Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 11, Dịch Thuật, Sang Việt ngữ Email bài này

Kế Thừa Mất Mát của Kiran Desai – tác phẩm đoạt giải Man Booker 2006


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 11.11.2006
 
Lê Đình Nhất Lang chuyển ngữ

 

                 Kế Thừa Mất Mát
                (The Inheritance of Loss)
                của Kiran Desai
                (Atlantic Monthly Press, 2006)
  
 

 

Ở Guadeloupe — nơi đó người ta có thích chúng ta không?

 

Trong cuốn Hạt Nhiệm Màu của Naipaul, người chị nói với Willie: “Chủ nghĩa đế quốc nó là vậy. Ðó là điều xảy ra cho những người bị cầm tù. Và vì ở Ấn Ðộ chúng ta không có khái niệm về lịch sử chúng ta nhanh chóng quên đi quá khứ của mình và luôn tin ở những gì chúng ta nghe nói.”

 

Thẩm Phán Jemubhai trong cuốn sách Kế Thừa Mất Mát của Kiran Desai, sẽ không phản đối. Sinh ra trong một gia đình trung lưu Patel, ông lên thuyền đi Anh năm 1939. Cảm thấy lạc lõng, và bị đối xử khinh miệt vì da, màu, mùi, ông trở về làm một giới chức ICS phục vụ cho người Anh. Lòng đầy niềm căm ghét chính mình cũng như niềm căm ghét gia đình, cộng đồng, và bất cứ người nào không phải người Anh, kể cả vợ ông, ông Thẩm Phán định cư tại Kalimpong trong một tòa nhà y như một di tích cổ nát vụn từ thời thuộc địa.

 

Vì vậy đầu óc Jemubhai đã bắt đầu lệch lạc; ông trở nên xa lạ với chính mình hơn là với những người xung quanh, thấy da mình có màu kỳ quặc, giọng nói mình lạ lùng. Ông quên mất làm sao để cười, không nhếch nổi môi trong một nụ cười, và nếu có lúc nào ông làm được, ông đưa tay lên giữ trên miệng, vì ông không dám để ai nhìn thấy lợi ông, răng ông. Chúng có vẻ riêng tư quá. Thực ra ông không muốn để bất cứ phần nào của chính mình ló ra khỏi quần áo vì sợ gây khó chịu. Ông bắt đầu tắm rửa liên miên… Cho tới cuối đời, ông không bao giờ còn xuất hiện không có giày vớ và ông luôn thích bóng tối hơn ánh sáng, ngày mờ mịt hơn ngày nắng, vì ông ngờ rằng ánh nắng sẽ phơi bày ông ra, trong vẻ gớm ghiếc của ông, quá rõ ràng.

 

Với biệt tài nói lên những chi tiết và tư tưởng sâu xa, Desai bện sức nặng của lịch sử thời thuộc địa với vết bỏng lan chậm của nỗi nhục, và tạo thành một tấm thảm phong phú đầy những nhân vật sống với những câu hỏi về căn cước và sự xa lánh, những người lưu vong trong nhà mình cũng như ở ngoài nước.

 

Câu chuyện chính nói về những kiểu mất mát mà các nhân vật phải chịu đựng. Sai, đứa cháu gái mồ côi của ông Thẩm Phán đã được đưa từ trường dòng về cho ông chăm sóc. Vì đang trốn tránh chính cuộc đời mình và không biết làm sao để trao tình yêu và hơi ấm mà cô bé khao khát, ông Thẩm Phán giao cô cho người đầu bếp. Bị nhiễm cơn thèm đi xa nhà giữa những người mà ông thấy quanh mình, người đầu bếp, đã mất vợ, cũng lại gửi con trai tên Biju đi làm việc trên một du thuyền mà rồi sẽ ký thác anh ở New York. Anh chàng người Nepal dạy kèm toán mà Sai yêu, Gyan, đã vuột khỏi tay cô khi anh bị hút vào cuộc nổi dậy ở Gorkha năm 1986. Anh tham gia hoạt động vì đại nghĩa thì chẳng bao nhiêu mà chính là để trút bớt thịnh nộ và cảm giác bị xa lánh.

 

Ðầy lòng nhân ái và tính khôi hài, Desai đã đưa vào truyện của bà những nhân vật sinh động như hai chị em Lola và Noni sùng mộ mọi thứ đến từ Anh; các nàng công chúa Afghan tị nạn; Cha Potty người Thụy Sĩ, cứ nghĩ Ấn Ðộ là quê nhà mình, nhưng bị trục xuất bằng quân lệnh khi phong trào ly khai Gorkha nổ ra; con người vô cùng đáng nhớ Saeed Saeed, kẻ đã dạy Biju tất cả những điều anh biết. Ðặc biệt là con mèo Mustafa, con chó thuần giống của ông Thẩm Phán tên Mutt — bị lạc — và nhiều con vật đa dạng khác, sống hay chết, đã xuất hiện như những trọng điểm trong câu chuyện.

 

Ở cả hai nơi, New York và Kalimpong, người Ấn Ðộ sống những cuộc đời song song, bị xung đột vì giai cấp và quốc tịch. Không thể với tới sự hoàn cầu hoá và sự thịnh vượng của một giai cấp người Ấn được ưu đãi, những người như người đầu bếp và Gyan tìm thấy vết tích của chủ nghĩa thực dân trong cảnh nghèo đói thường hằng của họ, trong sự bất công về quyền lực không thể phá vỡ. Với một giọng kể lấp lánh tình thương trước sự bất công này, Desai dẫn người đọc vào cuộc sống bên trong của giới nghèo khó, và những cuộc đời đen tối mà họ sống, bên trong xứ sở mà họ sinh ra. Lần đầu Sai nhìn thấy người đầu bếp:

 

Mãi một lúc lâu họ mới nghe thấy một tiếng còi và nhìn thấy một lồng đèn đang lại gần, và người đầu bếp đã tới, khua chân vòng kiềng trên con đường, vẫn mặt da thuộc, vẫn phong sương và bẩn thỉu, như ông ta bây giờ, cũng như ông ta mười năm sau. Một người đàn ông bị cái nghèo hành hạ đang trở thành một lão già trong đoạn băng quay nhanh tới trước. Tuổi thơ nén lại, tuổi già dai dẳng. Một thế hệ giữa ông ta và ông thẩm phán, nhưng nhìn họ ta không thể biết được. Tuổi tác nằm trong tâm tính ông ta, trong cái ấm nước, quần áo, căn bếp, giọng nói, mặt mũi, trong lớp bụi bẩn yên ổn, trong cái mùi ổn cố của cả một đời nấu nướng, khói, và dầu hôi…

 

Cô ít khi đi vào lều của người đầu bếp, và khi cô vào tìm ông, thì ông tỏ ra lúng túng và cô cũng vậy, cứ như một điều gì đó về sự gần gũi của họ cuối cùng bị phát giác ra là giả, và tình bạn của họ được soạn bởi những điều nông cạn được trình tấu trong một ngôn ngữ đứt khúc, bởi vì cô nói tiếng Anh còn ông nói tiếng Hindi. Sự đứt khúc khiến họ dễ dàng không bao giờ đi sâu, không bao giờ đi vào một điều nào đòi hỏi một ngữ vựng phức tạp, nhưng cô luôn cảm thấy thân thương khi nhìn thấy khuôn mặt như bị đan lát của ông, khi nghe thấy ông mặc cả ở chợ, cảm thấy hãnh diện rằng cô sống với con người khó khăn đến thế mà lại nói chuyện với cô bằng tấm lòng trìu mến, gọi cô là Babyji hay Saibaby.

 

Miệt mài làm việc để kiếm những đồng lương bần tiện nhất trong nhà bếp những tiệm ăn ngon của Thành Phố New York, Biju học được:
Trong những nhà bếp khác, anh học được những điều thế giới nghĩ về người Ấn Ðộ:
Ở Tanzania, nếu có thể, người ta sẽ quăng họ ra ngoài như ở Uganda.
Ở Madagascar, nếu có thể, người ta sẽ quăng họ ra ngoài.
Ở Nigeria, nếu có thể, người ta sẽ quăng họ ra ngoài.
Ở Fiji, nếu có thể, người ta sẽ quăng họ ra ngoài.
Ở Trung Hoa, người ta ghét họ.
Ở Hong Kong.
Ở Ðức.
Ở Ý.
Ở Nhật.
Ở Guam.
Ở Singapore.
Miến Ðiện.
Nam Phi.
Người ta không thích họ.
Ở Guadeloupe — nơi đó người ta có thích chúng ta không?
Không.
 
Không giống như tầng lớp người Ấn Ðộ ngày nay nổi danh nhờ thành quả kinh tế ở Mỹ, những người như Biju nhảy lò cò từ công việc tồi tệ này tới công việc khác, luôn luôn đi trước cơ quan INS nửa bước, chẳng còn hy vọng được cái, “Ôi cái thẻ xanh, cái thẻ xanh, cái…”
Trên TV:

Một tài xế taxi xuất hiện trên màn ảnh: nhờ coi những phim Mỹ sao chép lậu, anh nổi hứng đến Mỹ, nhưng làm sao đi vào dòng chính? Anh bất hợp pháp, xe taxi của anh bất hợp pháp, lớp sơn vàng bất hợp pháp, cả gia đình anh ở đây, và tất cả đàn ông trong làng anh ở đây, thâm nhập một cách hoàn hảo và làm việc bên trong hệ thống xe thuê của thành phố. Nhưng làm sao họ có giấy tờ? Có khán thính giả nào ngoài kia muốn cưới anh không? Chỉ cần một người tàn tật hay chậm phát triển trí óc nhưng có thẻ xanh là được.

Bị nhồi nhét trong những căn chung cư đầy chuột ở Harlem, đời sống của Biju là một tiết mục tung hứng và không xa mấy với cái nghèo mà cha của anh tin rằng anh đã thoát khỏi. Thêm vào đó anh mang gánh nặng của nỗi cô đơn khủng khiếp và không biết cách giải tỏa cảm giác bị xa lánh:

Tối tăm? Ðúng. U buồn? Còn phải nói. Tuyệt vọng? Không.
Giống như Naipaul, Desai làm chứng cho nỗi đau khổ của người nghèo và không có quyền lực bằng cách đưa lên một tấm gương không nao núng soi vào cuộc đời họ. Và như Naipaul, bà rót vào cuộc đời cay đắng của họ một thứ tính khôi hài mà chỉ có những người tị nạn mới có được. Những người mà bà viết về có thể bị bẻ cong nhưng họ không gãy. Dựng câu chuyện ở Kalimpong và Sikkim, với những chi tiết thính thị sắc bén và hiểu biết, Desai mô tả vẻ đẹp của phong cảnh Ấn Ðộ, cái mà sau cùng cứu họ khỏi những mất mát. Bà viết về Biju trong chiếc giường cô độc dưới tầng hầm khu Harlem:

“Anh nghĩ về làng nơi anh đã sống với bà nội bằng số tiền cha anh gửi về mỗi tháng. Ngôi làng bị chôn trong những đám cỏ bạch kim cao hơn đầu người lớn và kêu lên tiếng, shuu shuuuu, shu shuu, khi gió thổi chúng qua bên này bên kia… Những con chim ưng bắt cá bay lượn bên trên nước, đổi thế lướt ngang của chúng trong chỉ một khoảnh khắc, lao xuống, bay lên thỉnh thoảng với một cơ bắp quẫy đập bằng bạc. Một ẩn sĩ cũng sống ở bờ bên này, trong tư thế giống như một con cò, chờ đợi, chao ôi chờ đợi, ánh lấp lánh của một con khác, một con cá huyền bí khó nắm bắt: khi nó trồi lên ông phải vồ lấy ngay nếu không nó sẽ lại biến mất và không bao giờ trở lại… Khi anh tới thăm cha ở Kalimpong, họ hay ngồi ngoài trời vào những buổi tối và cha anh hồi tưởng: “Làng ta an bình biết bao. Món rôti ở đó ngon biết mấy! Ðó là vì atta được nghiền bằng tay, không phải bằng máy… và vì nó được nấu bằng choolah, ngon hơn bất cứ thứ gì nấu bằng lò ga hay dầu hôi,… Rôti tươi, bơ tươi, sữa tươi còn ấm hơi trâu…” Họ thức tới khuya. Họ không để ý tới Sai, … nhìn chăm chú từ cửa sổ phòng ngủ của cô, ghen với tình yêu người đầu bếp dành cho con trai ông. Những con dơi miệng nhỏ uống nước từ cái jhora lướt qua lướt lại trong tiếng lật phật phù thuỷ của những đôi cánh đen.

Cuốn tiểu thuyết nêu lên nhiều câu hỏi quan trọng, lớn lao. Còn những lợi nhuận của sự hoàn cầu hoá thì sao? Còn sự tôn vinh dành cho sự pha chủng, người công dân hoàn cầu, và sự nảy sinh của những ý tưởng mới? Tới điểm nào thì chủ nghĩa thực dân trở thành lời bào chữa cho chính quyền thối nát? Desai trả lời chúng bằng một giọng nhỏ nhẹ và không phải mọi câu trả lời đều đầy đủ. Nhưng chúng không bắt buộc phải đầy đủ vì chúng buộc người đọc suy nghĩ về những câu trả lời mà bà đưa ra trong một thời gian dài.

Desai đã viết một cuốn sách quan trọng.

Anh bị bỏ rơi giữa những người ngoại quốc: ông giám thị Jacinto, người đàn ông không nhà, một gã buôn lậu thuốc phiện chân cánh cung khó ưa… (Trong mùa hè) những người đàn bà to nặng xuất hiện với những cặp đùi cạo nhẵn, lấm tấm những đốm đen, và từng nhóm đàn ông xẹp lép ngồi chơi bài trên những tấm ván bấp bênh trên những thùng rác… Họ tử tế gật đầu với anh, thỉnh thoảng họ còn cho anh bia, nhưng Biju không biết nói gì với họ, ngay cả câu “Hello” nhỏ nhoi ngắn ngủi của anh cũng phát ra sai; yếu ớt quá, nên họ không nghe thấy, hoặc vừa khi họ quay đi.

Biju, nhớ nhà và nhớ cha, trở về một Kalimpong mà cuộc nổi dậy dữ dội, kéo dài hai năm, đã bỏ lại trong tình trạng sụp sổ hoàn toàn và vô chính phủ. Không có thẻ xanh, anh không biết tương lai ra sao.

 
 
 
Champa Bilwalkesh có truyện đăng ở các tạp chí Kenyon Review, India Currents, và Monsoon Magazine. Một truyện ngắn đã được đề cử cho số tạp chí Ploughshares về Những Nhà Văn Mới Nổi. Bài viết và những tiểu luận của bà đã xuất hiện ở Andover TownsmanIndia New England News. Mới đây bà vừa hoàn tất một cuốn tiểu thuyết.

bài đã đăng của Champa Bilwakesh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)