Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 24, Dịch Thuật, Song ngữ, Tiểu luận Email bài này

Có thực và khiếm khuyết


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 18.04.2007

Bài tiểu luận này đã được đăng trên Michigan Quarterly Review, chủ đề đặc biệt, Việt Nam: Sau Khung Ảnh (Vietnam: Beyond the Frame) (Fall 2004). Trước đó, bài cũng đã được đăng trên tạp chí TimeAsia với tựa đề “Loãng vào Không Khí” (“Into Thin Air”) (August 2003).

 

Có Thực và Khiếm Khuyết

 

Real and Flawed

Cuộc chuyện trò thường bắt đầu như thế này:

“Bạn đến từ Việt Nam phải không?”

“Phải.”

“Đó là một đất nước xinh đẹp. Tôi và (vợ/chồng/người yêu/bạn) đã đến đó vào (năm/tháng/tuần) trước. Thức ăn ngon đến không ngờ. Mọi người thật tử tế. Và, mọi thứ đều rất rẻ…”

“Vâng, tôi cũng đã nghe như vậy.”

“Rồi bạn có trở về lần nào chưa?”

“Chưa.”

Đôi khi tôi tiếp tục câu trả lời “chưa” của mình bằng một lời giải thích:

“Tôi vẫn chưa có (thời giờ/tiền bạc/cảm xúc chín chắn) để thực hiện chuyến đi.”

Giải thích của tôi lúc nào cũng ngắn ngọn và không bao giờ đầy đủ, nhưng các vị du khách cũng dễ dàng thỏa mãn. Họ thở phào nhẹ nhõm hơn. Sự hỗn loạn vòng quanh ánh mắt họ mờ dịu hẳn đi. Tôi nghĩ khi họ nghe câu trả lời “chưa” thẳng thắn ban đầu, họ bối rối như khi gặp phải một đứa bé người Mỹ không mảy may kích thích trước triển vọng được đi thăm công viên Disneyland. Các vị du khách tiếp tục chia sẻ cùng tôi huyền thoại phiêu lưu về chuyến nghỉ mát nơi thiên đường; về đất nước mà họ – tùy theo số tuổi – đang trải nghiệm lần đầu hoặc bằng một luồng ánh sáng mới; cảm phục con người nơi đó vì sự vị tha họ dành cho nước Mỹ hay sự cởi mở họ dành cho những gì thuộc về nước Mỹ, hoặc cả hai.

Thông thường, tôi để câu trả lời “chưa” chễm chệ giữa chúng tôi như một tảng đá, một thế đình trệ dùng để dìm đắm chữ nghĩa và trải nghiệm, hòng hướng cuộc đối thoại lệch sang một đường khác, một đất nước khác. Có thể là nước Ý chẳng hạn. Nơi đó tôi đã đến hai lần trong vòng ba năm. Hay là nước Tây Ban Nha? Tôi cũng đã từng viếng thăm nơi đó. Xứ sở xinh đẹp. Thức ăn ngon tuyệt vời. Con người thật tử tế. Và mọi thứ đều rẻ mạt.

Sự thật là nếu tôi gặp bạn tại một buổi dạ tiệc hay trên một chuyến bay, nơi chốn cuối cùng tôi muốn đến cùng bạn, qua ngôn ngữ, là Việt Nam. Bởi vì tôi thường hay bị lôi kéo đến nơi đó, một cách nhã nhặn nhưng dai đẳng, bởi những người biết rất ít về tôi nhưng lại rành rõi về đất nước nơi tôi được sinh ra và sống sáu năm đầu đời. Giờ đây tôi đã ba mươi lăm tuổi, có nghĩa là tôi đã sống hơn ba phần tư đời mình cách xa xứ sở hình chữ S mà tôi cưu mang như một hình xâm trên da thịt.

Nếu Việt Nam là một vết xâm, tôi thích nghĩ về nó như một chữ S căng giữa trũng sâu hai bầu ngực hoặc như dấu móc chung quanh chiếc rốn của tôi, một con rồng xanh tuyệt đẹp mà tôi đã in khắc nơi đó nhiều năm, một vết sẹo bí ẩn để cất dấu. Nhưng thật tình, Việt Nam lại là một chữ S in trên trán tôi, một lời mời gọi cho những ai muốn bình luận về vai trò tiến triển của đất nước đó trên vũ đài thế giới. Chữ S bắt đầu một cuộc đàm luận giữa công chúng. Nhưng tôi không phải là một chuyên gia về đất nước Việt Nam. Tôi biết quá ít tiếng Việt để chuyện trò bằng ngôn ngữ đó. Tôi không còn nhớ rõ lần cuối tôi chiêm bao bằng tiếng Việt – một biểu hiện xác thực nhất ngôn ngữ đó thuộc về bạn và bạn thuộc về ngôn ngữ đó. Tôi chỉ hình dung được rất mơ hồ về lịch sử của đất nước đó. Tôi càng mù tịt hơn về tình cảnh hiện tại. Tôi chưa lần nào về lại Việt Nam từ dạo tháng Tư năm 1975. Trước hết là bởi vì, tôi, nếu đã vơi phẫn nộ, thì cũng vẫn còn bị tổn thương vì chiến tranh đã được gây ra bởi chính quê hương mình. “Nội chiến” là một trong những nghịch lý trơ trẽn nhất trong Anh ngữ. Tôi tin rằng, cũng như những trận chiến khác, không ai là kẻ thắng cuộc, nhất là phe người Việt. Khác với những người Việt đang sống tại Việt Nam (nếu tôi tin lời tường thuật của các vị du khách tôi đã gặp), tôi là một di vật, không thể và không cam lòng, lãng quên dấu ấn đáng buồn này.

Hãy nhớ cho tôi không phải là một chuyên gia về đất nước Việt Nam. Tôi chỉ là một nhà văn Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ một rưỡi, người rong bán văn xuôi, người chưa sẵn sàng thực hiện chuyến trở về nơi chôn nhau cắt rốn. Tôi có thể dệt ra nhiều lời lẽ hoa mỹ về sự lựa chọn đó, nhưng quy cho cùng, lý do chính vẫn là tôi không có khả năng tha thứ và quên lãng. Sự thối nát, lòng tham lam, thèm khát quyền lực, và đàn áp thay thế tự do thành nguyên tắc chỉ đạo và mục đích; anh em cấu xé lẫn nhau; các bà mẹ sinh ra những đứa con lớn lên để làm nổ tung nhau thành trăm mảnh. Tôi phải quy lỗi cho ai đây? Da thịt và máu xương của chính mình. Nếu bạo lực vô ý nghĩa này là lịch sử của tôi, một mầm móng điên rồ ẩn náu trong gien, một khuynh hướng có thể trổi dậy bất cứ lúc nào, tôi không thiết tha trở lại đó – nơi cội nguồn.

Tôi chưa lần nào bày tỏ lòng miễn cưỡng hồi hương bằng những lời lẽ tương tự, ngay cả với các bạn Mỹ gốc Việt của mình. Nhiều người trong số họ đã trở về thăm thân nhân, chồng vợ, và với cả đoàn làm phim để thực hiện tư liệu về giây phút phấn chấn được chạm vào mặt đất mà ngày xưa đã đóng dưới mười đầu móng tay sau một ngày làm việc hay vui chơi. Trải nghiệm trở về quê hương của các bạn người Việt gốc Mỹ không bao giờ xảy ra một cách hoàn mỹ. Ánh nhìn của họ vượt qua ánh hoàng hôn đỏ sẫm trên đồng lúa, vượt qua đường viền trắng của bức tranh, đến những người nhìn lại họ bằng ánh mắt đầy ganh tỵ hoặc giận dữ. Nhiều bạn còn mách bảo tôi nên giúi tờ năm hay mười đô la vào giữa cuốn hộ chiếu để tránh khỏi bị hạch sách hay tạm lưu bởi bọn hải quan, mà dù có hộ chiếu hay không, họ cũng có thể dễ dàng nhận diện ra Việt Kiều. Khi tôi nghe điều này, tôi thiết nghĩ: cần phải hối lộ để trở lại nơi chúng ta từng trốn chạy ư? Sự châm biếm này còn nặng nề hơn thời tiết nóng bức của Saigon – giờ đây đã đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng Tư năm 2003 đánh dấu lễ tưởng niệm hai mươi tám năm, ngày người Mỹ thường nhắc đến bằng cụm từ “sụp đổ của Sài Gòn” và hồi kết thúc của cuộc chiến Việt Nam. Vào tháng Tư năm 2003, tôi theo dõi cuộc chiến Iraq trên truyền hình trong phòng khách căn hộ ở khu Brooklyn – thuộc thành phố Nữu Ước, nơi hãnh diện tự ví cho mình cái tên “thành phố tổ ấm của Hoa Kỳ.” Tôi muốn cộng thêm chữ “bom thông minh” vào danh sách những từ ngữ nghịch lý chướng tai gai mắt. Tôi khóc ròng, nhớ lại những trái bom “lạc hậu” đã làm rung chuyển ngôi nhà ở Cần Thơ, một thành phố phía nam của Sài Gòn, nằm song song với dòng sông Mê Kông. Tiếng hú the thé của thần chết bay ngang qua người và đáp xuống một thi thể khác là bài ru mà không một đứa trẻ nào nên được nghe giữa đêm khuya. Tôi nằm trong số những đứa bé may mắn. Gia đình tôi có một căn hầm trú bom có xà bằng sắt và tường bê tông dày kín để va vấp trong những đêm đen tối. Hầm trú bom hay mồ mả gia tộc? Sự khác biệt chỉ cách vài mảnh sân sau. Ký ức, nhất là từ thơ ấu và chiến tranh, có mạng lưới chọn lọc riêng biệt hòng giúp những kẻ sống sót tiếp diễn cuộc đời. Tôi không còn nhớ khuôn mặt của cha mẹ khi họ ngồi chờ đợi. Tôi không còn nhớ đôi tay nào đã bồng bế thân thể ngái ngủ của tôi ra khỏi hầm trú bom. Có lẽ vì thế mà đối với tôi, sự an toàn thường đi đôi với niềm thôi thúc phải rút vào ẩn nấp.

Từ khi tôi trở thành công dân Mỹ vào năm 1980, Hoa Kỳ đã vướng vào hai cuộc chiến tranh chính thức (chiến tranh Vùng Vịnh I và II) và một lô giao tranh khác (từ Grenada đến Afghanistan). Nhưng vì lúc ấy tôi đang chìm đắm trong vũng lầy của tuổi hai mươi, tôi phớt lờ đi cuộc Chiến Tranh Vùng Vịnh thứ nhất. Cuộc chiến Iraq, mặt khác, đã nuốt trọn lấy tôi. Tivi của tôi vặn đài CNN suốt ngày cho đến khi tôi không còn chịu nổi một giây phút ảo tưởng tối tăm nào nữa cái lối khoa trương của Wolf Blitzer và những cảnh tượng cũng khoa trương không kém của hệ thống truyền hình. Tôi có thể thấy những “tia hào quang của thượng đế” phát ra từ dòng chữ “Thử thách cuối cùng ở Iraq” (chỉ còn thiếu mỗi dấu chấm than). Rồi tôi trốn tránh bằng cách nghe đài BBC và những buổi phát sóng tương đối chừng mực hơn một chút.

Nghe tin tức cuộc chiến qua giọng tường thuật mang âm hưởng Ăng-lê sang trọng phần nào giúp tôi biệt lập những từ ngữ tuôn ra từ miệng người xướng ngôn viên, và điều đó đem về một chút an ủi. Sự khoác lác của người Mỹ, giọng nói dai đẳng kiểu máy-đánh-chữ-chạm-mặt-giấy của Wolf Blitzer không cho phép tôi quên chiến tranh là một tập đoàn Mỹ. (Tôi phân biệt ông ta bởi vì tên và họ của ông ấy vừa vặn thích hợp cho một đặc phái viên tường trình chiến sự, nhưng giọng điệu của rất nhiều rất phóng viên khác cũng toát ra âm hưởng cờ hoa sọc đỏ.) Qua các cuộc trưng cầu ý kiến, tôi được biết tôi thuộc thiểu số người Mỹ không ủng hộ chính sách Iraq của tổng thống Bush. Tôi bị tách rời khỏi biến cố ngay từ buổi đầu. Tường trình của BBC khiến cuộc chiến ngày càng lạ lẫm với tôi. Tôi nhủ thầm, cuộc chiến này không phải của mình.

Nghịch lý nằm ở chỗ trong khi tôi không cho phép mình quên lãng và tha thứ cho cuộc bùng nổ chiến tranh nơi quê nhà, tôi lại tha thiết muốn phớt lờ việc đất nước tôi nhận làm nơi nương náu đang đi theo đường lối hủy diệt tương tự. Nghe đài BBC là một thí dụ về lòng phản đối của tôi. Một vài thí dụ khác bao gồm ngồi lì ở nhà trong khi bạn bè và hàng xóm đồng tham gia các buổi đấu tranh cho hòa bình, tụ họp tràn ngập các con đường Nữu Ước. Vào tháng 4 của năm 2003, tôi ngồi trong phòng khách và ẩn nấp phía sau địa đồ kỳ quặc, nơi Brooklyn không phải quê hương tôi, nơi Hoa Kỳ không phải là nhà tôi, nơi tôi không liên tiếp đổi kênh truyền hình trong lúc mọi người đang khích động và sững sờ đến chết thay cho tôi. Nếu tôi muốn khẳng định mình không phải là một phần tử của cuộc chiến này, tôi chỉ cần nhớ lại các vị du khách, những người chỉ nhìn thấy khuôn mặt tôi đã hỏi tôi có phải “đến từ” Việt Nam. Hoặc, tôi chỉ cần nhắc nhở mình những cư xử thiếu lễ độ vẫn còn đang tiếp diễn, mà một người Mỹ gốc Việt phải cam chịu thường hằng. Năm ngoái, em gái tôi đến viếng thăm ở New York. Chúng tôi cùng đi trên chuyến metro chật ních người. Một người đàn ông trạc bốn mươi lướt qua một chỗ trống và em gái tôi ngồi xuống. Có lẽ hối hận vì hành động lịch thiệp hoặc phản xạ chậm chạp của mình, ông ta đứng bên cạnh và nhìn trừng trừng vào em gái tôi. Ông ta cúi xuống và nói “Không có chi đâu. Tôi biết là xứ sở của cô không có ghế ngồi.”

“Đó là nơi nào?” tôi yêu cầu ông ta giải thích. “Ồ, ý ông nói là Ohio à, tại vì nó được sanh ra ở nơi đó. O-HI-O!” giọng tôi phẫn nộ theo mỗi âm tiết. Em gái tôi cũng có trao đổi đôi câu với ông ta (nhưng đa phần lời của nó không thể được in lại ở đây). Bẵng đi một lúc, khi đã lấy lại bình tĩnh sau cơn thịnh nộ làm giận run cả người, nó bảo đây là lần đầu tiên có người thốt lời kỳ thị với nó. Tôi sửng sốt. Tôi còn hỏi kỹ lại em có chắc như vậy không. Nó không phân vân suy nghĩ lấy một giây. Nó trả lời bằng một câu “chắc” kiên quyết. Tôi vẫn còn bàng hoàng, nhưng trước nhất là tôi cảm thấy mừng rỡ vì em tôi đã sống hai mươi ba năm ở Ohio và nay ở Texas, mà chưa lần nào bị ai nhổ nước bọt kỳ thị lên người. Trong một phút giây ngắn ngủi, tôi nhìn em gái mình và xem nó như bằng chứng rằng Hoa Kỳ nơi tôi lớn lên, may mắn thay, đã thay đổi. Ngay sau đó, tôi nhớ lại khuôn mặt của người đàn ông và ý nghĩ đó biến mất bởi vì tôi biết điều tôi mong chưa phải là sự thật.

Chúng tôi cùng nhau đi chuyến metro, nhưng khác với tôi, em gái tôi không bao giờ cho phép ai, và hẳn nhiên kể cả chính nó, quên rằng nó sinh ra ở Hoa Kỳ. Nó là người Mỹ gốc Việt, một phần tử của nước Mỹ gốc Á, một công dân Mỹ. Cả hai chân nó cắm chặt nơi đất nước mà nó sẽ tiếp tục định nghĩa. Nó biết quê nhà là ở đâu. Tôi vẫn còn đang thất lạc giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Chuyến đi đã từ lâu trở thành quá khứ, nhưng mối xúc cảm vẫn còn mãnh liệt. Quá trình nhận diện và gắn bó với “quê nhà” cuối cùng cũng không cần đến sự quên lãng và tha thứ. Nó đòi hỏi sự thừa nhận và lòng trách nhiệm cho những hành vi gây ra bởi quê nhà đó. Những người bạn Mỹ gốc Việt của tôi – những người đã trở về Việt Nam – tạo cho chính mình cơ hội để thực hiện điều đó. Trở về là một hành động dối diện với hậu quả do chiến tranh gây ra (sự thừa nhận) và để làm nhân chứng cho một cuộc sống đang không ngừng tiếp diễn (lòng trách nhiệm). Sự chọn lựa không trở về của tôi cũng có hậu quả. Việt Nam, đối với tôi, không phải là quê nhà mà chỉ là một vết xâm hình con rồng xanh đâu đó trên thân thể tôi, trừu tượng và lặng lẽ.

Vào tháng 4 năm 2003 và 2004, hàng ngàn trú dân Nữu Ước – người tham dự những cuộc tranh đấu cho hòa bình – gánh trách nhiệm cho những hành vi Hoa Kỳ gây ra ở Iraq qua hành động phản đối của họ. Trong bóng ma của Tòa Tháp Đôi, họ nhắc nhở toàn quốc gia rằng cuộc giao tranh ăn miếng trả miếng không phải là một giải pháp thỏa đáng. Không được dùng tên của chúng tôi để làm điều trái ngược đó, họ lên tiếng. Tôi đã đóng góp được gì khi tôi ngồi im như khúc gỗ và nhủ thầm cuộc chiến Iraq không phải là cuộc chiến của tôi? Điều đó cũng có nghĩa, ngoại trừ bằng chứng nhận công dân và con đại bàng vàng kim trên hộ chiếu, Hoa Kỳ cũng không phải là quê nhà thật sự của tôi. Đối diện với một cuộc chiến khác, tôi lần nữa trở thành đứa trẻ sáu tuổi trong hầm trú bom. Tôi cảm thấy mình nhỏ bé, tầm thường, thiếu thốn niềm tin cậy, không giống phong cách người Mỹ chút nào. Tôi phải quy lỗi cho ai – ai đã khiến tôi có cảm giác như thế? Tôi có thể đỗ lỗi cho các vị du khách – những người nghĩ tôi thuộc về nơi họ du lịch thay vì nơi họ đang sống. Tôi có thể đỗ lỗi cho người đàn ông trên metro. Họ là chướng ngại, nhưng không phải là ngõ cụt trong hành trình tìm về của tôi.

Cuối cùng, tôi quy trọn lỗi lầm về mình khi đã không chịu công nhận những nơi chốn, có thực và khiếm khuyết, mà tôi đã bắt nguồn.

The conversation usually begins this way: “Are you from Vietnam?”

“Yes.”

“It’s such a beautiful country. My (wife/husband/significant other/friend) and I were there last (year/month/week). The food was unbelievable. The people were so nice. And everything was so cheap …”

“Um. That’s what I’ve heard.”

“So you haven’t been back?”

“No.”

Sometimes I follow up my no with an explanation: “I just haven’t had the (time/money/emotional ballast) to make the journey.”

My explanation is always brief and never adequate, but the travelers are quickly satisfied. They breathe a little easier. The lines of confusion around their eyes soften. I think, for them, hearing that initial, unvarnished no is as perplexing as encountering an American child who is not excited at the prospect of going to Disneyland. The travelers then proceed to share with me their tales of a vacation paradise: of a land that they—depending on their age—have come to see in a different light or for the first time; of a people whom they admire for a lack of anger toward America, or an openness toward all things American, or both.

More often, though, I allow my no to sit in between the travelers and me like a boulder, an impasse meant to strand words and experiences, to swerve the conversation down another road toward another country. To Italy, perhaps. That country I’ve been to twice in less than three years. Or how about Spain? I’ve visited there as well. It’s such a beautiful country. The food was unbelievable. The people were so nice. And everything was so cheap.

It’s true that if I met you at a dinner party or on a plane the last place I would want to go with you, conversationally, is Vietnam. It’s because I’m too often dragged there, politely but insistently, by people who barely know me but who know all about the country where I was born and where I had lived during the first six years of my life. I am now 35 years old, which means I have spent more than three-quarters of my life away from that S-curve stretch of land that I bear on my body like a tattoo.

If Vietnam is a tattoo, then I would prefer to think of it as an S that spans the hollow between my breasts or that hooks around my belly button, a beautiful green dragon that I placed there all those years ago, my secret scar to keep. The reality is that Vietnam is an S on my forehead, an invitation for anyone to come along and comment on that country’s evolving role on the world stage. The S is the start of a public discourse. I am, however, no Vietnam expert. I can barely hold a conversation in its language. I don’t remember the last time I dreamed in Vietnamese, the truest indicator that a language belongs to you and you to it. I have a spotty picture of the country’s history. I have even less knowledge of its present conditions. I have not been back to Vietnam since April 1975. Above all, I am, if not angered, then still pained by a war that the land of my birth waged against itself. A “civil war” is one of the most galling oxymorons in the English language. I believe, as with all wars, that no one won, least of all the Vietnamese. I am a relic, unable and unwilling, unlike many of the Vietnamese in Vietnam (if I am to believe the accounts of travelers whom I have met) to move past this sad point.

Remember, I am no Vietnam expert. I am just a one-and-a-half-generation Vietnamese-American novelist, a peddler of fiction, who has not made the archetypal journey back to the land of her birth. I can offer you flowery words about that choice, but in the end it comes down to my inability to forgive and to forget. Corruption; greed; lust for power; domination replacing freedom as a guiding principle and goal; brothers fighting brothers; mothers giving birth to children who grow up to kill one another. Whom do I accuse of these crimes? My own flesh and blood. If this useless violence is my history, a madness that lurks in my gene pool, a propensity that might again show itself, I am not eager to travel back to its—and my—place of origin.

I have never expressed my unwillingness to return to Vietnam in quite these terms, not even to my Vietnamese-American friends. Many of them have returned home with family members, spouses or even film crews to document the catharsis of touching again the soil that we once carried underneath our fingernails after a day of work or play. The experience of return for my Vietnamese-American friends has never been postcard-perfect. They see past the sunset reddening the rice paddies, past the white borders of the image, to the people who look back at them with eyes filled with anger or envy. Many of these friends have told me about the necessity of slipping a $5 or $10 bill in between the pages of their American passports in order not to be harassed and detained by the Vietnamese immigration and customs officials who can, even without the passports, easily identify a returning Viet Kieu [overseas Vietnamese]. When I heard this, I thought: a bribe to be allowed back into a country that we once fled? The irony is thicker than the Saigon—now Ho Chi Minh City—humidity.

This past April marked the 28th anniversary of what most Americans refer to as “the fall of Saigon.” This past April I watched the war in Iraq on television from my living room in Brooklyn, “America’s hometown” as this borough of the City of New York proudly proclaims itself. To the list of most offensive oxymorons I added the phrase smart bombs. I wept, remembering the remedial ones that shook my family’s house in Can Tho, a city to the south of Saigon, on the banks of the Mekong. The high-pitched whistling of death passing over you and landing on someone else’s body is a lullaby that no child should have to hear in the middle of the night. I was among the lucky ones. My family had an underground bomb shelter with steel beams and thick concrete walls to stumble into during those dark nights. Bomb shelter or family tomb? The difference was by a couple of backyards. Memory, especially from childhood and war, has a porous selectiveness that enables a survivor to go on living. I have no memory of the faces of my father and mother as they sat there waiting. I have no memory of whose arms carried my sleeping body out of the shelter. Maybe that is why safety for me is still coupled with the urge to hide myself away.

Since I became an American citizen in 1980, the U.S. has fought in two officially recognized wars (Gulf War I and II) and a slew of other engagements (from Grenada to Afghanistan). Because I was in the self-absorbed bog of my early 20s, I managed to all but ignore the first Gulf War. The latest war in Iraq, on the other hand, consumed me. My television was tuned to CNN until I couldn’t take for a night-vision moment longer the bombastic Wolf Blitzer and the network’s equally bombastic graphics. I can still see the “god rays” emanating from the words Showdown in Iraq (the only thing missing was the exclamation point). I then took refuge with the BBC and its—relatively speaking—buttoned-down broadcast.

Hearing the news of the war delivered to me in an upper-class British accent also helped distance me from the words coming out of the presenter’s mouth, and that was in a small way comforting. The American bravado, the insistent typewriter-keys-hitting-the-paper voice of Wolf Blitzer never allowed me to forget that the war was above all an American enterprise. (I single him out because his first and last names are so remarkably apropos for a war correspondent, but there were also other reporters who had the Stars and Stripes punched into their voices.) I had learned from the national polls that I belonged to a minority of Americans who did not support President George W. Bush’s policy in Iraq. I was alienated from the goings-on from the start. The BBC broadcast just made the war all that much more foreign to me. This was, I told myself, not my war.

The paradox was that though I wouldn’t allow myself to forget and to forgive my country of birth for imploding itself in an act of war, I wanted desperately to ignore that my country of refuge was taking itself down an equally destructive path. Watching the BBC was just one example of my disavowal. The others included staying at home while many of my friends and neighbors participated in the peace rallies that convened in the streets of New York City. This past April I sat in my living room and hid myself within an impossible geography where Brooklyn wasn’t my hometown, where the U.S. wasn’t my home, where I wasn’t switching television channels while people were being shocked and awed to death on my behalf. If I needed reinforcement that I was surely not a part of this war, all I had to do was remind myself of all those travelers who looked at my face and asked if I was “from” Vietnam. Or I could remind myself of the everyday discourtesy that comes with being Asian American. A few months ago my younger sister was visiting me in New York, and we were riding on a crowded subway train. A man in his late 40s passed up a seat that she then claimed. Maybe ruing his own impulsive chivalry or just his slow reaction time, the man stood next to my sister and glowered at her. She told him that he could have the seat if he wanted it. He looked down at her and said, “No, that’s alright. I know you don’t have chairs where you come from.”

“Where’s that?” I demanded of him. “You mean Ohio because that’s where she was born. O-HI-O!” my voice rising with each syllable. My sister said a couple of things to him as well (but most of the words can’t be printed here). Later, when she had calmed down from the rage that had made her entire body shake, she told me no one had ever said anything racist to her until that day. I was shocked. I asked her if she was sure. She didn’t even take a moment to think about it. She responded with a resolute yes. I was still shocked, but above all I was glad for her that she had lived her 23 years of life, in Ohio and now in Texas, without ever feeling the spit of racism on her body. For a brief moment I looked at my sister and saw her as proof that the U.S. I had grown up in had, thankfully, changed. Then I remembered the man’s face—and the thought disappeared because I knew it wasn’t true.

We were on the subway train together, but, unlike me, my sister would never allow anyone and certainly not herself to forget that she is “from” the U.S. She is Vietnamese-American, a part of Asian America, a citizen of the United States. Both of her feet are solidly planted in a country that she will continue to define. She knows where home is. But I am still lost somewhere in between Vietnam and the U.S. The physical journey was completed long ago, but the emotional one is ongoing. The process of identifying and claiming “home” ultimately doesn’t require forgetting or forgiving. It calls for an acknowledgment and then a taking of responsibility for the acts committed in the name of that home. My Vietnamese-American friends who have made the journey to Vietnam have allowed themselves the opportunity to do just that. To return is to face the aftermath of war (the acknowledgment) and to witness that life goes on (the responsibility). My choice not to return to Vietnam has its consequences. Vietnam is, for me, not a home but a green dragon tattoo somewhere on my torso, metaphoric and absent.

This past April the thousands of New Yorkers who participated in the peace rallies took responsibility for the actions of the U.S. in Iraq by actively registering their dissent. In the ghost shadows of the Twin Towers, they reminded the rest of the nation that an eye-for-an-eye war was not an acceptable solution. Not in our names, they said. What does it mean that I did nothing except tell myself the war in Iraq was not my war? It means that despite my citizenship papers and the gold eagle on my passport, the U.S. also is not a real home for me. In the face of another war, I was again a six-year-old in a bomb shelter. I felt small, insignificant and without recourse, not like an American at all. Whom do I blame for making me feel this way? I could blame the travelers who think of me as being part of the place they have visited as opposed to the place they are from. I could blame the man on the subway. They are the obstacles, not the impasse, to the completion of my journey.

In the end, I hold myself accountable for not claiming the places, real and flawed, where I am from.

bài đã đăng của Monique Trương


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)