm rồi. Làm sao tôi có thể đi đây đi đó như một kẻ quái đản? Tôi có quan hệ với những con người rất khả ái. Hôm nay phải có mặt ở hai buổi dạ tiệc đấy. Tôi quen biết gần như hầu hết những nhân vật tuyệt vời – bà Chekhtarzev, Ủy viên Quốc gia này, bà Podtochin, nhân viên chánh văn phòng này…à mà sau cái cách bà ấy hành xử thì tôi chẳng còn muốn dính líu gì đến bà ta nữa, trừ việc tôi nhờ cảnh sát theo dõi hành tung. Thậm chí anh chỉ cần làm cho nó dính ở đấy là ngon rồi, và nếu nó có nguy cơ rơi xuống, tôi sẽ dùng tay để giữ nó lại. Tôi không khiêu vũ, cũng là một điều hay, bất cứ cử động mạnh bạo nào cũng có thể làm cho nó sút ra. Và anh cứ yên tâm nhé, tôi không chậm chạp trong việc tỏ lòng biết ơn đâu – dĩ nhiên theo khả năng tài chính cho phép…”

Thế là bác sĩ nói, bằng cái giọng không thể gọi là to hay nhỏ, nhưng đầy vẻ thuyết phục và bắt buộc: “Tôi không bao giờ hành nghề đơn thuần chỉ vì vụ lợi. Điều đó đi ngược với quan điểm sống và luân lý nghề nghiệp của tôi. Đúng là tôi có tính phí những buổi thăm bệnh tại nhà, nhưng không đến nỗi làm buồn lòng bệnh nhân bằng cách từ chối nhận tiền của họ. Tất nhiên nếu muốn, tôi có thể gắn lại cái mũi cho ông. Nhưng xin lấy danh dự ra mà nói, nếu ông biết điều gì là tốt cho bản thân, thì sự việc sẽ rất càng tệ hại nếu tôi cố gắng thực hiện. Hãy để thiên nhiên an bày theo cách của thiên nhiên. Rửa chỗ ấy càng nhiều càng tốt bằng nước lạnh và, tin tôi đi, ông sẽ cảm thấy ổn như lúc ông hãy còn cái mũi. Về vấn đề cái mũi, cho nó vào một lọ cồn; càng tốt hơn nếu ngâm nó trong hai muỗng canh rượu vodka chua và giấm đã được đun nóng, ông sẽ kiếm được khối tiền. Nếu ông không muốn giữ nó thì tôi sẽ lấy.”

“Không! Tôi sẽ không bán nó vì cái gì cả,” Kovalyov kêu lên tuyệt vọng. “Tôi thà mất nó thêm lần nữa.”

“Vậy cho tôi xin lỗi,” bác sĩ vừa đáp vừa cúi chào cáo lui. “Tôi đã rất muốn giúp ông…ít nhất tôi cũng đã cố gắng hết sức.”

Nói xong mấy lời này bác sĩ nghiêm nghị bước ra. Kovalyov thậm chí không thèm nhìn mặt tay ấy, và choáng váng đến nỗi chỉ còn thấy hai cái cúc măng-sét trắng toát lòi ra từ cổ tay áo khoác màu đen của hắn.

Liền ngày hôm sau, trước khi đi đến cảnh sát, Kovalyov quyết định viết một lá thư cho nhân viên chánh văn phòng yêu cầu bà ta trả lại đúng chỗ thứ gì thuộc sở hữu của ông, không được chậm trễ.

Thư viết như sau:

Thưa bà Alexandra Grigoryevna,

Tôi chịu không thể hiểu nổi cách hành xử của bà. Dù vậy bà có thể tin mọi việc sẽ chẳng đi đến đâu và cầm bằng là bà không thể ép tôi cưới con gái của bà được. Ngoài ra bà có thể chắc là, về cái mũi của tôi, tôi biết tỏng vụ này từ đầu, và tôi cũng biết bà là kẻ chủ mưu chứ không ai khác. Bất thình lình nó bị tách ra khỏi vị trí đúng của nó, việc nó bay biến sau đó, việc nó cải trang như một viên chức nhà nước, rồi việc nó nguyên trạng tái xuất hiện, tất cả không gì khác ngoài tà thuật do chính bà thực hiện hoặc do những kẻ cùng làm cái nghề đó. Tôi thấy mình có nhiệm vụ cảnh báo với bà rằng nếu hôm nay cái mũi nêu trên không trở về đúng vị trí của nó, tôi buộc lòng phải nhờ đến luật sư.”

Kính chào bà,

Kẻ tôi tớ trung thành của bà,

Platon Kovalyov

Ông Kovalyov thân mến!

Cái thư của ông làm tôi choáng váng. Thành thật mà nói, tôi không bao giờ ngờ nhận được từ ông một điều tương tự, nhất là những nhận định hoàn toàn sai bét. Tôi muốn ông biết rằng nhà tôi chưa hề tiếp đón một công chức nào như ông nói, dù là có cải trang hay không. Đúng là Philip Ivanovich Potahchikov trước đây thường ghé qua. Mặc dù cậu ấy muốn cưới con gái tôi, và mặc dù cậu ấy là một quý ông rất khiêm tốn, đáng kính và có học thức, tôi không hề ban cho cậu ấy chút hy vọng nào. Và rồi ông lại đề cập đến cái mũi của ông. Hẳn ý ông cho rằng tôi muốn làm cho ông trông ngốc nghếch, có nghĩa là loại ông ra bằng một kiểu từ chối chính thức, nếu ông có ý như vậy thì tôi chỉ có thể nói tôi vô cùng ngạc nhiên vì ông đã hiểu sự việc theo cách đó, ông thừa biết cảm nhận của tôi về vấn đề này hoàn toàn khác. Nếu ông có ý muốn đường hoàng cầu hôn con gái tôi, tôi sẽ rất vui mừng chấp thuận, vì đây chính là mong muốn tôi hằng ấp ủ, tôi rất sẵn lòng và đầy hy vọng.

Trân trọng,

Alexandra Podtochin

“Không” Kovalyov nói sau khi đọc xong bức thư.” Không phải bà ta rồi. Không thể nào! Một kẻ tội lỗi không bao giờ có thể viết một bức thư như thế.” Giám định viên biết mình đang nói gì về trường hợp này vì trước đây có mấy lần ông ta được gửi đến Caucasus để thực hiện vài cuộc điều tra pháp lý. Vậy thì chuyện này làm thế quái nào mà xảy ra được chứ? Không thể hiểu đầu cua tai nheo ra sao!” ông ta vừa nói vừa buông thõng hai cánh tay.

Trong khi đó những lời đồn đại về câu chuyện kỳ quái đang lan ra khắp thủ đô, không thể nói là không có ít nhiều tô vẽ. Đúng thời điểm dân chúng đang bị ám ảnh bởi vấn đề siêu nhiên: chỉ mới đây thôi, những thí nghiệm về thuật thôi miên đã thành mốt. Ngoài ra câu chuyện về mấy cái ghế nhảy múa trên đường Konushenny vẫn còn tươi rói trong tâm trí mọi người, vì vậy không ai lấy gì làm ngạc nhiên về chuyện cái mũi của giám định viên Kovalyov tản bộ dọc theo đường Nevsky vào đúng 3 giờ mỗi trưa. Ngày nào đám đông tò mò cũng tụ tập ở đấy. Có người nói nhìn thấy nó ở tiệm Junker chuyên bán đồ cũ và thế là bên ngoài cửa hàng cứ đông nghẹt đến phải nhờ cảnh sát can thiệp.

Một nhân vật có râu, dáng vẻ khá đáng kính bán bánh ngọt (khô) bên ngoài nhà hát nhét vài băng ghế gỗ vào giữa đám đông rồi cho người ta thuê để đứng lên đó với giá 80 kopek/lần.

Một Đại tá về hưu một buổi sáng rời nhà thật sớm và sau một hồi xô đẩy đã chen vào được phía trước. Nhưng ông bực mình nhận ra thay vì cái mũi trong tủ kính thì lại là một áo sơ mi bằng len bình thường và một bức in thạch bản hình cô gái đang chỉnh lại tất da với một ông bảnh bao có râu quai nón mặc áo khoác đuôi tôm đang ngó trộm cô gái từ phía sau một cái cây – tấm hình được treo cố định chỗ ấy đã hơn mười năm. Đại tá bỏ đi cảm thấy rất giận, ông nói: “Không nên khiến cho quần chúng lầm đường lạc lối vì những câu chuyện nhố nhăng như vậy.”

Sau đó có tin đồn cho là cái mũi của thiếu tá Kovalyov không còn tản bộ dọc theo đường Nevsky nữa mà lại có thói quen dạo chơi trong công viên Tavrichesky, nó làm vậy cũng lâu rồi. Thời gian Kho Krozrov-Mirza – một ông hoàng Ba Tư hồi còn sống ở đấy đã rất kinh ngạc trước loại chuyện quái đản này. Vài sinh viên khoa giải phẫu của trường Cao đẳng tới công viên để xem. Một quý bà đáng kính rất nổi tiếng còn viết thư cho người trông coi công viên yêu cầu ông ta cho mấy đứa con của bà xem cái hiện tượng ngàn năm một thuở ấy, và nếu có thể thì nhân tiện cho chúng vài lời bình luận mang tính giáo dục và xây dựng luôn thể.

Những sự kiện như vậy đúng là phúc lành đối với đám người thường lui tới các buổi tiệc tùng, họ thích giúp vui phụ nữ, và vào thời điểm đó họ đã cạn nguồn chuyện để kể.

Vài công dân đáng kính và có lý tưởng cao cả cảm thấy lo lắng. Một quý ông phẫn nộ nói ông ta chịu không hiểu tại sao những câu chuyện bá láp ngớ ngẩn lại có thể lưu hành trong thế kỷ tiến bộ ngày nay, thái độ hoàn toàn thờ ơ của chính quyền cũng khó hiểu. Rõ ràng là cái ông này thuộc loại người thích đổ cho nhà nước trách nhiệm về mọi việc, thậm chí chịu trách nhiệm về các cuộc cãi vã hàng ngày giữa vợ chồng họ nữa. Sau đó thì… toàn thể câu chuyện vẫn chìm trong mù mịt, còn những gì xảy ra tiếp theo thì lại hoàn toàn bí ẩn.

3

Cuộc đời này toàn những điều phi lý tàn nhẫn. Đôi khi có những chuyện ta nghĩ không thể nào xảy ra: cũng cái mũi đó vốn đi lung tung mang danh Ủy viên Hội đồng Quốc Gia và gây ồn ào cả thành phố, bỗng dưng xuất hiện như thể chẳng có gì xảy ra, nằm chình ình đúng cái chỗ hồi trước, có nghĩa là giữa hai má của Thiếu tá Kovalyov. Đó là ngày 7 tháng 4. Thiếu tá thức dậy và tình cờ ngó vô gương – cái mũi kia kìa! Ông ta dùng tay nắm lấy nó như để tin chắc là nó đó – lần này thì không còn nghi ngờ gì nữa. “A ha!” Kovalyov kêu lên, và nếu thằng Ivan bước vào đúng lúc ấy, ông ta sẽ để chân trần nhảy múa tung tăng xung quanh phòng theo điệu nhạc dân gian trepak.

Ông lệnh bảo mang lại xà phòng và nước, trong khi rửa ráy ông lại nhìn vào gương; cái mũi vẫn còn đấy. Lúc lau khô mặt mũi ông lại nhìn nữa – ha, nó vẫn ở đấy!

“Ngó này Ivan, ta nghĩ ta bị nổi mụn ở mũi.”

Kovalyov nghĩ: “Trời ơi, giả sử nó đáp: ‘Chẳng những không mụn mà còn không có mũi nữa!’ Nhưng Ivan trả lời: “Mũi của ngài ổn mà, có thấy mụn gì đâu ạ.”

“Tạ ơn Trời,” Thiếu tá tự nhủ và búng tay đánh tróc.

Đúng lúc ấy lão thợ cạo Ivan Yakolevich thò đầu vào, lần này có vẻ bẽn lẽn, giống con mèo vừa bị đòn vì tội thó đi miếng mỡ.

“Trước khi bắt đầu, hai bàn tay có sạch không đấy?” Kovalyov la to từ phía đầu kia của gian phòng.

“Sạch bong ạ.”

“Láo.”

“Thề bán mạng đấy, sạch mà ngài!”

“Hừ, đưa xem nào!”

Kovalyov ngồi xuống. Ivan Yakovlevich trùm ông ta bằng khăn lông và trong nháy mắt đã biến bộ râu và một phần của hai má ông ta thành một loại kem phục vụ tại các bữa tiệc mừng ngày Lễ Bổn Mạng của lái buôn

“Hừ, mình tiêu rồi,” Ivan Yakovlevich lầm bầm với chính mình, mắt ngó chăm chăm cái mũi. Lão bẻ nghiêng đầu Kovalov sang một bên để nhìn ông ta từ góc độ khác, “Ổn cả! Hết ý…” ông ta nói tiếp và săm soi cái mũi một lúc lâu. Cuối cùng, một cách vô cùng nhẹ nhàng và với tất cả sự tinh tế mà quý vị độc giả có thể hình dung, lão ấy dùng hai ngón tay để giữ chóp mũi. Đó là cái cách Ivan Yakovlevich vẫn thường làm mỗi khi cạo gọt cho khách hàng của mình.

“Cẩn thận với cái mũi của ta đấy!” Kovalyov quát. Ivan Yakoovlevich buông xuôi hai cánh tay và đứng đấy, trong đời mình lão chưa bao giờ run sợ bối rối đến thế. Cuối cùng lão dùng dao cạo quào nhè nhẹ dưới cằm Kovalyov. Vì không có gì khác để làm điểm tựa, lão chỉ còn trông cậy vào cái mũi, điều này khiến cho công việc cạo gọt của lão trở nên vụng về, bằng cách tì ngón cái thô ráp nhăn nheo của mình lên má và hàm dưới thiếu tá (như một loại đòn bẩy) lão xoay xở thao tác.

Khi mọi thứ đã xong xuôi, Kovalyov vội vã thay quần áo đoạn gọi xe đi thẳng đến quán cà-phê. Chưa kịp vào hẳn bên trong ông ta đã la to, “Phục vụ đâu, mang cho ta một sô-cô-la nóng,” xong trực chỉ tấm gương. À, cái mũi của mình kia rồi! Hân hoan, ông xoay người nheo mắt khinh khỉnh nhìn hai anh quân nhân, một anh có cái mũi còn to hơn cả cúc áo khoác. Sau đó ông đi đến văn phòng Bộ trưởng nơi ông đã đệ đơn xin chức phó thống đốc. (Không được chỗ này ông sẽ thử xin một chân hành chính.) Khi băng qua lối vào, ông lại nhìn một phát vào gương: mũi mình vẫn còn y nguyên đấy!

Tiếp theo ông đi gặp một giám định viên khác (tức ‘Thiếu tá’), một tay vui tính mà Kovalyov thường phản đối những đào bới lén lút của hắn ta bằng cách nói: “Giờ tôi quen với mấy lời châm biếm của cụ rồi, chỉ trích gia ạ!” Trên đường đến đấy ông ta đã nghĩ: “Nếu tay Thiếu tá không phá ra cười lăn cười bò thì chắc chắn mọi việc đã đâu vào đấy.” Nhưng ông giám định viên đã không đưa ra nhận định nào. “Chà, vậy là ổn quá rồi!” Kovalyov nghĩ. Trên đường ông ta gặp bà Podtochin, nhân vên chánh văn phòng, đi cùng với cô con gái. Họ đáp lại cái cúi chào của ông với vẻ rạng rỡ: Kovalyov thực sự không còn phải chịu đựng vết thương lòng dây dưa nữa. Ông trò chuyện huyên thuyên với hai mẹ con họ, thận trọng lấy ra hộp thuốc lá hít dạng bột, rồi đứng đấy thật lâu, kênh kiệu nhồi đầy thuốc vào hai lỗ mũi rồi thì thầm với chính mình: “Vụ này sẽ dạy cho mấy người một bài học, đồ gà mái già! Đừng phiền nhé, ta sẽ không thèm lấy con gái của mấy người, đơn giản chỉ vì tình, như người ta thường nói.”

Thế là từ đó trở đi thiếu tá Kovalyov có thể rảo bước trên đại lộ Nevsky, đi xem kịch, hay bất cứ nơi đâu như thể hoàn toàn không có chi xảy ra. Như thể không có chi đã xảy ra, cái mũi của ông vẫn cứ chễm chệ giữa hai má và không có dấu hiệu gì cho thấy nó sẽ lại lẻn đi chơi. Từ đó tinh thần ông lúc nào cũng phấn chấn, miệng luôn mỉm cười, vẫn cứ tán tỉnh gái xinh, và có lần còn ghé vô một cửa hàng nhỏ ở Gostiny Dvor để mua mua một cái phù hiệu, chẳng hiểu vì sao nữa, bởi lẽ ông ta chưa bao giờ được chính thức cấp cho bất cứ loại phù hiệu nào cả.

Tất cả những cái này xảy ra ở thủ đô phía Bắc của một đế chế sừng sỏ! Suy đi nghĩ lại chúng ta thấy có quá nhiều thứ mơ hồ trong câu chuyện này. Ngoại trừ việc cái mũi vô phương biến mất một cách kỳ quái rồi tái xuất hiện khắp nơi trong thành phố trong trang phục một Ủy viên Hội đồng Quốc gia, còn thì là thật khó tin khi Kovalyov khờ khạo nghĩ rằng tòa báo sẽ đồng ý đăng mục rao vặt về cái mũi của ông ấy. Ý tôi không phải nói đăng thứ đó thì mắc mỏ và phí tiền phí của: không phải vậy, hơn nữa tôi không nghĩ mình là một kẻ chỉ nghĩ đến tiền. Nhưng kỳ quái quá đi, chẳng có lý gì cả, chuyện này khiến tôi thấy thật khó xử! Rồi nghĩ mà xem, làm thế quái nào mà cái mũi lại có thể xuất hiện trong một ổ bánh mì chứ, rồi làm thế nào mà Ivan Yakovlevich đã…. Không! Tôi chẳng hiểu tí tẹo nào. Nhưng điều kỳ cục và khó tin nhất là làm sao các nhà văn lại có thể viết ra những thứ như vậy. Phải thú nhận việc này vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi. Nó chỉ là…là…thôi, tôi chịu! Trước hết nó chẳng ích lợi gì cho đất nước. Thứ hai, …chẳng biết nó có lợi cho ai. Tuy nhiên vì mọi chuyện đã xong xuôi hết rồi, ta có thể thừa nhận điều này hoặc điều khác và quý vị thậm chí có thể tìm thấy…ừm…quý vị không tìm thấy nhiều những thứ không phi lý, có phải không?

Tuy nhiên nếu quý vị dừng lại để trầm ngâm giây lát, vẫn thấy có một chút sự thật trong câu chuyện. Quý vị muốn nói gì thì nói, những chuyện này có xảy ra – hiếm thôi, nhưng tôi phải thừa nhận là nó có xảy ra đấy.

 

Trần Thị NgH chuyển ngữ từ bản tiếng Anh “The Nose” của Ronald Wilks

 




clip_image004 chân dung Nikolai V. Gogol, tác phẩm của Fyodor Moller (1840)



Nikolai Vasilyevich Gogol (1809-1852), văn sĩ, kịch tác gia, phê bình gia, thi sĩ, tên thật Mykola Vasylovich Gogol-Yanovsky, sinh quán tại Poltava, Ukraine (thời đó là vùng Tiểu Nga, đế quốc Nga). Chủ đề sáng tác: hiện thực huyền ảo, châm biếm, siêu thực.

Tác phẩm tiêu biểu:

– Evenings on a farm near Dikanka/ Những Buổi Chiều Trong Thôn Trang Gần Dikanka

– The government inspector/Quan Khâm Sai

– The overcoat/Chiếc Áo Khoác

– Dead souls/Những Linh Hồn Chết

Hình ảnh thôn quê Ukraine, màu sắc thôn dã và những tập tục của dân Cossack, những câu chuyện dân gian đã góp phần làm bối cảnh cho thời niên thiếu của Gogol và là chất liệu cho những truyện ngắn trong tập Vechera na khutore bliz Dikanki (Những Buổi Chiều Trong Thôn Trang Gần Dikanka). Tập truyện là sự pha trộn giữa hiện thực và những chi tiết hoang tưởng, phù thủy, các yếu tố ma quỷ trong truyền thuyết dân gian. Tuy viết bằng tiếng Nga, Gogol đã đưa vào truyện nhiều từ vựng và cách diễn đạt của ngôn ngữ Ukraine.

Với phong cách riêng biệt; tác phẩm của Gogol là một luồng gió mới mẻ thổi vào văn chương Nga lúc bấy giờ, tách biệt ông khỏi khuynh hướng chung của Leo Tolstoy, Ivan Turgenev, Ivan Goncharov. Người đánh giá cao tài năng của Gogol là Fyodor Dostoyevsky. Khi nói về truyện Chiếc Áo Khoác, Dostoyevsky đã nhận định: “tất cả những nhà văn hiện thực Nga đều xuất thân từ chiếc áo khoác vĩ đại của Gogol.”

Suốt thế kỷ 20, dưới chính sách đồng hoá hiểm độc của chính quyền Nga Xô-viết, Gogol và những tên tuổi lớn của Ukraine như Taras Shevchenko, Mikhail Bulgakov, Isaac Babel.. bị lầm tưởng là nhà văn Nga vì các tác phẩm của họ viết bằng tiếng Nga. Nhưng “Không phải tất cả những gì viết bằng tiếng Nga đều thuộc về văn chương Nga, hoặc thuộc về (nước) Nga. Những nhà văn Ukraine viết tiếng Nga không viết về người Nga mà về người Ukraine.” (Andrey Kurkov)

 

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)