Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 25, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Một đồng xu


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 30.04.2007

 
Giả sử có 2 điểm A và B; nếu đi từ A đến B, bạn phải băng qua một không gian trống, rất thuận tầm mắt cho những tay súng bắn tỉa. Bạn phải chạy từ A đến B; càng chạy nhanh, bạn càng có cơ may sống sót khi đến B. Đoạn đường từ A đến B la liệt những thứ mà người dân trong lúc chạy gấp rút đã đánh rơi. Một chiếc ví da màu đen có lẽ không còn gì trong đó. Một chiếc túi xách tay mở phanh ra như một cái miệng đang há. Một chiếc bình nhựa đựng nước đạn xuyên thủng ở chính gữa. Một tấm khăn trùm ba màu xanh -đỏ -nâu lốm đốm bông tuyết bám vào bẩn thỉu. Một ổ bánh mì ướt nhẹp, trên đó, cả đàn kiến bận bịu bu đầy, như thể chúng đang cố gắng xây một kim tự tháp vậy. Một cái băng video bị đập nát, một vài mẩu còn lướng vướng với dải băng sẫm màu nhàu nhĩ. Có những ngày khi những tay súng bắn tỉa trở nên điên cuồng, trên đoạn đường, ta còn thấy rải rác vài cái xác người nữa. Một vài người có lẽ vẫn sống sót, cố lết mình về chỗ trú ẩn cách xa đó, để lại một vệt máu loang dài trên đường, trông như những con sên đang lầm lũi trườn đi. Người ta hiếm khi dừng lại để giúp đỡ những kẻ đáng thương ấy vì ai cũng hiểu rằng bọn bắn tỉa chỉ chờ điều đó mà thôi, như thế chúng sẽ hạ gục thêm được một mạng nữa. Có lúc những tay súng bắn tỉa này sẽ nhân từ nổ một phát súng kết liễu con người đang quằn quại bò lê kia. Nhưng cũng có lúc bọn chúng đùa chơi với tấm thân khốn khổ ấy; chúng bắn vào đầu gối, bàn chân hay khuỷu tay của anh/ chị ta. Dường như chúng đang cá với nhau xem anh/chị ta chịu đựng được bao lâu trước khi mất hết máu.

Sarajevo là một thành phố không mèo. Nói vậy là vì người ta không thể chăm sóc chúng, cũng không thể mang chúng theo khi đi sơ tán, hoặc cũng có thể là chủ của chúng đã bị giết. Bởi thế, lũ chó ở đây cũng không có mồi và cũng không có cơ hội rượt đuổi và ăn tươi nuốt sống chúng. Người ta thường có thể bắt gặp giữa những đống đổ nát trên đường phố, bên dưới những chiếc xe ô tô bị đốt cháy hay kẹt trong cống rãnh xác của những con mèo hoặc những cái đầu lâu mèo há hốc miệng đờ đẫn, để lộ những chiếc răng nanh trông tựa những lưỡi dao găm thu nhỏ. Thỉnh thoảng, người ta có thể trông thấy cảnh hai ba con chó quần một con mèo, cấu xé một khối lông-thịt đang gào lên thất thanh.

Những lá thư của Aida đến một cách họa hoằn và đột ngột, chúng vượt qua khu vực đang bị bao vây nhờ đoàn xe hộ tống của Liên hợp quốc, nhờ các phóng viên nước ngoài hoặc các chuyến xe chở người tị nạn. Tôi hình dung ra những lá thư ấy được dúi vào trong bao tải, chất ở cuối một chiếc xe tải của Liên hợp quốc, được lái bởi một người lính Pakistan hay Ukraina quên hết thảy mọi điều ngoại trừ đoạn đường bùn lầy trước mặt anh ta hay cái nhìn chằm chằm của những tên du đãng râu ria xồm xoàm bên đuờng mà có thể thấy rõ ngón trỏ của chúng đang đặt rất gần cò súng; cũng có khi tôi tưởng tượng thấy một lá thư nằm trong một chiếc ba lô phóng viên, khoác vắt vẻo qua một bờ vai xăm hình – lá thư ấy nằm dưới đáy ba lô cùng với một chiếc Walkman, mấy cuốn sổ tay, những chiếc bao cao su, bánh mì (thêm cả vụn bánh mì) và một chiếc ví nhét đầy ảnh gia đình. Tôi hình dung những lá thư ấy nằm trong một bưu điện ở Zagreb hay Split, ở Amsterdam hay London, giữa một chồng những lá thư gửi cho những người mà tôi không hề quen biết, những người mà người gửi hẳn đã dành bao nhiêu lo lắng khi viết những lá thư ấy. Đôi khi mất cả hàng tháng trời đằng đẵng, những lá thư của cô ấy mới đến được tay tôi và khi mở hòm thư của mình – cái hòm thư giống như một đoạn đường hầm dài mà kịch đường là một góc tối om – tôi tìm thấy lá thư của Aida. Lúc đó, tôi chợt rùng mình sợ hãi. Tôi sợ rằng, khi bóc cái phong thư đã bạc lợt này ra, có thể Aida đã chết. Cô ấy có thể đã tiêu biến, đã hoá thành một bóng ma, một hư ảnh – một kiểu nhân vật hoang đường, đại loại như vậy –còn tôi thì đang đọc thư của cô ấy như thể cô ấy còn đang sống, giọng của cô ấy còn vang trong trí óc tôi, hình ảnh của cô ấy như đang phóng chiếu trước mắt tôi, bàn tay của cô ấy đang gập cong lại những lá thư. Tôi sợ phải giao lưu với một sinh thể do chính ký ức của tôi tạo nên. Tôi sợ phải giao lưu với một người đã chết. Tôi sợ cái thực tế nghiệt ngã, rằng cuộc sống luôn chậm chạp hơn cái chết và tôi bị chọn làm chứng nhân cho sự mâu thuẫn này, bất chấp sự yêu đuối và ý chí của tôi.

Tháng chín, dì Fatima qua đời. Bà đã bị hen suyễn suốt một thời gian dài nhưng đến tháng chín, lúc ấy bà đang ở trong khu nhà của chúng tôi, bà mới rơi vào tình trạng bị ngạt thở. Hàng tuần liền, người ta nã đạn và kể cả khi tiếng súng tạm ngưng thì lại có một tên lính bắn tỉa cuồng hứng. Hắn giết chết ông hàng xóm nhà chúng tôi, người thậm chí còn không dám rời toà nhà này. Ông chỉ thò đầu ra ngoài cửa sổ, mà cũng chỉ dám để cửa he hé thôi, thế nhưng một viên đạn đã bắn trúng vào trán ông, làm ông lộn nhào rơi xuống đất. Về phần dì Fatima, thuốc hen suyễn đã hết sạch nhưng bà không thể ra ngoài được. Cửa sổ đã bị phá vỡ từ lâu nên bà lúc nào cũng thấy lạnh và phải hít khí lạnh lẫn với bụi mù lơ lửng. Mỗi lúc bà lại càng khó thở hơn, cơ thể bà phát ra những tiếng ngàn ngạt như cố muốn hít vào cái gì đó nhưng chẳng hít được vào cái gì. Chúng tôi không thể chôn cất bà được, thậm chí đưa bà ra khỏi nhà cũng không, vì người ta liên tục nã đạn hay bắn tỉa, như thể không còn có ngày mai nữa.

Kevin là người Mỹ, dân Chicago. Hắn là quay phim. Hắn đã đi khắp nơi, hắn nói thế. Hắn đã từng ở Afghanistan và Li băng, ở vùng vịnh Ba Tư và châu Phi cùng với cái máy quay phim của mình. Hắn cao lớn, những bắp thịt trên tay hắn như những quả đồi nhỏ. Mắt hắn xanh lục như một vạt cỏ khô. Tai trái của hắn đeo song song hai chiếc khuyên. Tóc hắn để ngắn. Đầu hói, trước trán loà xoà một đám tóc màu xám. Cơ thể hắn săn chắc. Nhìn gần có thể nhận thấy có những mạch máu bị đứt tím bầm ở chỗ tiếp giáp giữa mũi và mặt hắn. Đó là từ cocaine mà ra. Hồi ở Li băng, hắn dùng nhiều lắm. Cocaine ở đó rẻ và hắn bị đổ gục. Một thằng oắt con người Ả rập đã bắn hắn bằng một khẩu súng mà hắn tưởng chỉ là một thứ đồ chơi, để lại trên đùi hắn một vết sẹo nhăn còn đến tận bây giờ. Hắn đã từng sung mãn, hắn đã từng tàn tạ, hắn đã từng chơi cocaine. Giờ thì hắn ổn rồi, hắn bảo vậy. Tôi thích hắn vì những câu chuyện mà hắn kể. Thì tất cả mọi người, tất cả các phóng viên và các tay quay phim, tất cả những ai từng đi đây đi đó đều kể chuyện đấy thôi. Nhưng họ, tất cả, đều dập khuôn nhau, cứ như thể bọn họ đã xem quá nhiều bộ phim về các thông tín viên và các phóng viên chiến tranh nước ngoài. Nhưng những câu chuyện của Kevin thì khác. Những câu chuyện kia lúc nào cũng kể về các nhà báo. Một gã say người Anh, một cựu sĩ quan phát xít Đức, một anh chàng Pháp ẽo ợt, một ả điếm Mỹ- đấy là những mô-típ nhân vật chủ yếu. Họ không bao giờ kể những câu chuyện về dân địa phương bởi đối với họ, câu chuyện về người bản xứ là những tin tức, là những gì mà họ phải tường thuật. Kevin kể cho tôi nghe những câu chuyện từ Afghanistan, chuyện hắn đã cùng sống với đám phiến quân nổi loạn, những kẻ để râu ria xồm xoàm, mai phục trên núi cao. Chuyện những đoàn quân hộ tống người Nga biết rõ mình đang bị theo dõi nhưng vẫn phải cố gắng leo lên đoạn đường núi khốc liệt trong nỗi khiếp hãi. Về một người lính Nga mà thân thể bị cắt xẻo từng miếng trong lúc còn đang sống. Anh ta thét lên những âm thanh phi thực cho đến khi được một mullah1ban ơn bằng cách bắn một phát súng vào sọ. Hắn đã quay cảnh này, dù biết rằng người ta sẽ lấy cuốn băng của hắn đi. Mà kể cả người ta không làm việc đó đi nữa, cuốn băng đó cũng sẽ không bao giờ được phát đi.

Cô ấy gửi cho tôi một bức ảnh đen trắng: trong bức ảnh, cô ấy đang đứng giữa một đống gạch đá vụn nát, tàn tích của thư viện. Tôi có thể nhìn thấy những lỗ hổng vốn trước đây là cửa sổ và những cột nhà trông như những que diêm cháy xém. Máy ảnh chụp cô ấy từ dưới lên: cô ấy dựng đứng người, dáng dong dỏng, cứ như là đang đứng trên một ngọn núi; trên người cô ấy khoác một tấm áo chống đạn, không mặc thêm áo bên trong nên trông cô như thể đang mặc một bộ đồ tắm vậy.

Tôi nhận công việc làm liên lạc viên cho một nhóm các hãng truyền hình nước ngoài. Bên cạnh việc giúp họ xoay sở được ở cái chốn địa ngục này, làm thế nào để họ có thể tiếp cận và hối lộ các quan chức chính phủ và tìm những đảng phái tử tế, tôi còn làm việc biên tập các đoạn phim mà các phóng viên đã quay trong và xung quanh thành phố. Sau đó, tôi gửi các đoạn phim này qua vệ tinh tới London, Amsterdam, Lucxembourg, hay ở đâu đó. Mỗi ngày, tôi nhận được các đoạn phim có độ dài khoảng hai, ba tiếng. Chủ yếu là những cảnh đầu rơi máu chảy. Tôi cắt nó thành các đoạn phim có độ dài khoảng 15 – 20 phút, rồi chuyển nó đến một người vô hình nào đó để biên tập nó thành những bản tin có độ dài chừng một, hai phút, nếu quả thật có một nhân vật làm cái công việc này. Ban đầu, tôi cố gắng chọn những hình ảnh gây ấn tượng mạnh, càng nhiều cảnh máu me, ruột rà lềnh bềnh, càng có nhiều chân tay đứt cụt và xác trẻ em thì càng tốt. Tôi cố làm thế nào để khơi gợi lòng trắc ẩn, sự cảm thông, nỗi đau đớn, đại loại những thứ mùi mẫn như thế, cho dù những bản tin một hai phút mà sau này tôi mới nhận ra, vì sự cắt xén của mình, chỉ gồm có những hình ảnh kinh dị chẳng có gì ghê gớm lắm. Tôi vừa mới thay đổi quan điểm. Tôi thôi không thanh lọc nỗi sợ hãi nữa sau khi xem đoạn phim ghi lại cảnh một người đàn bà bị chết được bốn người đàn ông khiêng. Đầu của chị ta ngả vào tay họ, trông như thể chị đang nằm trên xe chở xác. Khi họ khênh chị đi, đầu chị ngửa ra phía sau, rũ xuống lủng lẳng. Sọ của chị bị nứt toác ra bởi một mảnh bom. Một mảng sọ, có cả tóc, bị bật tung ra nhưng còn dính với một miếng da đầu. Người ta đặt người phụ nữ ấy vào phía cuối của một chiếc xe tải. Đầu của chị vẫn nứt ra toang hoác. Tôi có thể nhìn thấy cái khoang đầu không còn não nhoe nhoét máu. Rồi một trong những người đàn ông ấy bịt cái khoang đầu lại, đặt mảng sọ vào vị trí của nó, giống như đậy một cái nắp vậy. Anh ta làm việc này với một sự tôn trọng miễn cưỡng nào đó, như thể anh đang làm cái việc mặc quần áo cho cơ thể trần truồng của người phụ nữ, như thể việc nhìn vào bên trong đầu của một ai đó có gì đấy khiếm nhã. Tôi cắt đoạn phim đó ra và ghi lại vào một cuốn băng riêng. Kể từ đó, tôi cắt ra tất cả những gì khủng khiếp tương tự như vậy. Tôi ghi lại tất cả vào một cuốn băng mà tôi giấu bên dưới chiếc gối được làm từ quần áo của mình. Đã từng có thời cuốn băng “gối đầu giường” của tôi là bộ phim sến đặc Cinema Paradiso (Thiên đường điện ảnh), bộ phim kể về một nhân vật đã lưu giữ tất cả hình ảnh những nụ hôn trong các bộ phim vốn bị một tu sĩ kiểm duyệt bắt cắt bỏ. Tôi đặt tên thánh cho cuốn băng của mình là Cinema Inferno (Địa ngục điện ảnh). Tôi vẫn chưa xem lại toàn bộ cuốn băng ấy. Một ngày nào đó tôi sẽ làm việc này. Tôi sẽ chú ý đặc biệt đến những đến những cảnh phim bị cắt đó, để xem việc dựng phim về sự cuốn hút của cái chết có hiệu quả như thế nào.

Tôi có một giấc mơ: một người phụ nữ đơn độc hiện hữu trên màn ảnh rực rỡ, trước mặt cô ta là một cái hào, phía bên kia hào có một căn phòng không cửa sổ, đầy những người là người. Cô ta đang đóng vai tôi, chính tôi là nhân vật mà cô ta đang diễn xuất. Tôi thì trở thành khán giả, ngồi ở hàng ghế tận cùng của tầm mắt, gần như nép vào bóng tối. Cô ta diễn không đạt. Đấy đâu phải là điều mà tôi cảm thấy; đấy đâu phải là nỗi đau của tôi. Tôi muốn bật dậy và gào lên bảo cô ta rằng cô ta đang lấn quá nhiều vào bản ngã của tôi. Cô ta thậm chí đã mang hình hài của tôi, khuôn mặt của tôi, giọng nói của tôi. Tôi muốn làm thế nào đó để cô ta bước ra khỏi tôi. Nhưng tôi không thể làm được gì. Cô ta là một ảo ảnh nhẹ bỗng. Tôi không đứng dậy được vì tôi không biết chính xác điều không ổn đó là gì. Và rồi tôi nhận ra – đấy chính là ngôn ngữ. Tôi bị kiềm toả ở bên trong một thứ ngôn ngữ không xác thực.

Có thể bắt gặp ở đây những con chó thuần chủng chạy theo đàn trên đường, hoặc hiếm hoi hơn, ta thấy nó thơ thẩn một mình. Bạn có thể bắt gặp đủ giống chó từ chó chăn cừu Đức, chó săn lông xù Ai len, chó cô li Bỉ, chó cô li Ê cốt, chó rottweiller2, chó xù, đến chó su Tàu, chó Boderman, chó spaniel, chó trượt tuyết Alaska, chó husky vùng Siberia… Ròng rã suốt mấy năm thành phố bị vây hãm thế nên ở đây xuất hiện nhiều con chó lai như một lẽ tự nhiên. Một vài kết hợp lai phối có thể khiến các chuyên gia về chó ngạc nhiên hay khiếp sợ. Vào mùa đông, khi mọi loài vật đều lâm vào thời kỳ đói khát, chó thường tụ lại thành bầy, tấn công con mồi theo một chiến thuật chung, giống như sói. Thỉnh thoảng một con chó – kết quả của một sự lai tạp khó tưởng tượng nổi – vồ lấy một thằng bé hay một người già cả. Loại chó chăn cừu Đức sẽ tấn công bằng cách bóp cổ trong khi đó loại chó xù thì sẽ phanh thây những con bê.

Sau khi viết lá thư cho cô ấy với giọng hồi cố kỷ niệm nghe rất nhàm tai, tôi mới nhận ra mình muốn kể cho cô ấy tất cả về mình biết chừng nào – tôi đã tưởng tượng mình được chuyện trò cùng cô ấy, khuôn mặt tôi cũng nhăn, nhíu lại, tay tôi cũng làm động tác ra dấu. Tôi nghĩ về tất cả những gì tôi có thể hay nên nói với cô ta, rằng tôi đã bối rối và vất vả như thế nào với tiếng Anh, cú pháp của nó như nhấn chìm tôi, các câu văn của tôi quẫy đạp một cách vô hiệu, y như bàn tay chới với của một đứa bé sắp chết đuối; tôi muốn nói với cô ấy về bản Nỗi đam mê của Thánh Mathew của Bach; tôi muốn thổ lộ với cô ấy rằng tôi đã mong lũ nhện giăng lưới nơi tôi đang sống vì chúng là những sát thủ kinh hoàng đối với bọn gián; tôi muốn giãi bày với cô về cuộc sống thiếu những mối quan hệ, đúng hơn là thiếu sự liên lạc của tôi, với những người phụ nữ khác, về đời sống không bạn bè của dân di cư, về tờ báo Headlines News mà tôi liên tục theo dõi để xem có dòng chữ nào liên quan đến Sarajevo, về ô cửa sổ ở hướng tây của tôi, nơi tôi có thể nhìn thấy hoàng hôn buồn hiu và sân bay O’Hare phía xa xa, vào ban đêm những chuyến phi cơ hạ cánh trông như những con đom đóm mệt mỏi; tôi muốn kể cho cô ấy một hồi ức về người cha của mình không rõ vì sao cứ ám ảnh tôi: hình ảnh cha tôi đập một ổ chuột con bằng một chiếc xẻng; tôi muốn nói với cô ấy rằng gần như tất cả những gì tôi muốn nói đều chưa nói được trong thư; tôi muốn cô ấy biết cảm giác hụt hẫng của tôi, cảm giác như keo dán tem còn dính lại trong lưỡi tôi hàng giờ liền sau khi tôi thả lá thư vào trong hòm thư. Tôi đã từng tin rằng ngôn ngữ chuyển tải và chứa đựng tất cả, nhưng giờ thì không. Niềm tin đó không còn một chút nào.

Dần dần, tôi thấy quý Kevin vì hắn chưa bao giờ lộ liễu thể hiện tình cảm của mình. Hắn chỉ kể cho tôi nghe những câu chuyện. Thậm chí trong một phòng đầy người, tôi cũng hiểu những câu chuyện đó là dành cho tôi. Tôi thích hắn vì hắn rất riêng biệt. Hắn bảo đấy là “bệnh” của dân quay phim đấy, lúc nào cũng giữ một cái nhìn gián cách với thế giới này. Chúng tôi không yêu nhau, tình yêu là điều bất khả. Chẳng có ai lại yêu đương trong cái thành phố bị đoạ đày này, Chúng tôi chỉ luôn tìm hiểu về nhau mà thôi. Chúng tôi chỉ sẻ chia các câu chuyện và rồi qua sự sẻ chia ấy, các câu chuyện đó trở thành một câu chuyện. Câu chuyện đó có thể chấm dứt bất cứ lúc nào. Khi chúng tôi làm tình trong bóng tối – thành phố không có điện – cuộc ân ái trở nên khắc nghiệt và tàn bạo, như thể chúng tôi đang chiến đấu vậy, vì chúng tôi phải đánh bật niềm hoan lạc và những khoảnh khắc của tình yêu khỏi thân xác đang bị hành hạ của mình. Chúng tôi chưa bao giờ nói đến hành trình trong tương lai của hắn. Hắn có bàn chân đã chai sần từ những lần cuốc bộ qua những rặng núi ở Afghanistan.

Sau một số nghi thức tang lễ mà bởi hoàn cảnh, gia đình tôi buộc phải tiến hành theo một cách thức kỳ quặc, thi thể của dì Fatima được đưa vào buồng của tôi. Rồi căn phòng ấy nhanh chóng trở thành buồng của bà. Không ai trong chúng tôi muốn vào trong đó. Khi cần lấy một thứ gì đó từ buồng của bà – một cái khăn, một tấm chăn, môt bức ảnh – người trong nhà sẽ nói: “Nó ở trong phòng dì Fatima ấy.” Nói thế cũng có nghĩa là chịu, không thể lấy thứ đó ra được. Chúng tôi cứ hy vọng có thể chôn cất bà nhưng một tuần trôi qua, bà vẫn phải nằm lại đó, bà dì đã bốc mùi của tôi.

Hôm thứ ba, tôi có cảm giác (hay là ảo giác?) lũ gián đang bò lột nhột trên cẳng chân tôi –có lẽ tôi sẽ phát điên mất bởi nỗi cô độc và trống rỗng đang thống ngự cuộc đời tôi. Tôi có cảm giác như đang có mặt tại một rock show mà ở đó, lũ con trai và con gái lắc đầu như thể lắc trống. Tôi nghĩ những con gián đó lớn lên trong nhà tôi, tôi đã mang chúng theo về từ căn hộ của mình mà không hay biết. Ngày hôm sau, tôi nhờ Art, người trông coi nhà của tôi, giúp đỡ, anh ta đưa cho tôi mấy cái bẫy gián. Dùng cái bẫy này, lũ gián sẽ bị nhử bởi mùi xi-rô ngọt rồi sau đó sẽ bị mắc kẹt trong lớp keo dính. Nói cách khác: Art thu hút lũ côn trùng ghê tởm vào phòng rồì chính Art lại kết liễu đời những con gián.

Tôi ghét Kevin. Hắn lại mang đến một đoạn phim khác quay một vụ thảm sát khác: những con người quằn quại trong vũng máu, những đầu lâu không diện mạo, những khớp xương vương vãi, những chi tiết đại loại như vậy. Trong phim có hình ảnh một người đàn bà hai tay bị đứt lìa ra. Bạn có thể nhìn thấy phần cánh tay hãy còn gắn với cơ thể chị ta bị bầm dập, toé máu. Chị ta đang cố nhấc khối thịt đầm đìa máu trước kia từng là cánh tay của mình về máy quay của Kevin. Kevin quay cận cảnh khuôn mặt chị ta, khuôn mặt vẫn còn đầy kinh ngạc, không hề cảm thấy đau đớn, không hề cảm thấy cánh tay của mình đã mất. Đoạn quay cận cảnh này kéo dài năm phút, y như cách xử lý hình ảnh trong của lão Tarkovsky3 Tôi hỏi Kevin tại sao lại không vứt quách cái máy quay phim đi và giúp đỡ người phụ nữ đó. Hắn bảo chẳng thể làm được gì cả. Hắn là quay phim, hắn nói, và đấy là việc mà hắn phải làm, đấy cũng là cách hắn giúp người khác. Tôi bảo hắn đáng lẽ không được quay cận cảnh như thế. Hắn nói hắn không làm việc đó. Mà là cái máy quay phim của hắn, hắn chỉ cầm chiếc máy đó mà thôi. Dù sao thì tôi cũng phải cắt cảnh này ra. Tôi đưa nó vào cuộn băng Địa ngục. Không một ai xem đoạn phim đó, trừ tôi. Kevin rất biệt lập và kín đáo.

Tôi ngủ trong cái phòng trước đây vốn là studio, ngay bên cạnh phòng biên tập. Đó là một căn phòng không có cửa sổ, và dĩ nhiên như thế, dẫu người ta có nã pháo thì cũng không hề hấn gì, trừ phi họ sử dụng loại đạn xuyên bê tông. Mà họ thì lại hiếm khi chơi loại đạn này, không hiểu vì sao. Mà kể cả cái thứ đạn đó, tôi nghĩ, cũng chẳng thể làm mình chết ngay được. Nó chỉ có thể tạo ra lỗ hổng để từ đó, nhiều đạn hơn có thể xuyên qua mà thôi. Tôi thích cái chết tức thì hơn. Cái studio này có một sân khấu nhỏ dành cho mấy ca sĩ ngớ ngẩn chuyên hát nhạc dân gian hát nhép lại những ca khúc não tình đã được thu âm từ trước. Đấy là nơi mà chúng tôi nằm ngủ. Nằm trên cái sân khấu ướt đẫm những giọt nước mắt cá sấu và những giọt mồ hôi thực sự có cảm giác chẳng khác gì nằm trên một cái bè. Trong studio vẫn còn có mấy cái máy quay phim, thấu kính của chúng chúc xuống sàn nhà, dòm vào giữa những bánh xe, cứ như là ngượng nghịu, xấu hổ sao đó. Cái studio rộng thênh thang và lúc nào cũng tối mò mò. Chúng tôi thắp sáng studio bằng hai cây nến được sắp đặt một cách tính toán. Thật sự thì toà nhà này cũng có điện, do một cái máy phát điện chạy bằng dầu đã tiều tụy lắm rồi tạo ra nhưng điện chỉ được dùng để ghi hình và phát sóng. Chúng tôi lọ mọ trong trường quay cứ như là bị mù, ai cũng ghi nhớ cái studio này như một tấm bản đồ trong đầu. Chúng tôi chưa bao giờ di chuyển các máy quay phim vì sợ rằng làm thế, dễ bị va đập vào chúng và bị đau. Nhưng không hiểu sao các máy quay phim này lại cứ chắn đường chúng tôi, cứ như thể chúng lặng lẽ di chuyển sau lưng mình, tựa những bóng ma, để ghi lại hình ảnh của chúng tôi.

Tôi đã gửi thư cho cô ấy qua đường dây bí mật của Hội Chữ thập đỏ – Phải mất hàng tháng trời, đoàn xe của Hội Chữ thập đỏ mới đến được Sarajevo, và còn phải đợi lâu hơn thế, những lá thư ấy mới có thể đến được tay cô ấy. Và khi đến được tay cô ấy, những lá thư dường như đã thuộc về một thời điểm xa xôi quá, chúng như là những lá thư của ai đó, không phải của tôi, một ai đó tỉnh táo hơn – một người xa lạ không chỉ đối với cô ấy mà thực ra với cả chính bản thân tôi. Khi viết những lá thư ấy, tôi phải thừa nhận sự bất lực của mình. Rằng có một ai đó đang viết những dòng chữ đó, một ai đó đang sử dụng thân xác tôi, cầm cây bút máy Pelikan của tôi, cầm lấy bàn tay phải bị chuột rút của tôi. Bất cứ những gì tôi viết, tôi đều có cảm giác chúng không đúng, vì chỉ một hai ngày tới, điều tôi viết ra sẽ không đúng nữa, nếu không muốn nói, chỉ trong vài giây lát tới nữa thôi. Bất cứ điều gì tôi nói ra đều là dối trá hay sẽ trở thành những lời dối trá. Trên những trang thư, trên trang giấy trắng lem nhem mực, cái hiện tại u ám tụt xuống một quá khứ tang thương. Vì thế tôi muốn viết cho cô ấy về những gì cô ấy đã biết cả rồi, tôi muốn kể cho cô ấy về những cuộc chiến tranh từ thưở nào. Điều đó có thể là hèn nhát, tôi thú nhận, nhưng tôi chỉ cố tạo ra một ảo ảnh rằng đời sống của chúng ta, dẫu khoảng cách có xa xôi thế nào đi nữa, có thể vẫn đồng hiện.

Mùi xác chết vẫn bốc ra từ phòng dì Fatima, bất chấp những cố gắng của chúng tôi. Chúng tôi lấy giẻ lèn chặt những kẽ hở giữa cánh cửa và bản lề. Chúng tôi nhúng đám giẻ đó vào dấm và những thứ nước hoa vô dụng mà chúng tôi có (loại Obsession, Magie Noir). Nhưng mùi thối vẫn xộc lên – cái mùi rữa của thịt ngọt ngào và nồng nặc. Giữa một khoảnh khắc hiếm hoi và ngắn ngủi trong đêm khi tạm lắng tiếng súng đạn, gia đình tôi quyết định đẩy xác của bà qua cửa sổ sau khi mẹ tôi choàng tỉnh thét lên vì mơ thấy những con giòi lồm ngồm bò ra từ hốc mắt của chị gái mình.

Kevin và tôi, chúng tôi say sưa trong những câu chuyện hắn kể, cùng với chai whisky ngô không hiểu hắn kiếm được từ đâu. Rồi hắn thổ lộ với tôi những gì hắn xem là chuyện riêng tư: về cô bạn gái lâu năm của hắn, làm nhân viên nhà đất, ôm giấc mộng trở thành bà nghị. Cô ta đến từ một nơi có tên là White Pigeon (Bồ câu trắng), bang Michigan, cách năm mươi dặm về phía nam Kalamazoo. Trong thời gian hắn ở vùng Vịnh, cô ta để lại cho hắn một tin nhắn trong máy trả lời tự động, nói rằng cô ta muốn bỏ hắn vì hắn chỉ là “một thằng ngốc mơ mộng hão huyền và ích kỷ.” Hắn kể cho tôi nghe hắn đã nhìn mọi thứ trên đời qua nhãn quan một kẻ săn tin như thế nào. Hắn tin vào sự khách quan của ống kính. Hắn cảm thấy tự nhiên với chiếc máy quay phim của mình, bởi vì “với cái máy quay ấy, không bao giờ tôi chỉ đứng quan sát một mình”. Luôn có thêm một cặp mắt khác cùng hắn, hắn nói.

Một người bạn của tôi muốn nhờ tôi giúp cô ấy nhận dạng một số toà nhà đã bị phá huỷ ở Sarajevo; cô gửi cho tôi những tấm ảnh với hy vọng tôi có thể nhận ra những toà nhà, nhưng với khả năng của tôi, những toà nhà ấy không thể nhận dạng được. Chúng đều giống hệt nhau: trên tất cả các ngôi nhà đều những cửa sổ vỡ toang, trơ những lỗ hổng đen ngòm như thể những con mắt bị khoét, quanh toà nhà là những đống gạch vụn được vun lại, như thể những đống đổ nát này được tạo nên từ toàn bộ toà nhà; tuyệt nhiên không có người trong các bức ảnh. Cái hiện hữu trong những bức ảnh không phải là những toà nhà, chứ đừng nói đấy là những toà nhà mà có thể tôi đã có lần đi ra đi vào: cái trong bức ảnh là những gì mà ta không thấy hiện hữu trong bức ảnh –chúng ghi lại sự tận cùng của quá trình tiêu biến; chúng chụp lại hình ảnh của hư vô.

Người ta đứng xếp hàng ở điểm A, đợi đến lượt mình để chạy qua. Đến lượt bạn, bạn không thể đợi, vì đợi càng lâu thì kẻ bắn tỉa càng sẵn sàng hơn. Hơn nữa, bạn không muốn phải chia sẻ nỗi sợ hãi không nói nên lời của đám đông đang đứng chờ. Bụng bạn đau dần như thể có một trái bóng bằng thép nện đúng vào lòng. Máu hằn trên gân cổ. Hơi nóng ẩm bốc ra từ mắt. Các khớp tê đi, mức độ ngày càng tăng khi bạn đang chạy. Mồ hôi ròng ròng chảy trên má, như một dòng thác tử thần thu nhỏ dồn dập đổ xuống. Bạn không nhìn thấy một sự sống nào trải ra trước mắt bạn. Tất cả những gì bạn nhìn thấy chỉ là hai mét phía trước và những thứ nho nhỏ mà bạn có thể vấp phải. Bạn nghe thấy mọi thanh âm rất khẽ. Bàn chân bạn hất phăng những bụi bặm. Những tiếng nổ xa xa. Tiếng khóc của những người đang khiếp sợ và bị thương. Tiếng đạn bật vèo vèo. Cái chết lao xao vọng từ phía những người đằng sau bạn.

Đây là tôi giữa phế tích của thư viện. Nếu phóng đại hết cỡ bức ảnh này, bạn có thể nhìn thấy những hạt bụi lửng lơ xung quanh tôi – đấy là những tro tàn lạnh lẽo của những cuốn sách. Bức ảnh được chụp vào ngày vào cái ngày tôi được nhận một chiếc áo chống đạn. Một chiếc áo chống đạn sẽ gia tăng đáng kể cơ may sống sót của bạn (dĩ nhiên, của cả tôi nữa). Tay súng bắn tỉa phải bắn trúng vào đầu bạn thì mới giết chết được bạn. Điều này giải thích vì sao tôi lại cắt tóc ngắn đến vậy. Để làm cho đầu tôi trở nên nhỏ hơn. Có lúc tôi có cảm giác thấy mình như cô ả Joan d’Arc4, chỉ có điều trong tay tôi chằng có một đạo quân nào, cũng như chẳng có tiếng nói nào dẫn lối cho mình sất.

Ba mẹ tôi lấy khăn trải giường để liệm xác bà dì, rồi dần dần thêm từng người một vào trợ giúp, ai nấy mặt mày đều như biến dạng bởi cơn buồn nôn khủng khiếp. Tôi không thể đứng xem cảnh họ đẩy xác dì qua bục cửa sổ nhưng tôi nghe thấy tiếng rơi uỵch của cái xác. Một ý nghĩ nhen lên trong đầu tôi, dường như một câu nói từ một bộ phim nào đó vọng lại trong trí nhớ: “Thế đấy, ụỵch một cái, đời của bà dì hết phim.”

Kể từ tháng tư, tôi không nhận được một lá thư nào nữa của Aida. Bắt đầu từ đó, tôi phải sáng tác nên những lá thư của cô ấy, tôi viết những lá thư của Aida để gửi cho chính cô ấy, tôi phải mường tượng ra Aida, bởi đấy là cách duy nhất để thoát khỏi vùng bao vây và giữ mối liên hê với cô ấy. Tôi tin chắc cô ấy vẫn còn sống, tôi tin chắc rồi có một ngày, tôi sẽ nhận được cả đống thư của cô ấy liên tiêp gửi đến xếp ngay ngắn trong hòm thư của mình, tôi tin chắc ngay giờ phút này đây, cô ấy cũng đang viết những lá thư.

Cuộc chiến này, bạn ạ, đấy là công việc của đàn ông. Một hôm, tôi được nghe một chuyện đùa thế này: “Đàn bà là gì?” – “Là ‘con bướm’ thôi chứ gì đâu?” Mấy người đàn ông mặc đồng phục nguỵ trang nghĩ câu này tếu quá nên lấy báng súng nện xuống sàn nhà. Tôi thì cho là câu đùa đó nhắm vào mình. Người ta chỉ cần đàn bà chúng tôi biết yên lặng, dạng háng ra, cố mà đẻ thêm nhiều chiến binh hơn nữa và cuối cùng thì chết trong tình mẫu tử cao quý. Tôi nghĩ điều mà tôi sợ nhất bây giờ là bị cưỡng hiếp. Nếu bị một viên đạn bắn tỉa nã trúng, bạn và thân xác của bạn sẽ chết cùng một lúc. Cố nhiên, với điều kiện là bạn chết ngay, mà thường là như vậy, bởi những tay súng bắt tỉa kia đều tử tế một cách khốn kiếp. Nhưng tôi không muốn thân xác tôi bị thương tồn, bị giày vò, bị làm nhục. Tôi không muốn chứng kiến điều đó, không muốn. Tôi muốn khi chết đi, tôi sẽ mang theo thân xác mình. Bạn đã bao giờ nghe về những trại cưỡng hiếp phụ nữ?

Khi nhận công việc này, tôi chuyên ở đài truyền hình, thỉnh thoảng mới về nhà để xem liệu ba mẹ mình còn sống hay không. Thường thì chiều chủ nhật, sau khi đã phát đi những gì mà ngày thứ sáu chưa hoàn thành. Nhưng rồi tôi không về nhà theo lịch như thế nữa khi nhận ra có một tên chuyên bắn lén trong vùng chỉ chực chờ tôi là tỉa đạn. Trước khi tôi chạy, mọi thứ đều yên lặng, một vài người chạy băng qua bãi đỗ xe mà không bị trúng đạn. Khi tôi bắt đầu chạy ngang qua đó, đạn bay vù vù quanh tôi như những con ong. Hắn theo dõi tôi. Hắn biết tôi đang đi đến. Hắn đợi để chơi tôi đây. Giờ, tôi về thăm cha mẹ vào những thời điểm khác nhau, đi theo những đường khác nhau, cố gắng mỗi lần xuất hiện đều khác đi để tên thiện xạ săn người đó, mà tôi biết hắn chính là bạn trai cũ của mình, không thể nhận ra.

Đầu tôi vẫn kề trên gối, dẫu giật mình tỉnh thức, cơn ác mộng của tôi vẫn chưa bị xóa sạch. Tôi mở trừng mắt nhìn một con gián từ bếp lò bò qua sàn bếp lát gạch màu xám, rồi bò lên trên thảm. Nó bò chậm hơn một chút như thể đang bò trên cát. Nó chui xuống dưới ghế, bò chéo sang một đường, loanh quanh bên đôi dép lê tôi vẫn đi, rồi cố gắng để rúc vào cái khoảng không gian an toàn bên dưới tấm nệm mỏng của tôi. Tôi quan sát nó, nó bò hối hả, không dừng lại, cứ thẳng tiến mà bò, không chút do dự. Nó chạy từ đâu đến đây, con gián ấy? Điều gì đã vận hành cái động cơ nhỏ bé ấy? Niềm khát sống ư? Hay nỗi sợ chết? Hay một nhận thức mang tính bản năng –thậm chí có thể nói là một phản xạ – rằng có một gã thiện xạ cao thủ đang chằm chằm nhìn nó khiến nó phải bò thục mạng như vậy chăng? Chao ôi, tôi nghĩ, thế giới này mới khủng khiếp làm sao, khi mọi sinh vật đều phải sống và chết trong nỗi hãi sợ. Tôi với lấy chiếc dép trái của mình định đập con gián nhưng nó đã chui lọt xuống bên dưới tấm nệm mất rồi.

Những tên bắn tỉa cũng thường giết chó. Để cho vui. Đôi khi bọn chúng còn mở cuộc thi bắn chó, nhưng chỉ khi không có người nào đi trên đường trở thành mục tiêu của chúng mà thôi. Bắn trúng vào đầu chó chắc sẽ được nhiều điểm nhất, tôi đoán thế. Người ta có thể thường bắt gặp xác của một con chó với cái đầu nát bét, trông như một đống khoai tây nghiền vậy. Khi những tên bắn tỉa bắn chó thì đội tuần tra chống bắn tỉa tạm thời không đương đầu với chúng nữa vì mối nguy hiểm thường trực mà họ phải đối mặt trước dịch chó dại. Nếu một tay súng chưa thạo nghề, là lính mới hay bất cẩn chỉ bắn con chó bị thương thôi, con chó sẽ lồng lên điên dại, máu ứa ra, nó sẵn sàng cắn xé bất cứ cái gì để làm dịu cơn đau và nỗi sợ hãi của mình thì một trong số các nhân viên tuần tra chống bắn tỉa thậm chí có thể phải nổ súng, và như thường lệ, phải nhằm trúng đầu con chó.

Một hôm, tôi đưa Kevin đi thăm tất cả những địa điểm tôi yêu thích ở Sarajevo. Hắn mang theo máy quay. Tôi thích Kevin vì không bao giờ cần giải thích tất cả cho hắn. Hắn chỉ nhìn những gì mà người ta muốn hắn trông thấy. Hơn nữa, hắn cũng không nói rằng hắn hiểu. Bạn biết thế là được. Chằng hạn, chúng tôi đều biết những địa điểm mà chúng tôi đến trong chuyến đi của mình là kỷ niệm, nhưng đồng thời tất cả đều đang bị hủy hoại không còn gì ngoài một đống hoang phế. Chiếc máy quay phim đã ghi lại quá trình của sự tiêu biến ấy. Dạo đó, đang có một thoả thuận ngừng bắn, chính điều này làm tôi hơi hoang mang một chút. Một phần là vì sự im ắng đó thường đáng sợ hơn những tiếng đạn không ngớt quen thuộc. Một phần cũng vì tôi sợ Kevin sẽ thấy chán và bỏ đi. Tôi nghĩ đấy là lý do khiến tôi rủ hắn đi chuyến này. Hắn theo tôi cùng với chiếc máy quay phim như một cái bóng. Tôi chỉ cho hắn ngôi trường của tôi. Tôi đứng trên bục cửa sổ lớp học đã bị bắn phá và hắn chụp tôi trong tư thế đứng vẫy tay trước ống kính. Tôi đứng ở góc phố nơi Princip3 đã bắn những phát súng đi vào lịch sử. Bàn chân nhỏ bé của tôi, lúc nào cũng thế, vừa khít với hình bàn chân được chạm trên nền bê tông của ông ta. Tôi đưa hắn đến mấy quán bar nơi trước kia chúng tôi thường xuyên tới. Một vài quán đã đóng cửa – có thể do người chủ đã chết hoặc vì một lý do nào đó – còn một vài quán thì lại đầy dân chợ đen và những người đàn ông mặc đồng phục, những cây súng của họ đặt trên quầy bar trước mặt trông thật nổi bật. Tôi dẫn hắn đến công viên, giờ đây không còn một bóng cây nào – chúng đã bị chặt đốn sạch do nhu cầu về củi quá bức thiết – nơi đó, tôi đã từng ngồi cùng với mấy thằng con trai, tôi đã tìm cách để chúng nó phải sờ vào ngực mình, trong khi đó, những gã tồ đó lại quá nhát, không dám làm cái gì táo bạo hơn. Tôi đã kể lại tất cả chuyện đó trước ống kính máy quay của hắn; Kevin xoay vòng quanh tôi, hắn quỳ gối xuống như thể đang lạy lục tôi vậy. Thế rồi, tôi nói với hắn, như tôi đang nói với bạn đây, người bạn vô hình của tôi, rằng tôi đang có bầu.

Sau đó, từ chỗ cửa sổ khuất tầm mắt của bọn bắn tỉa, chúng tôi trông chừng cái khúc vải trắng, bó trong đó xác của bà dì. Chúng tôi trông chừng một khúc thịt đã mục thối như thể đang thức canh linh cữu vậy, chỉ có điều chúng tôi đang canh cho một cái gì đó khác hơn là bà dì của mình, tuy nhiên nó vẫn có một ý nghĩa quan trọng mơ hồ nào đấy. Chúng tôi thay phiên nhau, ai cũng phải nhận phiên để canh bà dì. Khi nhận phiên của mình, ba tôi thậm chí đã hỏi xem liệu mọi chuyện đối với tôi có ổn không. Tôi bảo: “Không, chẳng có cái gì sẽ ổn cả, chẳng bao giờ”. Tôi sợ sự điềm tĩnh, cho dù đấy chỉ là sự điềm tĩnh bề ngoài đi nữa, như tôi đang cố tỏ ra khi kể cho bạn nghe chuyện này. Tôi có cảm giác mình sẽ phát điên lên mất.

Trong phòng tôi, góc nào cũng có mạng nhện nhưng tôi chưa thấy một con nhện nào bao giờ. Dường như những cái mạng nhện này chỉ có một chức năng thuần tuý – chúng hiện diện đó để nhắc nhở tôi rằng tôi đang bị mắc bẫy, rằng bất cứ lúc nào, một cái răng hay một cái ngòi châm cũng có thể chích nọc độc vào cơ thể và hút kiệt máu tôi. Không gian mà tôi trú ngụ trong đó biến thành chính tôi- căn phòng này đang nói về tôi, những bức tường nhà như là những trang giấy trong một quyển sách mà ở đó, tôi là một anh hùng, một nhân vật, một ai đó.

Rồi đến phiên tôi canh xác của bà dì vào buổi sáng. Trời vừa mới rạng, tôi đã nhìn thấy một đàn chó chạy về phía chúng tôi. Trong đàn, có một con thuộc giống rottweiler, một con chó xù và mấy con chó lai. Chúng xé toạc lớp vải liệm xác bà dì. Tôi quay đầu đi nhưng không thể nào cất bước nổi. Điều duy nhất mà tôi còn nhớ lại là lúc đó tôi có cảm giác như mình đang trượt tuyết. Tôi hình dung mình như đang trượt xuống một con dốc, rất nhanh, gió táp vào hai má, tếng ván trượt quét đám tuyết nghe như tiếng sóng biển được thu âm lại với tốc độ cao. Đến khi nhìn lại, tôi không thể trông thấy nơi cái xác của bà dì nắm lại nữa. Tôi ngó nghiêng xung quanh, như muốn tìm kiếm một sự thoả hiệp nào đó. Tôi nhìn thấy con chó rottweiller lon ton chạy, miệng ngoạm một bàn tay người. Giá như lúc đó trong tay tôi có một chiêc camera, thế thì tôi không phải nhớ lại hình ảnh này nữa. Xin lỗi bạn vì tôi đã phải kể lại điểu này.

Tóc tôi đã ngả xám hết cả. Chicago như thế nào nhỉ? Hãy viết. Viết đi. Viết cho dù những lá thư của bạn có không đến được tay tôi đi nữa. Viết đi.

Tay cầm con dao một cách điệu nghệ và thực hiện một động tác chớp nhoáng, tôi chặt đứt con gián ra làm đôi: nửa phần trên của con gián vẫn cố gắng nhúc nhích thêm môt hai phân nữa, rối bắt đầu quay vòng vòng điên đảo; còn nửa sau của nó thì bất động tại một chỗ, như thể sững sờ đến chết lặng, ọc ra một cái chất lỏng nhơn nhớt tái tái.

Tôi tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên một chiếc giường đẫm máu, mình mẩy cũng đầm đìa máu me; tôi đang nằm trong một khách sạn đắt tiền mà vô vị cạnh sân bay Heathrow. Tôi đã đợi Kevin hơn một tuần mà hắn, hắn không buồn gọi điện cho tôi. Tôi đã cố tìm cách liên lạc với hắn ở Amsterdam, Paris, Atlanta, New York, Cyprus, kể cả Johannesburgh nữa. Tôi để lại cho hắn những tin nhắn và cả những lời nguyền rủa. Nhưng rồi tôi lau chùi sạch sẽ tất cả, từ cơ thể đến những đau khổ của mình. Tôi trở về Sarajevo, để lại sau lưng cả một đống khăn lau mặt và khăn trải giưởng loang lổ máu me, một quầy bar trống không, một cái ly vỡ trong buồng tắm và một cái hoá đơn chưa thanh toán, đề tên Kevin với cái địa chỉ của hắn ở Sip. Và giờ thì tôi ở đây, không có cái thai nào trong bụng cả, tôi lại mạnh mẽ như xưa nay vẫn vậy nhưng cũng chưa bao giờ buồn đến thế.

Tôi mua chiếc camera hiệu Polaroid để khám phá sự vắng mặt của mình, để xem không gian và các sự vật hiện ra như thế nào khi tôi không áp đặt sự hiện diện của mình lên chúng. Tôi bấm máy chụp nhanh tất cả – những khoảnh khắc bất động hiện hình trên lớp giấy in ảnh bóng loáng mà các cạnh bao giờ cũng thẫm tối hơn phần trung tâm, tựa hồ mọi vật đều đang dần dần bị nuốt vào hư vô. Tôi chụp lại căn hộ của mình cùng mọi thứ trong đó: đây là cái quạt trần không quay; đây là cái ghế đẩu không người ngồi; đây là tấm nệm của tôi, trông như thể có ai đó vừa rũ nó ra, đứng dậy, đây là cái buống tắm trống trơn của tôi; đây là một con gián chết khô; đây là cái ly mà nước trong ly còn nguyên, chưa ai uống; đây là đôi giày bỏ không của tôi; đây là cái T.V không ai xem, đây là một ánh sáng loé lên trong gương; đây là không-gì-cả.

Khi bạn đến B, hormone adrenaline6 trong cơ thể bạn dồn mạnh đến nỗi cảm giác sống ở bạn trở nên khó tả. Mọi thứ bạn nhìn thấy đều sáng rõ nhưng bạn không hiểu điều gì cả. Các giác quan của bạn bị quá tải đến nỗi bạn quên hết thảy trước khi kịp ghi nhận chúng. Tôi đã chạy từ A đến B cả trăm lần, cảm giác lần nào cũng vậy nhưng trước đó tôi chưa từng được trải nghiệm thứ cảm giác ấy. Tôi cho là chính tình trạng bị kích thích đẩy huyết áp tăng lên khiến người ta mất máu nhanh như vậy. Tôi đã nhìn thấy máu luênh loang ứa ra từ những tấm thân gày guộc. Một người phụ nữ cố giữ chặt lấy chiếc ví của mình trong khi đó cơ thể đang lảo đảo theo tiếng trống lắc của thần chết. Tôi nhìn thấy những dòng máu phọt ra từ những đứa trẻ đầy kinh ngạc, chúng nó trân trân nhìn bạn cứ như thể bạn vừa làm điều gì đó sai trái – chẳng hạn, bạn đã làm vỡ một lọ nước hoa đắt tiền hay một cái gì đó tương tự. Nhưng một khi đã đến được B, tất cả những điều đó biến mất hết, như thể chúng chưa hề xảy ra vậy. Bạn xốc lại bản thân và lại bước vào cuộc sống bị vây bủa của mình, lòng thấy thơ thới vui vẻ. Gạt đi mấy sợi tóc ướt bết lại trên trán, hít thở thật sâu, bạn thọc tay vào trong túi quần, ở đó bạn có thể lục thấy (mà cũng có thể không) một đồng xu vô giá trị. Vâng, một đồng xu.

Chú thích: 

1. mullah: giáo sĩ Hồi giáo

2. rottweiller: giống chó lớn, rất khoẻ, lông đen, có nguồn gốc từ Đức.

3. Tarkovsky: Tên đầy đủ là Andrei Arsenyevich Tarkovsky (1932 -1986). Đạo diễn điện ảnh, nhạc kịnh, diên viên kiêm tác giả kịch bản điện ảnh người Nga. Ông được coi là một trong những nhà làm phim tiên phong và có nhiều ảnh hưởng của nền điện ảnh Nga thời kỳ hậu Xô viết.

4. Joan D’Arc: Hay còn gọi là Jeanne d’Arc (1412-1431), nữ anh hùng của dân tộc Pháp, nữ thánh trong đạo Thiên Chúa. Joan D‘Arc tin chắc mình nhận được những thông điệp từ Chúa để trở thành người lãnh sứ mệnh giải phóng quê hương mình khỏi ách xâm lược của quân Anh trong cuộc chiến tranh Một trăm năm. Một trong những kỳ tích của Joan D’Arc là đã lãnh đạo một đội quân giải phóng vùng Orléans lúc đó đang bị quân Anh bao vây.

5. Princip: Tên đầy đủ là Gavrilo Princip (1894 -1918), người Serbi, thành viên của một tổ chức mật có tên là Bàn tay Đen, là người đã ám sát hoàng thân Áo Franz Ferdinand và vợ ông, hoàng hậu Sophie, công nương xứ Hohenberg vào ngày 28 tháng 6 năm 1914 tại Sarajevo. Vụ ám sát này được xem là hành động khơi mào cho phản ứng quân sự của Áo chống lại Serbi, dẫn đến Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Princip được xem là “Người châm ngòi cho Đại chiến thế giới thứ nhất”.

6. adrenaline: một thứ hormone được tạo ra khi con người rơi vào trạng thái hoảng loạn, giận dữ hay bị khích động, khiến cho tim đập nhanh hơn và giúp cho cơ thể chuẩn bị phản ứng lại trước sự nguy hiểm.

 

Đôi nét về tác giả

ALEKSANDAR HEMON sinh năm 1964 tại Sarajevo, Bosnia Herzegovina. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương tại đại học Sarajevo (University of Sarajevo) năm 1990. Vào thời gian ấy ông đã in một số truyện và bài báo tại Nam Tư. Năm 1992 ông đến thành phố Chicago, Hoa Kỳ và sau đó định cư tại Mỹ khi Sarajevo xảy ra biến loạn. Bắt đầu từ đó ông viết bằng tiếng Anh. Sáng tác của ông đã được in trên các tạp chí uy tín như The New Yorker, Ploughshares, Granta, Esquire. Truyện ngắn “Những hòn đảo” của ông đã được chọn vào tuyển tập The Best American Short Stories 1999 (Những truyện ngắn hay nhất nước Mỹ năm 1999). Truyện ngắn khác của ông cũng được chọn vào tuyển tập The Best American Short Stories 2000. Tập truyện đầu tiên của ông, The Question of Bruno (do nhà xuất bản Nan A. Talese/Doubleday phát hành năm 2000) đã đoạt giải John C. Zacharis First Book Award của tạp chí Ploughshares năm 2001. Cuốn thứ nhì của ông, Nowhere Man, đã được nhà Nan A. Talese/Doubleday phát hành năm 2002.

Hải Ngọc dịch

Nguyên tác: “A Coin” in trong tập truyện ngắn The Question of Bruno của Aleksandar Hemon, Nan A. Talese Doubleday, Random House, 2000.

bài đã đăng của Aleksandar Hemon


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)