Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 14, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Hải trình cuối cùng của chiếc thuyền ma


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 25.11.2006

Lưu Diệu Vân chuyển ngữ từ bản tiếng Anh của Gregory Rabassa

Giờ đây họ sẽ thấy được bản lĩnh của mình, ông nói thầm bằng giọng điệu đàn ông mạnh mẽ, sau bao năm chứng kiến cái lần đầu tiên chiếc du thuyền khổng lồ của đại đương trong trạng thái không ánh sáng và âm thanh, đi ngang qua khu làng giống như tòa lâu đài nguy nga bị bỏ hoang vào một đêm nọ, nó dài hơn toàn bộ khu làng và cao hơn cả tháp chuông nhà thờ, và nó lướt trong bóng tối về hướng thành phố thuộc địa phía bên kia bờ vịnh đã được củng cố bằng bến cảng nô lệ thời xưa và đèn xoay để đề phòng cướp biển, cứ mỗi mười lăm giây, những tia sáng biến dạng khu làng thành trang trại ánh nguyệt phủ trùm lên những ngôi nhà và những con đường ửng rực sa mạc bùng lửa, và mặc dù lúc đó ông chỉ là một thiếu niên chưa sở hữu giọng nói mạnh mẽ của người đàn ông nhưng mẹ vẫn cho phép được thức muộn ngoài biển để nghe tiếng đàn đêm của gió, ông còn nhớ rất rõ, hệt như vẫn đang nhìn vào nó, cách con thuyền biến mất khi ánh sáng của chiếc đèn hiệu dẫn chạm vào phía bên hông tàu, và cách nó hiện ra khi ánh sáng đã lướt qua, tương tự như một con thuyền bị đứt đoạn cứ thỉnh thoảng ngừng lại rồi tiến về phía trước, hiện ra và biến mất, đi về cửa vùng vịnh, dò dẫm đường lướt như người mộng du hướng thẳng đến những chiếc phao cứu đắm – dấu hiệu lối dẫn đến bến cảng – cho đến lúc chiếc kim la bàn gặp phải trục trặc, vì nó cứ tiến dần vào vùng nước nông, mắc cạn, nứt vỡ, và chìm xuống mà không phát ra một âm thanh nào, mặc dù sự đâm sầm vào đá ngầm như thế đáng lẽ phải tạo ra tiếng va chạm của kim loại và sự bùng nổ của động cơ đủ sức để làm tê liệt niềm kinh hãi của những con rồng đang ngủ say trong khu rừng tiền sử bắt đầu từ đoạn cuối con đường của khu làng và chấm dứt ở phía bên kia thế giới, để cậu tin rằng đó chỉ là một giấc mơ, nhất là vào ngày hôm sau, khi cậu nhìn thấy sự náo nhiệt rộn ràng của cái vịnh, những chiếc lều hỗn loạn màu sắc của những người da đen nằm ven đồi núi trên đỉnh bến cảng, những chiếc thuyền hai buồm của dân buôn lậu đến từ Guianas đang bốc vác hàng hóa là những con vẹt ngây thơ có móng vuốt nạm đầy kim cương, cậu nghĩ, tôi đã ngủ quên trong lúc đếm những vì sao và tôi đã mơ thấy chiếc thuyền khổng lồ, dĩ nhiên, cậu tin chắc là như thế nên đã không hé môi cho ai nghe và cũng không ghi nhớ cảnh tượng đó cho đến một đêm tháng ba tương tự khi cậu đang tìm kiếm ánh lóe của cá voi trên biển và cái mà cậu thấy được là chiếc thuyền ảo mộng, ảm đạm, gián đoạn, đi cùng con đường sai lầm như lần đầu tiên, đặc biệt lần này cậu tin là mình vô cùng tỉnh táo đến độ chạy vội về nhà kể lại cho mẹ nghe và bà ấy đã than van suốt ba tuần lễ trong ngao ngán, bộ óc của mày đang bị thối rữa vì hay làm những chuyện ngược đời, ngủ ban ngày và lang thang vào đêm như kẻ phạm tội, nhân đúng lúc bà ấy phải vào thành phố ngay khoảng thời gian đó tìm mua một cái gì êm ái để ngồi tưởng nhớ đến người chồng quá cố, bởi chiếc ghế đong đưa đã bị mục mòn sau mười một năm góa bụa, bà lợi dụng tình thế và sai người giữ thuyền đến gần chỗ nước cạn xem coi con trai bà có thấy được những gì cậu đã thấy trong ánh bạc của biển, những con cá đuối đang động tình trong bọt biển mùa xuân, những con cá chỉ vàng hồng và những con cá corvinas xanh đang nép lặn mình vào hố sâu mềm mại trơn lớp nước giữa khối thủy triều, và có cả vài sợi tóc lang thang của các nạn nhân chết đuối trong xác tàu thực dân bị đắm, không có một dấu vết nào của chiếc thuyền khổng lồ hay vật gì tương tự, vậy mà cậu đã bướng bỉnh kiên trì đến nỗi mẹ cậu phải hứa là sẽ cùng cậu quan sát nó vào tháng ba tới, vô điều kiện, mà không biết rằng điều tuyệt đối duy nhất nằm trong tương lai bà là chiếc ghế thanh thoát thuộc thời đại của Ngài Francis Drake* mà bà đã mua tại buổi dấu giá trong một cửa tiệm Turk, bà đã ngồi nghỉ ngơi trên ghế ngay tối hôm đó, thở dài, ôi Olofernos đáng thương của em, giá như anh có thể thấy nó đẹp đến dường nào khi em ngồi tưởng nhớ đến anh trên đường viền nhung và gấm thiêu kim tuyến lấy từ cỗ quan tài của một nữ hoàng, càng nghĩ nhiều đến kỷ niệm với người chồng quá cố, máu trong tim bà sôi sục lên và chuyển sang màu nâu, y như là bà không đang ngồi mà đang chạy, ướt đẫm vì cảm lạnh và sốt cao và hơi thở bà ngập tràn hiện thực, cho đến khi cậu trở về lúc hoàng hôn và phát hiện ra bà đã chết trong chiếc ghế thanh thoát, vẫn còn ấm nóng, nhưng đã thối rữa hệt như bị rắn cắn, việc tương tự đã xảy ra cho bốn người đàn bà khác sau đó trước khi chiếc ghế tàn bạo bị ném xuống dưới dáy đại đương, xa thật xa để nó khỏi đem đến tai họa cho một ai khác nữa, bởi vì nó đã bị dùng quá mức từ thế kỷ này sang thế kỷ khác cho nên năng lực đem đến sự thoải mái đã cạn kiệt, và rồi cậu phải học làm quen sống với lệ thường đáng thương của một đứa cô nhi bị mọi người chỉ trích là con bà góa phụ người đã đem cái ngai vàng của sự bất hạnh đến cho cả làng, sống qua ngày không phải bằng một chút ít lòng hảo tâm của mọi người mà bằng những con cá cậu ăn cắp từ những chiếc tàu, thời gian trôi qua giọng nói của cậu trở thành âm thanh gầm gừ, và cậu đã không còn nhớ được những hình ảnh trong quá khứ nữa cho đến một đêm tháng ba khi cậu tình cờ nhìn về hướng biển và thình lình, chúa ơi, kia rồi, một con cá heo to tướng, một con quái vật kếch xù, hãy nhìn kìa, cậu hò hét như điên, hãy đến nhìn nó, gây nên sự ồn ào náo động từ những con chó đang sủa và những người đàn bà hoang mang đến độ vị cao niên già nhất cũng còn nhớ được niềm sợ hãi của những đứa chắt trốn bò xuống gầm giường, lo lắng là William Dampier* đã trở lại, nhưng những người ùa ra đường đã không màng đến việc chạy ra để xem một sinh vật chưa chắc có thực ngay lập tức đã mất hút vào hướng đông mà ùa ra để kích động thêm thảm họa trầm trọng xảy ra hằng năm, họ đã trút phủ lên cậu những cú đánh khiến cậu bầm dập đến độ cậu tự hứa với mình, nước mắt nước mũi dàn dụa trong cơn thịnh nộ, giờ đây họ sẽ biết được bản lĩnh của mình, nhưng cậu thận trọng không chia sẻ với ai về quyết tâm này, rồi sống cả năm trời trong ý tưởng cố định đó, giờ đây họ sẽ biết bản lĩnh của mình, đợi chờ một lần nữa đêm trước giờ hiện hình để thực hiện những điều cậu đã làm, tức là ăn cắp một chiếc tàu, băng qua cái vịnh, và bỏ cả một buổi chiều mong đợi thời khắc oanh liệt nhất của mình ngay giữa những con lạch nhỏ ven bến cảng nô lệ, trong vùng nước mặn Caribbean của loài người, vì quá mê mải với chuyến phiêu lưu cậu đã không dừng lại trước các cửa tiệm Hindu như cậu vẫn thường làm, để nhìn ngắm những con búp bê trung quốc được gọt dẽo từ nguyên cả chiếc ngà của con voi, và cậu cũng thôi chế nhạo người Dutch Negroes cỡi những chiếc xe đạp dị hợm, và khác với những lần trước đây, cậu đã không còn khiếp sợ những người da nâu Malayans, họ đã khiến cả thế giới mê hoặc hình tượng con quái vật đuôi rắn mình dê đầu sư tử trú trong một hang động bí ẩn nơi họ chuyên bán những khúc thịt nướng của đàn bà Brazil, bởi vì cậu chưa nhận thức được điều gì cho đến khi màn đêm ập xuống với trọng lượng của hàng ngàn vì sao và khu rừng tỏa ra mùi thơm ngọt ngào của hoa mẫu đơn và mùi thối rữa của những con kỳ nhông, cậu đang chèo lái chiếc tàu đánh cắp vào cửa vịnh, thổi tắt cái lồng đèn để tránh náo động đến cảnh sát hàng hải, cố ước lượng thời gian mỗi mười lăm giây bằng nhịp đập từ đôi cánh xanh lục của ngọn đèn hiệu dẫn và được bóng tối biến lại thành người, nhận biết rằng cậu đang tiến dần đến những chiếc phao cứu đắm đánh đấu đường vào bến cảng, không chỉ vì ánh sáng ngột ngạt đang trở nên chói lòa, mà còn vì hơi thở của khối nước đang trở nên buồn bã, và cậu cứ chèo như thế, tràn ngập trong suy tư nên đã không nhận biết tiếng thở ghê sợ của con cá mập vang đến từ đâu hay cớ sao đêm tối lại trở thành dày đặc, như thể tinh tú đột nhiên vừa mới qua đời, vì chiếc thuyền khổng lồ đang hiện ra cùng với kích thước phi thường của nó, Chúa ơi, to hơn cả những vật to lớn nhất trên thế gian và đen hơn những gì đen tối nhất trên đất liền hay trên biển, ba trăm ngàn tấn tỏa mùi cá mập đang trườn qua gần sát chiếc tàu đến nỗi cậu có thể thấy được những đường nối nơi vách thép, không có một ánh sáng nào phát ra từ những cái lỗ cửa sổ vô tận nơi hông thuyền, không có một tiếng thở dài nào từ bộ máy, không có một linh hồn, và chở theo sự im lặng tuần hoàn của nó, bầu không khí chết chóc của nó, thời gian ngưng đọng của nó, dòng biển lang thang của cả một thế giới sinh vật chết đuối đang lềnh bềnh trong đó, và rồi nó lại biến mất đột ngột theo ánh loé của đèn hiệu dẫn và ngay tức khắc biển Caribbean mờ mờ lại hiện ra, đêm tháng ba, văng vẳng điệu nhạc thường hằng của những con bồ nông, nên cậu ở đó một mình giữa các chiếc phao cứu đắm, chẳng biết phải nên làm gì, giật nảy mình, tự hỏi có lẽ mình đã không nằm mơ trong lúc thức tỉnh, không phải chỉ bây giờ mà những lần khác nữa, nhịp thở thần bí tháo hơi những chiếc phao từ cái thứ nhất cho đến cái cuối cùng trước khi cậu kịp tra vấn chính mình, khi ánh sáng từ ngọn đèn hiệu dẫn quét ngang qua, chiếc thuyền khổng lồ lại xuất hiện lần nữa và bây giờ những đường lối chạy vòng của nó đang trở nên mất trật tự, có lẽ nó không biết nó đang ở vị trí nào của đại đương, dò dẫm theo đường eo biển mập mờ nhưng thật ra nó đang đi vào phía nước cạn, cho đến khi cậu cảm nhận được khải huyền mãnh liệt rằng niềm bất hạnh của những chiếc phao nên là dấu hiệu cuối cùng của sự si mê và cậu thắp sáng lồng đèn trên tàu, một tia sáng đỏ bé tí không đủ sức náo động một ai trong tháp canh gác nhưng sẽ là mặt trời dẫn dắt người lái tàu, bởi vì nhờ nó mà chiếc thuyền khổng lồ trở về chiều hướng chính xác và lướt qua cổng chính của đường eo biển bằng một thao tác của sự hồi sinh may mắn, và rồi tất cả những ngọn đèn sáng rực lên cùng một lúc nhanh đến nỗi các đầu máy lại kêu khò khè, tinh tú vẫn nằm yên tại chỗ, và xác chết của những sinh vật chìm hẳn xuống dưới dáy, có tiếng loảng xoảng của chén đĩa và mùi thơm nước xốt nguyệt quế trong bếp, người ta có thể nghe được nhịp điệu từ dàn nhạc ngoài boong tàu và tiếng động mạch đập rộn ràng của những người yêu biển cả trong bóng tối và trong phòng ngủ, nhưng cậu còn giữ trong lòng rất nhiều niềm giận dữ để cho phép mình cư xử bằng cảm tình hoặc bị hoảng sợ bởi phép lạ, mà chỉ có thể nói với chính mình một cách kiên quyết, giờ đây họ sẽ biết được bản lĩnh của mình, bọn hèn nhát, giờ đây họ sẽ thấy, và thay vì rẽ hướng nghiêng tránh sang để cỗ máy khổng lồ không đâm sầm vào cậu, cậu bắt đầu chèo thẳng đến trước mặt nó, vì giờ đây họ thật sự sẽ biết được bản lĩnh của mình, và cậu cứ tiếp tục hướng chiếc tàu có ánh sáng lồng đèn cho đến khi cậu tin chắc rằng nó sẽ phục tùng rồi cậu ép nó đổi chiều hướng về bến tàu, lôi nó ra khỏi đường eo biển lờ mờ, và lôi nó về phía ánh sáng ngôi làng đang say ngủ bằng giây thòng lọng xem nó như là một con cừu non của biển, một chiếc thuyền đang hoạt động, kiên cố trước những ngọn đuốc của đèn hiệu dẫn, nó không còn là vô hình nữa mà chói ánh sắc nhôm mỗi mười lăm giây, và những cây thánh giá nơi nhà thờ, quan cảnh khắc khổ của những ngôi nhà, ảo tượng từ từ nổi bật lên, và chiếc thuyền khổng lồ vẫn chạy theo sau lưng cậu, đuổi theo quyết tâm trong lòng cậu, thuyền trưởng đang nằm say ngủ nghiêng bên trái, hình ảnh cuộc đấu tranh giữa những con bò đực trên nền tuyết trong phòng chứa thức ăn, sự hiu quạnh của bệnh nhân trong nhà thương, bể chứa mạch nước mồ côi, người lái tàu kém cỏi đã nhận nhầm vách đá thay cho bến cảng, lập tức tiếng còi thét inh ỏi bật lên, một lần, và nước trút xuống thân hình cậu ướt sũng, lần nữa, và chiếc tàu thuộc về một người nào đó sắp bị lật úp, và lần nữa, nhưng đã quá trễ, những mảnh vỏ sò ven biển đã nằm trong tầm ngắm, những tảng đá của con đường, cửa nhà của những người đã hoài nghi cậu, toàn thể ngôi làng rực lên ánh sáng của chiếc thuyền khổng lồ dữ tợn, và cậu không còn đủ thời gian để tránh sang một bên nhường chỗ cho cơn đại hồng thủy, hét lớn trong sự hỗn loạn, con thuyền đó kìa, bọn hèn nhát, một giây trước khi cái thùng sắt khổng lồ sụp gãy trên mặt đất và mọi người có thể nghe rành mạch âm thanh tàn phá của chín ngàn năm trăm chiếc ly thủy tinh vỡ vụn, từng cái từng cái một, từ đầu đến đuôi, rồi thì ánh sáng ló dạng và thời khắc không còn là bình mình tháng ba mà là một buổi trưa thứ tư rực rỡ, và cậu có thể sung sướng nhìn đám người hoài nghi đang há hốc miệng lặng ngắm chiếc du thuyền khổng lồ nhất trên thế gian này và những người còn kẹt lại trước ngôi nhà thờ nhìn ra với vẻ mặt trắng bệch, cao lớn hơn tháp chuông gấp hai mươi lần và dài hơn ngôi làng gấp chín mươi bảy lần, tên nó được chạm khắc bằng những mẫu tự bọc sắt, Halálcsillag*, và dòng nước biển cổ đại chết chóc đang uể oải nhỏ xuống từ tứ phía.
*Francis Drake – (1518-1585) sĩ quan hải quân người Anh.
*William Dampier – nhà thám hiểm đại dương người Anh, sau này đã trở thành cướp biển.
*Halálcsillag – tiếng Hungary, nghĩa là Ngôi Sao Tử Thần.
Trích từ tập truyện The Hammock Beneath the Mangoes: Stories from Latin America, nhà xuất bản Plume, 1992.

bài đã đăng của Gabriel Garcia Marquez


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)