Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Chiếc Ly Vỡ

“Tôi nức nở giữa trời mưa bão”
Trần Dần

 

 

Ngọn gió quất vào mặt Thạch như thể những đường gươm lia ngang, rạch sâu xuống mặt cát. Gió quay tít trên đỉnh cao. Gió xoáy tròn dưới chân dốc. Bụi cát trộn lẫn với lá cây khô, cuốn cao mù mịt làm Thạch chóng mặt. Anh có cảm giác như mình đang dò dẫm từng bước chân xiêu lả trong thung lũng tràn bão cát, xô đẩy, va đập, dằn xé. Trước mặt anh là những lùm cỏ cao quá đầu. Những sợi dây mây vắt chồng chéo, chằng chịt che khuất cả những lối mòn. Thạch chênh vênh, nghiêng ngã. Mảnh áo bắt đầu sượt rách tơi tả. Những sợi vải màu ô liu xoe xay trong gió cát, nom hắt hiu như ngọn cờ bại trận. Tóc rối nùi, khô cứng bụi đường.

Dưới chân đồi, cánh đồng đang bắt đầu khô cháy trong những đợt bão cát thổi dồn dập. Những đường bờ ruộng chằng chéo trước mặt không đủ cao để cản ngăn những cơn gió cuồng bạo. Những cuống rạ, cây cỏ bị đè ép sát mặt đất. Thạch chênh vênh bên sườn dốc đá, đưa tay xoa xoa trên mu mắt, cố đẩy cơn buồn ngủ và sự mệt mỏi ra ngaòi cơ thể. Đoạn đường vẫn xa tít mù. Rừng núi vẫn bít bùng, vẫn tiếp tục trói chặt những bước chân bắt đầu xiêu vẹo của anh. Những giọt nước cuối cùng trong chiếc bi đông đã dốc ngược từ lâu. Cổ họng khô khốc đắng. Bụng réo cồn cào bên những hốc đá, lùm bụi ngủ vùi trong những cơn đói lả bị dựng ngược dữ dội mỗi khi có cành cây, bụi cỏ chìa ngang níu quẹt hai ống quần tơi tả. Mỗi ngày qua, mỗi bước chân lê tiếp về phía trước là nỗi hoang mang tột cùng, sợ hãi tột cùng; là sự vắt kiệt sức lực. Thạch lê bằng cả đôi chân rồi tiếp sức bằng cả đôi bàn tay run rẩy để bò, để lết trên mông quần rách toạt mà không dám ngoái nhìn lại phía sau. Chỉ mới chạm khẽ những ý nghĩ đến sợi dây xích khóa chặt chân tay, nghĩ đến chiếc lô cốt ngoài vòng rào kẽm gai, cùng những tiếng rên rỉ đứt quãng và những tiếng súng từ phía ngoài rừng lia dội vào Thạch cảm thấy như nỗi oan nghiệt chưa chịu buông tha bọn anh. Vuột được ra khỏi căn hầm chết chóc đó, anh chạy như bay như biến trong bóng tối, chạy trên bãi mìn, chạy trên những hố chông, chạy xé đường gai với một niềm hy vọng thật mong manh để níu lấy sự sống khốn cùng.

Sự khốn cùng đó đã đưa anh ra khỏi khu vực chết như một phép màu của bà tiên nhân ái, để giờ đây anh đi và bò và lếch và chân tay tóe máu, buồn như cánh đồng hiu quạnh.

Đêm dày đặc. Đêm mịt mùng cạm bẫy. Đêm leng keng tiếng kiểng đổi canh. Đêm hắt hiu và đêm truy lùng não nuột vọng theo.

Giờ phút này, sau bao nhiêu ngày đêm trốn chạy không còn nhớ, anh bắt đầu ao ước, bắt đầu hy vọng. Niềm hạnh phúc lớn nhất đối với anh là nghe được tiếng chó sủa vu vơ đâu đó, là tiếng gà te tát trên róng chuồng gia súc. Hai tai anh có vẻ như dài ra để đón nghe những âm thanh quen thuộc đã bị nhấn lút trong khói đạn bom. Nhưng không có gì hết. Duy nhất bóng tối vây phủ trùng trùng quanh anh. Những giây phút tự do Thạch vừa giành lại được có vẻ mong manh như khói, như sương, không thật.Tự dưng nước mắt anh chảy xuống, mặn chát những tủi cực, cay đắng của cuộc đời. Anh đưa tay dụi mắt, song chỉ có những cảm giác tê tê như có lần anh bóp tan đầu thuốc cháy trước mặt viên sĩ quan huấn luyện. Người ta đã ném anh như ném một xác súc vật vào cô-nét. Trọng cấm bảy ngày là bảy ngày ngụ cư nơi thiên đường bình an, nhưng đổi lại là những nhục hình ngày bốn bận, là bò là lăn, cởi quần, mặc áo y hệt chiếc máy đang quay không biết mệt mỏi, giả bộ bình thản như thể ăn cơm, uống nước. Và cũng bình thản như cả một thế hệ của anh phải gánh chịu những tai ương giáng xuống trần gian.

Cơn bão cát dịu dần. Những vì sao cố xé màn đêm và tầng bụi mờ dọi xuống yếu ớt chút sinh lực tàn kiệt. Trước mặt vẫn là những lùm cây đen đậm đặc. Bốn phương tám hướng tối thẫm trong chiếc bình nhét chặt nút, kín bưng. Đâu là xóm làng? Đâu là tiếng khóc, những khuôn mặt trẻ thơ, già nua bên tao võng? Má ơi! Con đang tìm đường về với má đây. Nỗi mong chờ nhớ thương ngút mắt. Nỗi lo sợ phập phòng. Những ảo giác về một sợi khói nấu cơm chiều bên chái bếp tranh nghèo, những âm khúc nhạt nhòa héo, nhạt nhòa tàn của chiếc ống tiêu trên lưng trâu như chuyền cảm ứng tới anh thêm sức mạnh. Thạch cố nhấc bàn chân rã rệu thả trên bờ ruộng hẹp và nghe thấy như chính những bước thả ấy rơi vào lỗ trống không. Trong khi con đường không có lối thì như sợi dây cao su kéo dài đến vô tận, vô cùng. Mắt Thạch mờ đi. Anh lả ngất trong cơn sốt chói rực vàng, rực đỏ và đen trộn lẫn.

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Nó đi từ đó tới nay những bốn năm. Mùng 5 tết, nó ôm xách lên tàu làm tôi rớt nướt mắt. Chiếc áo trắng năm cuối cùng ở đại học, đôi giày há mõm, chiếc quần ka ki sờn cũ, bạc phếch. Nó cố tạo vẻ mặt lạnh lùng, thật sắc để giấu mẹ nó. Nhưng làm sao nó có thể giấu được mẹ nó chị nhỉ? Tôi thai mang, sinh dưỡng ra nó. Tôi nuôi nấng nó từng giấc ngủ, từng củ lang củ sắn nên biết con mình hơn ai hết, biết từ khi mới hoài thai cho tới khi nó là thằng đàn ông. Hưừư… đã bốn năm rồi. Nó đi từ ngày đầu mùa xuân, có hoa nở rộ, có tiếng reo vui của đám trẻ con xúng xính quần áo mới tung tăng ngoài đường lộ. Nhưng màu trời thì xám u xám buồn – Người đàn bà chỉ nói được chừng đó. Nước mắt ràn rụa, uất nghẹn.

Chị nên giữ gìn sức khỏe.Tôi chắc sớm muộn gì nó cũng về, nhất định nó sẽ trở về với chị – Bà bạn già an ủi.

Nó về thiệt à? Có phải bước chân nó đang khua động ngoài kia không, ngoài chỗ có hàng mận nở bông trắng xóa mùa tháng tư mà nó vẫn thường hay ngồi? Nó về? Không đâu. Người ta đã bắt nó, đã ấn cây súng vào tay nó, bắt nó làm một con người khác, gớm giếc, tội lỗi. Người ta đã biến nó thành kẻ giết người. Xác nó đang vất trôi ở bờ bụi nào ấy mà. Đi bốn năm biền biệt. Không trở về, không một mẫu giấy con. Nó chết rồi. Chết thật rồi sao?

Chị đừng nghĩ bậy. Không đâu. Nó không bao giờ chết được. Nó sẽ về.

Người đàn bà chợt òa khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào bị giữ lại trong cổ họng như có bàn tay vô hình bóp chẹt, ấn xuống rồi thả ra, một động tác duy nhất liên tục. Nước mắt lăn xuống má, xuống cằm, rớt tròn xuống đôi vú lép kẹp. Người đàn bà chợt bật dậy, bước loanh quanh như kẻ bị mộng du.

Tôi biết nó chứ. Nó là con tôi khi vừa mới hoài thai. Sinh ra, da nó vàng ệch như cha nó, ông nó. Cho đến khi lớn lên thì nó lại biến thành con của người khác, không còn là con tôi. Hoàn toàn xa lạ. Nó vuột ra khỏi căn nhà, khu vườn này rồi. Người ta đưa nó đi những đâu? Ở bờ bụi hóc hẻm nào? Sao lại ác độc biến nó thành kẻ sát nhân? Chị có an ủi cũng bằng thừa. Có lẽ tôi phải cúng để nó có cái mà ăn. Tôi làm mẹ. Tôi không thể bỏ nó thành con ma đói dẫu tôi thừa biết người ta đã nhét vào miệng nó nào thịt nào cá, nào sữa nào rượu ê hề chỉ để làm một việc tàn ác duy nhất: giết người!… Mẹ thương con như tấm lòng của trời của biển mà. Những hôm trái gió trở trời, tôi tìm củ sả đập dập quẹt lên trán nó. Những đêm trở lạnh, má thức dậy đi tìm tấm màn đắp thêm cho con. Nhưng chiếc giường thì trống trơn. Má cứ ngỡ là con đi chơi rông rải đâu đó với đám bạn bè. Má ngồi đợi tới sáng, tới trưa. Chiều xuống con vẫn biệt tăm, chỉ có bóng tối thù lu trườn vào nhà, lạnh ngắt như hơi đồng, da rắn. Rồi nắng lên. Nắng trải vàng trên sân cỏ. Nắng ngã trong kẽ lá, rụng xuống nền đất thô cứng như lòng má vỡ vụn, tan ra thành từng mảnh nhỏ… Bây giờ con tôi là ai?…Là ai?…

ĐÁM ĐÔNG

Tôi quả quyết với cậu nó sẽ là vị anh hùng của phần đất này. Sống gần với nó lâu năm, tôi biết. Với mẫu người đó, tôi đoan chắc không một ai trong chúng ta có thể so sánh được. Nó như một ông tướng oai hùng thời Chiến Quốc. Một lời nói vút ra như đường gươm xé trong không.

Nào, chúng ta hãy nâng ly uống mừmg kẻ vắng mặt!

Nào, xin mời! Chúng tao trân trọng nâng ly chúc mừmg mày, thằng anh hùng!

Cả bọn ồn ào. Những chiếc cốc thủy tinh sóng sánh màu rượu hổ phách nâng cao ngang mày. Những cặp mắt nhắm tít. Những chiếc miệng há rộng như mõm con trâu nước, hở những hàm răng trắng hếu, những hàm răng vàng xỉn, chân răng đóng đầy cặn bợn. Quán thực ồn. Những tiếng ồn thô tục chối tai, nhưng không phải là tiếng ồn của đạn bom gào réo. Hoàn toàn yên tĩnh, an toàn.

Một đám khách ngồi trong góc khuất không lấy gì làm thích thú khi nhìn đám người trẻ tuổi đang huơ chân múa tay bên ngoài kia. Một người trong bọn móc bật lửa trong túi quần, xoay xoay mấy vòng trong lòng tay rồi bất ngờ ném mạnh lên bàn thành tiếng khô gọn đanh.

Mẹ kiếp, ăn với chả uống! Toa thấy thời đại này có chó đẻ không? Trâu ngựa nhảy lên làm người. Tụi trẻ con đeo râu làm người lớn. Chúng ra cái vẻ kẻ cả, anh chị bắt một điều phải thưa ông, hai điều phải bẩm ông. Luân lý. Đạo đức. Trật tự xã hội. Quyền bình đẳng và quyền loạn luân. Quyền nói phét và quyền nhét đầy túi. Bợ đõ và ca cẩm những điều không hề có trong văn hóa, lịch sử dân tộc. Một lũ ngu xuẩn, thương vay khóc mướn lập thuyết mạt vận để nhấn chìm đất nước vào vũng bùn. Thật buồn nôn. Bọn thổ tả đáng nguyền rủa… Hừ, uống đi các toa, uống để quên đi cái khốn nạn tận cùng khốn nạn của thời mạt vận!

Cũng vần những chiếc ly giơ lên. Cũng những chiếc miệng ngoác ra cùng với những chiếc lười thè dài liếm cho tận hết những giọt rượu đắng nồng.

Hày… – Một người chồm hẳn lên bàn – Toa quên mẹ nó cái áp phe của bọn mình rồi?

Đồ đĩ, sao lại quên được cơ chứ. Còn dư thời giờ, toa vội gì. Uống cái đã. Uống hết chỗ này rồi vào Chợ Lớn tìm gái. Moa nghe thằng K. mách có mấy em ca ve từ Hồng Kông vừa sang?

Coi chừng mông đít ghẻ ruồi của các em Hồng Kông!

Chỉ có mông đít không thôi thì tốt rồi.

Mẹ ơi, toa say quá rồi!

Hê… hê…ê… đừng có giỡn mặt chớ các toa. Say thế chó nào được mà say. Mình phải hành động để cho bọn trẻ biết mặt, phục lăn đám đại ca sồn sồn này mới được, không thể để bọn chúng coi thường. Nào, uống đi các toa. Cạn ly!

Sáu người đàn ông ồn ào nâng ly và cụng côm cốp và cười sặc sụa.

Ở bàn ngoài, đám thanh niên liếc nhìn vào, ném những cái nhìn, những nụ cười khẩy tỏ vẻ khinh bỉ. Một cái giọng nhừa nhựa, cố làm ra vẻ tỉnh táo, bắt đầu phều phào.

Tiên sư bố chúng nó. Các cậu có nhận thấy tụi già bây giờ bắt đầu trở chứng, hư đốn không nào? Chúng hắn là tụi đĩ bợm, lừa phỉnh vậy mà mở miệng ra nào là đạo đức, là tôn ti trật tự. Cả thế hệ mình bơ vơ, cơ cực cũng tại do bọn người khốn nạn đó đó.

Nhưng cậu nhắc đến để làm gì mới được cơ chứ? Kết án và chỉ trích bàng mồm thét đâm ra nhàm. Không lẽ đi thanh toán hết cả cái đám già cọm, sệu sạo ấy? Mà cậu có can đảm cầm dao giết ông già cậu không đã?

Nếu thấy câ…ầ ần… – Gã thanh niên có khuôn mặt phì nộn nói và gục mặt xuống bàn kêu đánh cộp.

Ê, cậu làm cái con khỉ gì vậy?

Kệ mẹ nó.

Còn cậu, cậu làm thực?

Thực cái gì?

Đồ khỉ. Thôi được, cậu chạy giùm mình cái giấy đó chưa?

Giấy nào?

Trời đất! Cậu nhớ mình đã ba lần đưa cậu đi nhà hàng rồi đó nhé

A, rồi. Xin lỗi, thằng cha khốn nạn đó đòi chẵn một tê.

Mẹ kiếp, mắc thế. Đào đâu ra bây giờ?

Môt triệu quẳng ra để đổi lấy mạng sống. Dĩ nhiên cậu thích được gần vợ con hơn là phải ra mặt trận?

Chúng mày cứ cãi nhau ỏm tỏi. Vất. Nào chúng ta hãy nâng ly uống mừng kẻ vắng mặt.

Một triệu chưa thấm tháp vào đâu so với thời vận mạt này. Hay là cậu cũng thích ra mặt trận đội bom như những người hùng? Ôi chào, yên vị trong cái thành phố bình yên này vẫn là mơ ước của hàng ngàn người.

Chưa chắc ai hơn ai đâu nhé – Gã phì nộn vung nắm tay chưa lên khỏi mặt bàn và bắt đầu nôn ọe. Chiếc bàn rung lên từng cơn với gã, cùng nôn thốc tháo với gã. Rượu thịt trộn lẫn thành màu bầm huyết heo lầy nhầy tanh.

Cậu nói giúp với lão để thư thư. Lúc này mình kẹt. Cậu biết mà.

Thì cố lên. Mình nhớ loáng thoáng câu “Dieu est un homme heureux auprès de sa femme”. Của ai nhỉ?

Xừ, ai mà nhớ nổi.

Vậy mà cũng xưng là trí thức.

Cứt. Uống đi tụi bay – Gã phì nộn cục cựa cùng với đống lầy nhầy trên bàn.

 

CĂN PHÒNG

Tấm vải trắng trên mặt nệm kéo thẳng. Người đàn bà mặc chiếc váy bằng voan trắng rất đĩ, rất gợi dục. Đôi mắt mụ khép hờ, làm như thể những sợi lông mi cong vuốt chống đỡ hai mí mắt vậy. Dáng nằm của con mụ đàn bà sắp sửa khỏa thân cùng căn phòng màu xanh nhạt, ngọn đèn ngủ lờ mờ khiến người đàn ông hơi chột dạ, hơi mất bình tĩnh. Hắn ta ngồi ké bên mép giường, tay mân mê những sợi tóc lòa xòa của con mụ đàn ba đĩ thõa. Trong thâm tâm, hắn tự thú nhận rằng hắn sẽ đến phát điên nếu con mụ này biến mất khỏi cuộc đời hắn. Hắn cũng thừa nhận trong đời chưa ai làm tình tuyệt vời như con mụ này. Đã đành mụ đẹp rực rỡ, đẹp kiêu kỳ, đẹp đến não lòng, nhưng khi đã ôm quấn lấy, hắn như nghe thênh thang một ngón đàn của người xưa vọng về theo từng những cái ve vuốt của mụ.

Hơi thở của người đàn bà thoảng qua mũi hắn, ngây ngây mùi cỏ dại và mùi của những cánh hoa tím muốt mọc trên sườn đồi, nơi hắn từng dẫn toán quân qua lại nhiều lần. Không kềm được lòng, một sự rung động theo bản năng, hắn cúi xuống hôn người đàn bà, như say như đắm, nhưng kỳ thực hắn cảm thấy toàn thân mình lạnh buốt nỗi cô đơn, lạnh buốt vật vờ và cay đắng.

Anh làm em ngộp thở – Người đàn bà xô hắn ra và nói với giọng điệu hổn hển của kẻ a tòng.

Không đâu. Anh yêu em.

Anh về được bao lâu?

Không rõ. Có thể ngay ngày mai. Có thể vĩnh viễn không bao giờ. Sẽ không còn ai có thể nhìn thấy anh nữa, kể cả em.

Sao thế nhỉ? Anh định trốn chạy à? Như vậy là anh sẽ mất một dịp tốt để gặp lại Hội.

Hội nào?

Ảnh về mang con theo ra Nha Trang cách đây hai ngày. Có thể nay mai anh ta sẽ trở lại.

Ừ nhỉ. Có vẻ như ba đứa chúng ta nặng nợ với nhau?

Và em là kẻ khó xử nhất. Em như một con điếm.

A ha… – Người đàn ông cười ngặt nghẽo – Em là con điếm của anh và của ai nữa? Đúng rồi của Hội nào đó. Và những Hội nào khác nữa?

Anh đừng đay nghiến em.

Em biết là anh yêu em, yêu con mà?

Em không biết nó là con anh hay con của Hội. Nhưng chắc chắn nó là con em. Đôi lúc em cảm thấy buồn hết sức. Đời em nó hẩm hiu quá sức tưởng tượng. Càng gắng sống, em càng cảm thấy như mình đã chết, chết một cách nhục nhã. Em chỉ mong một ngày nào đó cả ba người chúng ta sẽ cùng gặp lại nhau trong căn nhà sát biển. Anh còn nhớ nó chứ?

Vâng, anh nhớ.

Bây gờ chúng ta phải làm gì?

Anh không còn đủ tỉnh táo để biết phải làm gì. Ngoài kia bom đạn vẫn trút xuống ầm ầm. Còn ở đây tuy yên ả, nhưng bom đạn vẫn cứ ùng ục xé nát lòng anh. Không bao giờ anh là kẻ giết người em hiểu chưa?

Không ai cầu mong điều đó xảy ra.

Anh hiểu.

Hoặc là chúng ta tiếp tục tạo ra ảo tưởng để tiếp tục sốnhg một cách nhầy nhụa, hoặc phải có thái độ chọn lựa.

Em bảo chúng ta phải chọn lựa kiểu gì nữa đây, một khi chúng ta bị xô vào vũng bùn, bị đưa vào cuộc chơi đầy trí trá? một trò chơi vô bổ, vô liêm sỉ.

Nghịch cảnh thì ở đâu và chỗ nào mà chả có: anh Biên mất tích, có thể là ảnh mang theo lời hô hào của đám sinh viên vào bưng, cũng có thể chiếc xe đò chở ảnh bị nổ tan xác đâu đó ở một đoạn đường vắng.

Tội nghiệp Biên. Em đừng nhắc đến nó nữa. Anh điên mất.

Anh bình tỉnh đã nào. Cây cầu mà anh có lần bước qua cùng làng quê em đã tan nát như người ta băm rơm. Mẹ em chết vắt vẻo trên ngọn cây. Bộ anh nghĩ em bình thản với chiến tranh sao?

Anh không nghĩ thế. Điều xác tín duy nhất anh không phải là kẻ giết người.

Người đàn bà bật khóc nức nở. Đôi vai trần nõn nuột rung lên.

Người đàn ông đi đi lại lại trong căn phòng hẹp.

Họ không nói gì với nhau.

Có vẻ như họ không muốn nói gì với nhau nữa.

Cả hai chỉ kịp nghe một tiếng nổ đanh khô, chát chúa và đường máu chảy dài trên mặt nệm trắng tinh biến thành vệt đen thẫm mà sau này các tay pháp y đến ghi ghi chép chép đầy trong hồ sơ dày cộp.

 

(Gửi Má, những ngày đã qua)

(*) Trích tạp chí Chính Văn, số 1 tháng 2/1972

Chủ nhiệm: Nguyễn Mạnh Côn

Chủ bút: Trần Phong Giao

TK tòa soạn: Nguyễn Kiên Trung

bài đã đăng của Nguyễn Lệ Uyên


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

  • Thưa nhà văn Nguyễn Lệ Uyên,
    Cám ơn nhà văn đã hồi âm và đính chính một vài chi tiết về tờ bán nguyệt san Chính Văn của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Như tui có viết ở trên, tất cả chỉ dựa trên trí nhớ về một tờ báo. Thành thử, sẽ có một vài sự lẫn lộn khó tránh. Vì thời gian cũng hơn 20 năm rồi, mà tờ CV cũng chỉ là tờ báo mượn đọc của người khác trong thời gian ngắn .Thật ra, khi post ý kiến tui cũng mong là có vị nào từng đọc CV sẽ lên tiếng. Gợi lại trong tôi một kỷ niệm đáng quý về sách báo.

    Bây giờ nhà văn NLU khẳng định trong 4 số duy nhứt của CV, không có truyện ngắn nào của NMC cả. Làm tui cũng ngờ ngợ. Chi tiết thì có thể tui quên, còn truyện ngắn Hồn Hương thì khó quên được. Tui còn nhớ nhà văn NMC ở cuối truyện còn giải thích khá dài về lý thuyết “Tâm Vật Tương Quan” của ông. Ông hay dựa vào “Thuyết Tương Đối” để viết truyện như trong ” Ba người Lính Nhãy Dù Lâm Nạn ” hay “Lời Nguyện Trong Không”. Hoặc thuyết “Tâm Vật Tương Quan” do ông đề ra trong truyện Hồn Hương nói trên. Nhân vật thằng bé trong truyện sau này bị máy bay bắn lầm chết. Chết tức khắc. Nó hiện hình về với người anh hằng đêm. Cho tới khi cô bạn gái của anh nó đến nhà và trở thành người yêu của anh , thì thằng bé không còn hiện lên nữa.
    Rõ ràng ,tui đã đọc truyện HH trong 2 số báo. Hay là ở một tờ báo nào khác (?)

    Kính.

  • nguyễn Lệ Uyên says:

    Kính gửi: Black raccoon
    Xin có đôi lời thưa lại với anh (chị) Black racoon về Chính Văn và nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.
    Chính Văn là Bán nguyệt san chứ không phải là tuần báo như bạn viết. Số 1 không thấy ghi tiêu chí của báo, đến số 2 mới ghi: “Tập san của những suy tư và xúc động trẻ”, sang đến số 3 lại ghi thêm: “Bán nguyệt san của những suy tư và xúc động trẻ”. Báo chỉ phát hành có 4 số rồi tự đình bản (Số 1 ra ngày 12.7.1972 và số 4 ra ngày 31.8.1972. Đây là số báo CV cuối cùng. Chúng tôi có hỏi anh Trần Phong Giao, người gần như phụ trách toàn bộ bài vở, in ấn, phát hành, về chuyện đình bản Anh nói” “ngoài ý muốn”.
    Đã đành Nguyễn Mạnh Côn viết nhiều, những tác phẩm nổi tiếng như: Mối tình màu hoa đào, Tình cao thượng, Hòa bình nghĩ gì, làm gì… cùng nhiều truyện ngắn đọc đến chảy nước mắt: Bát canh ngỏ hẻm, Hai đứa trẻ một cây cầu… Nhưng trong 4 số CV này, Nguyễn Mạnh Côn chỉ viết những bài biên khảo như: Kinh tế và cách mạng, luận thuyêt (CV số 1, 2), Đến số 3, số đặc biệt kỷ niệm 100 ngày sinh Phan Chu Trinh, ông lại viết bài: Thử phân biệt lẽ phải trái của hai họ Phan: Phan Tây Hồ và Phan Sào Nam. Ngoài ra ông còn có bài tạp bút ở số 2 và một bài viết về sắc luật 007-72 đều ký tên Đằng Vân Hầu.
    Tuyệt nhiên, trong 4 số CV này không có truyện ngắn nào của Nguyễn Mạnh Côn cả.
    Xin thưa lại để bạn rõ và tránh sự hiểu nhầm cho độc giả trên mạng.
    Nglu.

  • Nhân nhà văn Nguyễn Lệ Uyên nhắc tới tờ Chính Văn của Nguyễn Mạnh Côn làm tui nhớ tới nhiều kỷ niệm.
    Khoảng 85,86 tui mượn được 2 số báo Chính Văn của ông dượng rễ. Ông dượng tui là dân đọc sách báo thật nhiều. Ổng có gần như trọn bộ tuần san Màn Ảnh.

    Chính Văn là tờ tuần báo. Tuần báo của những suy tư và xúc động trẻ.(Tuyên ngôn in vào trang đầu của báo). CV là một tờ báo đứng đắn và chuyên nghiệp mà tui từng đọc. Khổ báo lớn , khá dầy. Chủ đề rộng rãi , có cả bài nghiên cứu và tìm hiểu về máy điện toán xuyên phiếu IBM lúc đó. Dường như báo ra không nhiều lắm. Kén chọn độc giả.

    Tui đọc 2 số CV, thích và nhớ nhứt là truyện ngắn Hồn Hương của NMC . NMC ghi ở đầu truyện câu thơ Trung Hoa : Túc hoa hồ điệp mộng hồn hương.
    Truyện xoay quanh 3 người , chàng trai cô gái và em nhỏ em chàng trai. Họ đều là những người quê mùa chất phác. Không gian VN thời chiến tranh Việt Pháp.

    Truyện có cái không khí kỳ dị , mơ màng và hiện thực. Chàng trai nuôi đứa em vì cha mẹ đã qua đời. Nuôi từ nhỏ. Vì vậy thằng bé coi anh nó vừa là cha vừa là mẹ vừa là anh vừa là bạn. Anh nó quen cô gái cùng làng. Họ thích nhau. Còn thằng bé có cái gì đó không được vui lắm. Ngày nó đi học, chạy băng qua con đồi cát…

    Những lần hò hẹn , hai người trai gái đứng dưới bóng trăng. Nắm tay. Không nói gì nhiều. Cái ngón chân cái của cô gái chỉ ngo ngoe bấm xuống mặt cát. Như chiếc mầm non chực nhú ra khỏi cát.( Như NMC diễn tả).

    Tui nghĩ, NMC là tác giả lớn của miền Nam trước đây. Tui không rõ đã có ai viết về ông đầy đủ hay chưa. Vì ông sáng tác nhiều tác phẩm chính luận , lịch sử. Viết nhiều báo. Có nhiều truyện ngắn thật hay.
    Cũng như nhiều nhà văn viết truyện ngắn lúc bấy giờ , Truyện của NMC ghi lại cái không gian không khí của miền Nam miền Bắc. Phong phú và đa dạng. Nhân vật có nhiều người thuộc nhiều giới : bình dân, trí thức , dân quê , lính tráng , giàu , nghèo .

    Bây giờ, tui thấy người ta viết truyện thường chỉ xoay quanh nhân vật thuộc giới “có học”. Không kỷ sư , cũng bác sĩ. Không bác sĩ cũng giáo sư , thầy giáo. Chí ít cũng nghiên cứu sinh v.v…
    Tui không thấy loay hoay như vậy thì giúp ích được gì nhiều cho tác phẩm (?). Mặt nào đó , nó còn cho thấy sự hạn chế của vốn sống và nhận xét.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)