Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 12, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Quần đảo


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 11.11.2006

 
Chúng tôi dậy rất sớm lúc vầng dương màu lòng trứng còn đỏ hồng ở chân trời. Chất đầy hành lý lên chiếc xe Austin xanh dương, chúng tôi lái thẳng về phía duyên hải. Xe chỉ dừng lại ở Sarajevo để tôi có thể đi tiểu lúc cần thiết. Suốt chuyến đi tôi hát những bài bi ca cộng sản nói về các mẹ tưởng nhớ con mình đã khuất khi đi qua những nấm mồ. Tôi hát hưng ca cách mạng đầy sắt thép và nghi ngút khói tựa một đầu tàu. Tôi ca hùng ca những công nhân hầm mỏ từng biểu tình và chôn xác đồng chí của mình. Hát đến nỗi khi tới bờ biển, tôi gần như lạc giọng.

Chúng tôi đợi tàu trên một đập đá dài, nóng và lâu đến nỗi khi cởi đôi giày săn-đan chân tôi bỏng rát. Khí bể ẩm hòa lẫn cái nóng bức góp phần cho con người mau kiệt sức. Thoang thoảng trong không gian mùi dầu dừa chống nắng của đám du khách người Đức đang sắp hàng chụp hình ở cuối đập, ai cũng đỏ kè và rám nắng. Chúng tôi thấy được nơi cuối chân trời có một làn khói mỏng rồi con tàu lớn dần, nhẹ nghiêng về một phía như trong bức vẽ của đứa bé. Tôi đội chiếc nón rơm tròn che nắng ngang mặt có hoạ hình 7 chú lùn. Tôi phải ngẩng cổ để nhìn tàu đang lớn dần. Nếu không, tôi chỉ có thể nhìn tới đầu gối của người lớn và những vệt mồ hôi trên áo họ hoặc những đường nhăn trên các cặp đùi phốp pháp. Một người Đức già gầy trơ xương quì xuống và ói qua lề đập đá. Bãi ói va vào mặt đập văng tứ tung khắp chốn như lũ trẻ xục xạo khắp nơi trong trò chơi trốn tìm. Bên dưới bãi ói, sóng vỗ nhịp đậm vàng một màu hoàng thổ. Một đàn cá lấp lánh ánh bạc tụ lại đớp mồi một cách buồn thảm.

Con tàu trông cũ kỹ, già nua với chiếc cầu thang tróc xi và lớp rỉ sét mỏng tang có thể làm đứt tay người nắm. Tay nắm cầu thang uốn ngược trông giống tấm khăn lau tay vặn tréo theo hình trôn ốc. Người đàn ông để râu nói “Mến chào bạn” . Ông ta mặc chiếc áo thun thể thao có hình một chiếc tàu đang lắc lư trên sóng, khói bốc cao như rắn lượn. Phía trên hình chiếc tàu là mặt trời cười theo dạng chữ U với môt con mắt nháy.

Chúng tôi ngồi trên boong, nhìn tàu nhảy qua những đợt sóng thấp, nhấp nhô, hào hển. Chúng tôi đi qua chuỗi quần đảo nhỏ như chiếc xe lọt vào ổ gà. Tôi hỏi bố mẹ “Có phải đây là Mljet?” . Ắt hẳn bố mẹ nói “Không”. Thình lình một luồng gió mạnh mai phục từ sau những hòn đảo hoá thạch bị trụi lủi vì bà hoả chụp lấy chiếc nón rơm của tôi ném thẳng ra biển. Nhìn chiếc nón chao đi, nhìn lại tóc mình dán sát vào da đầu như đã đội mũ an toàn, tôi hiểu rằng tôi sẽ không bao giờ còn nhìn thấy nó nữa. Tôi ước mình có thể đi ngược thời gian, kịp giữ chiếc nón trước khi cơn lốc gian manh ào tới đập vào mặt tôi. Chiếc nón càng lúc càng bay xa con tàu để cuối cùng chỉ còn một vệt vàng trên nền biển xanh. Tôi bắt đầu khóc nức nở rồi chìm vào giấc ngủ. Khi tỉnh dậy tàu đã cập bến đảo Mljet.

Chú Julius đặt một nụ hôn ấm dịu lên má tôi. Khoé miệng chú đụng khoé miệng tôi để lại chút nước miếng. Môi chú mềm tựa loài sên nhuyễn thể. Lúc chúng tôi rời đập đá khá xa, chú nói chú để quên hàm răng giả ở nhà và để chứng minh mình nói thật, chú toét miệng cười khoe miệng móm không răng, toàn những lợi hồng. Chú thơm lừng nước hoa, nhưng một mùi hôi từ miệng chú thoảng qua át đi mùi thơm ấy. Tôi dấu mặt vào gấu váy áo mẹ. Tôi nghe được tiếng phì cười của chú, tôi la hoảng “Chúng ta quay lại có được không? xin mẹ”

Chúng tôi rảo bước trên con đường đổ nát khúc khuỷa rịn hơi nóng. Đôi dép săn-đan của chú Julius khua đều đều làm tôi buồn ngủ. Dọc hai bên đường xanh đậm một màu những bụi cây. Chú Julius bảo trên đảo Mljet thường có nhiều rắn độc. Lúc nào người ta cũng phải mang giày ống cao su khi đi bộ trên đường, kể cả lúc ở nhà. Những vết rắn cắn trên người nhiều bằng vết muỗi cắn vậy. Khi bị rắn cắn, mọi người ai cũng biết lọc bỏ phần thịt nhiễm độc trong tích tắc, trước khi nọc độc lan truyền. Ngoài con người, rắn còn giết chó và gà. Chú kể tiếp, có lần mùi sữa cám dỗ một con rắn tới, nó nằm cuộn tròn trên một em bé đang ngủ. Người ta nghe nói có một loại Mongoose (thuộc họ nhà mèo) rất thích giết rắn và xem đó như một thú vui (như mèo giết chuột mà không ăn). Người ta phải gởi người tới Phi Châu để mang về một đàn Mongoose (tôi tạm dịch là con cầy vì hình dáng và chủng loại nó giống con cầy hương) để thả trên đảo. Đàn cầy như vào được nước thiên đường vì ở đó toàn những rắn. Người ta có thể đi hàng dặm đường mà không nghe thấy gì ngoài tiếng huýt gió của rắn, tiếng ré của cầy, tiếng om sòm, sột soạt trong các bụi rậm. Thế là bầy cầy làm thịt tất cả rắn trên đảo rồi chúng sinh sôi nẩy nở đến nỗi hòn đảo trở nên quá nhỏ đối với chúng. Mèo, gà cũng dần biến mất, có những tin đồn về loài cầy hung dữ yêu ma này là kết quả của luật tạo hoá. Bây giờ họ đang nghĩ cách làm sao để loại trừ loài cầy này. Chú nói thế thời là thế. Loài này giết hại loài khác giống một cuộc cách mạng. Chú thêm, đời sống không có gì xảy ra nếu không có sự kế thừa của quỉ dữ. Chú dừng lại để nhặt một hòn sỏi dính trong dép trái. Chú giơ hòn sỏi màu xám mảnh mai cho chúng tôi xem như vật chứng cho lời nói đúng của chú để không ai có thể bài bác được.

Ông ta mở cổng cho chúng tôi. Chúng tôi đi xuyên qua một con đường có những dây cà chua cứng cáp leo dọc bờ rào để vào một mảnh vườn nhỏ cũ kỹ. Ông chỉ cho chúng tôi thấy bà vợ ông đang đứng trên sân. Khuôn mặt bà giống một ổ bánh mì, ở giữa là củ khoai núng nính. Bà đứng chống nạnh, bắp chân bầm tím với những mạch máu nở lớn, mắt cá chân thì sưng tếu. Bà đi chân trần, những ngón chân mập mạp, cong quặp, quay ngoắt lại dường như chúng bội bạc, chán ghét lẫn nhau. Bà chụp lấy đầu tôi bằng hai tay và kéo về phía bà. Bà đặt miệng tôi vào miệng bà và để lại một lớp dầy nước bọt ấm, khiến tôi vội vã chùi sạch vào vai áo. Bà được kêu là dì Lyudmila.

Tôi lạch bạch sau bố mẹ kéo theo một túi đồ chơi biển. Tôi leo lên bậc tam cấp xi măng có những cạnh sắc nhọn ở một phía của căn nhà. Trên lan can nhà có trang hoàng các chậu hoa không rõ loại, hình tượng nữ tì ôm đèn. Căn phòng sạch sẽ, giường trải khăn mới, được khử muỗi và tẩm thơm lừng mùi hoa oải hương. Trên tường là bức không ảnh chụp đảo Mljet. Bức ảnh đen trắng đồng chí Tito mỉm cười ở phía đối diện. Dưới cửa sổ, sàn nhà lấm tấm điểm muỗi. Đâu đó vài con ruồi xanh hay ong thình lình bay vù qua. Khi tôi đến gần, chúng bay vòng tránh xa tôi, giống như giả thua để dương đông kích tây vậy.

Tôi nằm trên giường, lắng nghe tiếng đập đều, nhè nhẹ của tấm màn cửa và ngắm bức không ảnh Mljet. Có hai hồ hình chữ nhật nằm sát nhau ở trên cùng bức ảnh, và một trong hai hồ này có một cái đảo khác.

Tôi thức dậy lúc trời đã về đêm và tiếng ve râm ran đến bất tận nghe như tiếng rì rầm trong bộ máy đảo. Tất cả mọi người đều ngồi ngoài nhà, chung quanh chiếc bàn đặt dưới dàn nho. Ở giữa bàn có một bình rượu nho đen đầy trông như một cái trục. Chú Julius đang ròn chuyện, ai cũng cười vang. Ắt hẳn chú đang phồng mắt, nhoài người và tay đấm về phía trước. Bàn tay sẽ mở rộng với ngón trỏ chỉ vào khoảng không giữa mẹ tôi và vợ chú, rồi co lại thành nắm đấm nhưng ngón tay xuất hiện lần nữa, đầu ngón nhịp xuống bàn như người ta đánh truyền tin(morse)vậy. Chú sẽ dừng nói, trở về vị thế ban đầu và chỉ ngồi ngắm họ cười.

Chú Julius nói,“Chúng ta đã mang những người nuôi ong tới Bosnia. Trước khi người Ukrain đến, thổ dân giữ ong của họ trong những tổ làm bằng rơm và bùn. Khi cần mật, họ chỉ giết chúng với sulfur. Ba năm sau khi tới Bosnia, ông tôi có tới 50 tổ ong. Trước khi chết ông bị bệnh lâu lắm. Ngày ông chết, ông đã đòi đi xem ong. Ông ngồi giữa các tổ ong hàng giờ, lau đi lau lại giòng nước mắt trào ra như suối. Ông được đưa trở lại giường, một giờ sau ông mất.”

“Ông chết vì bệnh gì?” Dì Lyudmila hỏi.

“Tiêu chảy. Lúc nào cũng vậy, người ta thường chết vì bệnh này, họ đi tiêu cho đến chết.”

Tôi xuống cầu thang và kêu khát. Dì Lyudmila lần mò trong bóng tối ở phía tay phải của tôi. Thình lình đèn bật sáng chói. Tôi thấy một hộp xi măng có nắp gỗ đậy. Dì mở nắp, chụp lấy cái ly thiếc và thọc tay vào cái hộp vuông ấy. Tôi đến gần bình nước và nhìn trộm vào. Một con sên trắng bò trên bờ tường. Tôi không xác định được nó đang bò hay đứng bất động ở khoảnh khắc đó. Giọt sương trên lưng nó lấp lánh. Nó giống chiếc lưỡi cứng. Tôi liếc dì Lyudmila, nhưng dì làm như không thấy gì cả. Dì đưa tôi ly nước, tôi lắc đầu không chịu uống, hình như trong nước còn có bùn.

Vì thế họ mang tới cho tôi một miếng dưa hấu lạnh, tôi nhai ngấu nghiến. “Coi lại mình đi”. Chú Julius nói, “Cháu không chịu uống nước, thử hỏi cháu phải làm sao khi khát đến phát điên và trong đầu chỉ có ý tưởng: nước, nước mà vẫn không có nước để uống, cháu bao nhiêu tuổi rồi?”
“Chín,” Mẹ trả lời dùm tôi.

Chú Julius bảo chúng tôi rằng khi ông ở trại cải tạo Arkhangelsk. Stalin và những nghị viên đã đặt ra luật, nếu một học sinh tiếp tục đi học trễ và vắng mặt vài ngày không xin phép, sẽ bị phạt 6 tháng cho tới 3 năm tù trong trại. Do đó năm 1943, trại thình lình đầy ắp trẻ con lớn hơn tuổi chú tí thôi (lúc ấy chú vào khoảng mười hai hay mười lăm gì đó) . Chúng quá trẻ, không hiểu gì khi ở tù nên bọn trọng phạm chiếm hết các chỗ tốt, cho chúng ăn và ngược đãi chúng, cháu có biết? (không, tôi không biết). Chúng chết như ruồi vì lạnh, không áo ấm. Chúng không biết dành dụm chút thực phẩm hiếm hoi, tí nước uống quí báu được phân phát. Chỉ những đứa bé có người bảo vệ mới còn sống sót. Có một đứa bé tên Vanyka nghĩa là ốm đói, vào khoảng 12 tuổi, tóc vàng, mắt xanh. Nó sống sót nhờ ăn cắp thực phẩm của những đứa yếu hơn và bán mình cho bọn bảo vệ và nhân viên canh gác. Có lần, chú nghĩ nó đã uống rượu Vodka với bọn trọng phạm. Nó bắt đầu hét to “Cám ơn,Vozhd, đã cho tôi một thơ ấu vàng son”. Và với cả buồng phổi của nó “Cám ơn, Stalin, đã cho tôi một ấu thơ hạnh phúc”. Họ đã dùng báng súng đánh nó và mang nó đi mất.

“Đừng tra tấn thằng bé với những câu chuyện như vậy. Nó không ngủ được nữa đâu”

“Không, cứ để nó nghe, nó cần phải biết”

Sau đó người ta đưa chú Julius qua một trại cải tạo khác, một trại nữa, rồi trại nữa.

Không biết bao nhiêu lần, bao nhiều trại tôi phải đi qua, cuối cùng tôi thấy mình ở Siberia. Một mùa xuân, công việc của tôi là đào một cái huyệt lớn trên mặt đất đầy tuyết đang tan. Bỏ người chết lên một chiếc xe đẩy và chôn họ vào huyệt mộ. Năm mươi mạng một huyệt như chỉ định. Đôi khi tôi phải đào mạnh vào đất cứng để lấy thêm chỗ, đủ để đạt chỉ tiêu. Tôi đi một đôi ủng to. Một ngày, người ta bảo tôi có một người chết ở trong trại giáo huấn. Tôi đẩy xe tới và đặt cái xác lên xe. Trong khi đẩy, tôi nghe xác chết van nài nho nhỏ, “Để tôi chết, để tôi chết, tôi sợ quá, tôi gần chết rồi, tôi ngã rồi”. Hắn lại tiếp tục kêu van, “Để tôi chết, tôi không muốn sống”. Tôi đẩy xe lại dãy nhà tiền chế và chồm qua người hắn. Hắn trông tiều tụy, móm mém và mất một tai nhưng hắn có đôi mắt xanh. Đó là Vanyka! Chúa ơi! hắn trông già sọm. Tôi cho hắn mẩu bánh đã dành dụm được và nói tôi nhớ ra hắn. Đây là câu chuyện hắn kể lại tôi nghe.

Họ đem hắn đi và tìm mọi cách để hành hạ hắn qua nhiều ngày. Họ đưa hắn đến một trại khác, lúc nào hắn cũng gặp tai ương dù đã biết tu sửa, bởi vì hắn không biết câm miệng. Hắn biết cách ăn cắp của kẻ yếu và vẫn có người thích hắn. Hắn được hoan hô khi giết một tù nhân, vài người Do Thái, sau một vụ thua bạc. Hắn giết nhiều hơn, làm điều xấu, rất nhiều điều xấu lẫn học cách để sống còn, nhưng không bao giờ có thể câm họng. Vì thế họ gởi hắn đến một hòn đảo nơi họ giam giữ những kẻ xấu nhất trong những người xấu. Chỗ có nhân viên an ninh gần nhất, cách bờ khoảng 50 Kilômét. Họ để mặc tù nhân cướp bóc và giết chóc lẫn nhau như chó dại. Nhân viên an ninh chỉ ghé qua tháng một lần để cung cấp thực phẩm và đếm xác người cùng phần mộ rồi trở lại cơ quan của họ gần bờ. Một ngày Vanyka và hai người khác giết vài tù nhân để đoạt thực phẩm và quần áo rồi trốn ra mé biển. Lúc đó, trời vào đông rất lạnh. Lạnh đến nỗi thông nứt ra nổ lách tách mỗi ngày. Họ nghĩ rằng họ có thể đi bộ trong khí hậu lạnh giá nếu họ tránh được nhân viên canh gác. Nhưng họ bị lạc và cạn kiệt thực phẩm. Vanyka cùng một người nữa, thoả thuận ngầm, đồng ý với nhau giết người thứ ba để ăn thịt. Họ tiếp tục đi. Cuối cùng Vanyka đã giết người đồng hành và thịt ông ta. Nhưng chó săn đã đánh được hơi. Nhân viên an ninh bắt được hắn, rồi tống hắn vào trại giam cô quạnh này. Hắn không biết mình đã ở đây bao lâu. Hắn chỉ muốn đập đầu vào tường hay cắn lưỡi tự tử chết. Không chịu ăn, họ cũng bắt hắn ăn, điều này chỉ làm hắn sống lâu hơn để chịu nhục hình. Hắn khóc và kêu la “Hãy để cho tôi chết, để yên cho tôi chết”.

Chú Julius bất chợt im lặng và không ai dám hỏi thêm. Nhưng tôi hỏi, “Rồi ông ta ra sao chú?” Chú khoác tay, làm cử chỉ giống như đẩy tôi qua một bên và nói “Hắn bị giết.”

Tôi thức giấc, không biết mình là ai, đang ở đâu, nhưng khi thấy bức Miljet tôi nhận ra nó. Ngồi dậy, ra khỏi trạng thái mù mờ, tôi bước vào một ngày không tỉnh táo. Tuy còn nửa tỉnh, nửa mê nhưng tôi vẫn nghe được tiếng động vọng đến ngoài bờ biển: tiếng thì thầm e lệ của sóng, tiếng vọng của âm nhạc không rõ nguồn gốc, tiếng máy tàu ồn ĩ, tiếng trẻ con chát chúa, tiếng chèo khua nước văng vẳng. Bầy ong lượn quanh các chậu bông gần cầu thang khiến tôi phải cẩn trọng khi ngang qua. Trên bàn, thức ăn sáng đã dọn xong được đậy bằng lồng bàn trông giống hình bóng râm của dàn nho. Một đĩa trứng bị cháy, õng nước nằm cạnh tách cà phê đang bốc hơi. Kế đó là chiếc khay nhôm có lát bánh mì nằm chồng lên nhau như những con bài đô-mi-nô đổ nghiêng. Không một ai lai lãng. Tôi ngồi xuống quậy tách cà phê trắng. Bóng râm đã xoãi dài trên sân gạch. Một con ong đang chết, quay mòng mòng. Nó nằm lật ngửa, cánh trên lưng quay chậm dần cho tới lúc cạn hơi phải miễn cưỡng dừng lại.

Sau bữa sáng, chúng tôi đi xuống một con đường đất bẩn trông giống một địa đạo. Tôi cầm trên tay quả bóng hai màu xanh trắng. Đôi khi tôi vô ý làm rơi, quả bóng nẩy cao quá đầu. Tôi nghe tiếng sột soạt trong bụi rậm, có lẽ là một con rắn. Nhưng nhiều tiếng sột soạt hơn nữa. Tôi hình dung ra một con cầy đang giết một con rắn. Một trận chiến đẫm máu đang diễn ra. Con rắn cố vặn vẹo đầu để tránh cái táp của con cầy tựa như tôi thấy trên Ti Vi trong chương trình Survival. Tôi đứng đợi cha mẹ tới, trong lòng khiếp sợ nghĩ biết đâu con cầy hung tợn đó đang rình đâu đây. Nó chạy đến bên thằng bé ưa tò mò và cắn đứt đầu cậu ta.

Chúng tôi ra tới bờ bể trải sỏi, gần chỗ đập đá chia bờ biển làm hai cái hồ. Tôi phải ngồi trên tấm khăn trải dài dưới đất một lúc trước khi được bơi. Phía tay trái, thường thường có một ông già ngồi. Da ông nhăn nhúm, một con ruồi bay lảng vảng trên mặt ông. Lông trên ngực ông bạc và dựng đứng một cách hiền lành. Bụng ông lên xuống theo nhịp thở, hầu như không ai nhận ra, trong khi một con ruồi xanh đậu trên miệng rốn. Phía tay phải, có hai ông già cùng tầm cỡ, mặc quần rộng, đội nón rơm đang điềm đạm ngồi đánh cờ trong im lặng. Ngực của họ hướng ra biển. Xa hơn chút, ba đứa bé ngồi trên khăn tắm rải chung quanh một phụ nữ, có lẽ mẹ chúng, người đang phân phát những lát bánh mì có cà chua. Bọn trẻ con đều cắn bánh mì cà chua và nhai ngồm ngoàm cùng một lúc. Nước cà chua rơi xuống cằm. Chúng trông không đến nỗi bê bối lắm khi ăn. Ăn xong, mẹ chúng phải lau những khuôn mặt bướng bỉnh ấy bằng một tấm giẻ đã hoen màu.

Cuối cùng mẹ bảo tôi có thể bơi được. Tôi bước xiêu vẹo trên bãi sỏi đau cả chân để ra vũng lội. Tôi có thể thấy những con sứa bơi qua cái vù. Đá ở dưới đáy phủ đầy rêu. Tôi do dự bước xuống nước. Cái lạnh làm tôi giật bắn người khiến tôi cảm được sự hiện diện của thân xác mình. Tôi ý thức được làn da là ranh giới chia đôi cái ta và thế giới. Khi tôi đứng lên, sự run rẩy lan tới núm vú, tôi vẫy bố mẹ, họ la lớn, “Năm phút nữa thôi nhé”.

Thi thoảng, tôi thấy cá lướt đi dưới nước trong suốt. Có lần tôi thấy một bầy cá giống cá lưỡi kiếm tí hon, mũi nhọn như kim, có vảy bạc nơi bụng lấp lánh. Chúng cùng đi và dừng lại trước mặt tôi. Hàng trăm con mắt bé tí nhìn tôi kinh hãi. Khi tôi chớp mắt, chúng sợ quá, bơi đi mất.

Lúc chúng tôi trở lại mặt đường thì trời vừa lặn. Vạn vật nhuộm màu đồng. Một tia sáng mỏng giống mũi giáo mạ vàng đang nhô khỏi mặt đất. Những con ve sầu bắt đầu hồi sinh và hơi đất ấm dậy hương thông khô, toả suốt con đường. Tôi bước vào khoảng đường có bóng râm của những nhành thông cao. Sự mát dịu thình lình toả xuống làm tôi cảm được cái nóng trên vai trần từ nãy đến giờ tôi phải gánh chịu. Ấn ngón tay xuống vai rồi buông ra, tôi thấy một đốm xanh tái xuất hiện, teo lại từ từ rồi trở sang màu đỏ cháy.

Một người đàn ông dắt chó đi ngang, sợi dây xích cuộn tròn trên tay. Con chó thuộc giống chăn cừu Đức quốc. Nó cố nhẩy cẫng lên mình một con cầy đang lủi tránh vào bức tường đổ nát. Khi hàm răng con chó cắn vào khoảng không, cách mỏ con cầy còn trong gang tấc, người chủ kéo con chó ra. Lông con cầy dựng hẳn lên, răng nhe ra, trông rất dữ tợn nhưng tôi biết nó bị một mẻ sợ. Hai mắt nó đỏ rực, giống màu đỏ chúng ta thường thấy ở mắt người hay thú vật trong các bức ảnh chụp dở, thiếu kỹ thuật. Con chó vẫn còn gầm gừ và sủa ăng ẳng. Tôi thấy giòng nước dãi khát máu chảy hai bên mép và chiếc lợi nâu hồng đang khoe ra của con vật. Người đàn ông thả lỏng giây xích một lát. Người ta nghe được tiếng huýt gió, tiếng thở mạnh, gầm gừ và tiếng hét điếc tai. Ông ta giựt con chó lại. Con cầy nằm nhe răng, giương móng vuốt bực bội. Đồng tử mắt nó nở to kinh ngạc trông như vô hại. Ngực nó có một cái lỗ, hình như con chó đã cắn vào đấy. Tôi thấy trái tim bé như quả cà đang phập phồng giống như nấc cục, chậm dần và chậm dần. Vào một khoảnh khắc lâu hơn giữa hai nhịp đập, nó dừng lại một cách giản đơn.

Chúng tôi bước trong bóng hoàng hôn chạng vạng. Đôi dép tôi ghim đầy gai thông khiến tôi phải tạm dừng để gỡ chúng ra. Hàng ngàn đom đóm bay giữa những bụi cây toả sáng và lấp lánh tuồng như chúng ẩn mình ở đấy, nhấp nháy làm đèn giúp các bà tiên chụp hình chúng tôi. Mẹ hỏi tôi “Con đói không?”

Chúng tôi ngồi dưới chiếc áo làm bằng giàn nho bao phủ. Đĩa dưa leo và hũ mật nằm trước mặt chúng tôi. Chú Julius chấm dưa vào mật. Vài con ong bỏ hũ mật bay lảng vảng trên mặt bàn. Tôi muốn nhúng ngón tay vào mật và trét lên môi trước khi một giây mỏng rớt xuống đùi trần nhưng tôi không bao giờ làm được.

Đôi lúc vào buổi trưa, chú Julius đưa tôi tới nhà nuôi ong. Chú đội mũ và mặc áo choàng trắng có tấm mạng che dài tới ngực. Trông chú như một cô dâu mới cưới. Chú đốt một miếng giẻ rách, bảo tôi cầm lấy để tấn công đàn ong. Chú còn dặn tôi phải tuyệt đối im lặng, không được nhúc nhích và chớp mắt. Mắt nhìn trộm đằng sau lưng chú, tay tôi cầm tấm giẻ mồi chờ sẵn. Chú mở nắp đậy tổ ong một cách cẩn trọng dường như chú sợ sẽ đánh thức toàn đảo dậy. Và những tiếng vù vù sẽ theo sau, trổi dậy giống một đám mây bụi bao vây chúng ta. Chú chùi sáp ong dính giữa những cái khung và đem ra từng cái một chỉ cho tôi xem. Tôi thấy đám mật động đậy. Chú thì thào, “Chúng luôn làm việc, không bao giờ ngừng nghỉ”. Tôi sợ bị ong cắn, mặc dầu chú trấn an, ong sẽ không tấn công nếu ta biết giả vờ như ta không có mặt ở đó. Nỗi sợ nở to dần, càng nghĩ tôi càng sợ. Cuối cùng, chịu không nổi, tôi chạy vào nhà ra chỗ cầu thang và ngắm những động tác đôi tay chú từ xa xa. Tôi thấy chú sau mạng lá cây ô liu và những dãy tổ ong, chú quay nhìn tôi và tôi nhận ra một nụ cười quái dị đằng sau tấm mạng.

Bố mẹ ngồi đằng sau lái, chân chạm nước ấm ở đáy thuyền. Chú Julius chèo thuyền, còn tôi ngồi ở mũi thuyền, chân đu đưa ra ngoài. Mặt hồ trào lên những đợt sóng bất định khiến chân tôi bỗng dưng chìm sâu, mát lạnh, cái lạnh của lá bạc hà xanh. Với tiếng chèo khoan nhặt, tiếng sóng bồng bềnh vỗ mạn thuyền, chúng tôi lướt về hướng đảo. Đằng sau đám ô liu thấp thoáng một cao ốc đá nâu sẫm màu có những ô cửa sổ nhỏ. Chú Julius lái thuyền về hướng về một bến tàu đã bị hư hỏng. Tôi trượt chân khi bước ra khỏi thuyền nhưng chú Julius nhanh tay chụp được tay tôi. Tôi chỉ lơ lửng một chốc trên không. Mặt hồ động sóng. Một ổ bánh mì thấm nước trôi lềnh bềnh như một tảng băng bên cạnh một tờ giấy báo có nụ cười nóng bỏng của một phụ nữ. Chú Julius nói, “Những cái hồ này hồi thế kỷ 16 là thiên đường của bọn hải tặc.” Chúng tích trữ của cải cướp được, mang con tin về đây để giết và tra tấn họ trong những toà nhà này nếu chúng chưa lấy được tiền chuộc. Người ta nói rằng nơi đây vẫn còn oan hồn phảng phất của 3 đứa trẻ bị chúng treo trên móc sắt vì bố mẹ chúng không trả tiền chuộc. Đây là tu viện của các nữ tu mà người ta tin rằng họ là phù thủy chứ không phải nữ tu. Ở đó, ngày xưa là nhà tù Đức quốc, giờ trở thành khách sạn, không du khách nào biết.

Chúng tôi đi vào một hành lang lớn lạnh ngắt bằng đá, vang vang tiếng dội. Một chiếc bàn tiếp khách được đặt ở đấy, nhưng không ai ngồi. Bên trên cái kệ có những ngăn trống là hình Tito mỉm cười. Chúng tôi đi xuyên đường hầm dài, qua một cái cửa thấp đến nỗi mọi người phải cúi đầu mới vô được. Chúng tôi bước vào một căn phòng giống cái hộp vuông, không cửa sổ (Chú Julius nói nhỏ, đây là nơi nhốt một nữ tu). Sau đó là phòng ăn với những bàn gỗ dài. Trên bàn là hai dãy muỗng nĩa xếp song song. Chúng tôi ngồi đợi bồi đến. Một con thạch sùng vàng lớn bằng cây bút chì bò trên bức tường đá sau lưng chú Julius. Nó nhìn chúng tôi với đôi mắt bi không chớp, lộ rõ vẻ lo ngại. Rồi nó chạy mau về hướng cửa sổ tối.

Đây là những gì chú Julius kể chúng tôi nghe.

Khi chú còn là một học sinh trẻ ở Moscow, vào những năm ba mươi, chú thấy một người già nhất thế giới. Lúc ấy chú ở trong lớp sinh vật học. Lớp là một hội trường khổng lồ với hàng trăm dãy ghế, hàng ngàn học trò. Họ mang tới một ông già không còn đi nổi. Vì thế, ông phải cần đến hai người khiêng. Ông choàng vai hai người, chân đong đưa, người cuộn lại như một đứa bé. Họ nói ông đã 158 tuổi. Ông sống nơi nào đó ở Caucasus. Họ đặt ông vào cạnh bàn giấy và ông bắt đầu khóc như một đứa bé. Họ cho ông một con mèo nhồi bông (chú không chắc có phải là mèo không, bởi chú ngồi mãi dãy bàn cuối). Chú nhìn ông như nhìn vào mặt trái của ống kính viễn vọng. Thầy giáo nói người đàn ông này lúc nào cũng khóc, chỉ ăn toàn chất lỏng và không lúc nào rời món đồ chơi. Ông ngủ rất nhiều, không còn nhớ gì kể cả tên mình. Ông chỉ nói được vài chữ như uống nước, đi cầu, thế thôi. Chú nghĩ đời sống như một vòng quay, con người trở lại nơi họ bắt đầu vào năm 158 tuổi, giống con chó tự đuổi theo cái đuôi của nó. Tất cả chỉ là hư không. Chúng ta sống và sống, cuối cùng chỉ như đứa bé (chú chỉ tôi) không biết gì hết, nhớ gì hết. Con trai ạ, bây giờ con có thể ngưng thở, nếu con ngưng thở cũng không có gì thay đổi.

Sau một đêm với những giấc mộng không rõ rệt, tôi thức giấc khi bố mẹ tôi đang chất đầy sơ mi và quần áo lót nhăn nhúm vào túi hành trang đang mở toác. Chú Julius đến gần và đưa cha tôi một hũ mật ong to cỡ đầu tôi. Chú nhìn bức ảnh Mljet rồi đặt ngón trỏ của mình vào góc phải gần cặp hồ sinh đôi trông giống cặp mắt nhìn đăm đắm. Chú bảo “Chúng ta đang ở đây.”
Vầng dương chưa lên phía sau đồi, nên không có bóng râm, vạn vật như trùm phủ dưới màn tơ mỏng. Chúng tôi bách bộ dưới con đường nhựa hẹp, ướt và ẩm. Chúng tôi ngang qua một người đàn ông đang cầm chùm cá chết, mang đỏ còn dính ở móc câu. Ông cười và chào “Chào các bạn”.

Chúng tôi đợi ở bến tàu. Một chiếc tàu xấu xí tróc sơn, ho khục khặc đang hướng về phía bể rộng. Mũi tàu có chữ “Hải tặc” xanh tái. Một người đàn ông tay phải có xâm hình chiếc mỏ neo đứng gần bánh lái. Ông mặc chiếc áo sơ mi, sọc đen, đỏ, quần đùi ngắn, chân trần không giày phồng lên nhớp nháp. Ông nhìn chăm chú về phía chiếc phà đang từ từ ghé bến cảng. Chiếc phà chậm dần cho tới lúc nó có thể nổi bồng bềnh trên mặt nước. Nó thả xuống một cái cửa ra vào trông giống cái cầu của một toà lâu đài. Theo sau là một tiếng chuông xé màng nhĩ. Nó là một chiếc tàu khác, nhưng có cùng một người đàn ông mặc áo sơ mi có in hình chiếc tàu bập bềnh., Ông đứng cười, nói thêm lần nữa “ Mến chào các bạn”. Dường như ông nhận ra chúng tôi.

Chúng tôi ngang qua cùng những quần đảo. Chúng giống những ổ bánh mốc meo đứng bên cạnh chiếc tàu khổng lồ. Khi tới gần hơn, chúng tôi nhận ra một đàn dê trên một hòn đảo. Chúng nhìn chúng tôi với con mắt băn khoăn, thơ dại, từng con, từng con một. Chừng như hết hứng thú, chúng gặm cỏ trở lại. Một người có lẽ là du khách Đức, chụp hình đàn dê xong, đưa máy ảnh cho con. Đứa bé mắt xanh, mặt đầy tàn nhang hướng máy ảnh về phía mặt trời mà nhắm. Nhưng người đàn ông vờ la con, quay người cậu bé và chiếc máy ảnh về phía chúng tôi. Chúng tôi cười, nhìn cậu ta một cách bất lực.

Từ bờ biển về tới nhà phải mất bốn tiếng. Suốt chuyến đi, tôi ngủ vùi quên cả nóng cho tới lúc đến Sarajevo. Khi về tới nhà, cây cỏ hoa lá trong nhà héo queo như đang ngập ngụa giữa ánh hoàng hôn màu da cam. Tất cả cây xanh đã tàn úa vì người hàng xóm chúng tôi nhờ tưới cây, thình lình qua đời trong một cơn động tim. Cô mèo, nhịn đói hơn một tuần lễ nhìn hốc hác gần điên cuồng vì đói. Tôi gọi cô, cô không thèm đến gần tôi nữa. Cô ắt nhìn tôi với vẻ căm thù không thể cứu vãng được.
Trịnh Thanh Thủy chuyển dịch
từ The Question of Bruno

bài đã đăng của Aleksandar Hemon


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)