Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Thơ Email bài này

Tại một trạm xe lửa bị rớt khỏi bản đồ

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 25.03.2010

 

 

 

Mahmoud Darwish sinh năm 1941 ở Al Birweh, Palestine, trong một gia đình địa chủ Hồi giáo Sunni. Khi Quốc Gia Do Thái được thành lập năm 1948, làng ông bị phá hủy, và gia đình ông lánh sang Libăng một năm rồi bí mật trở về Do Thái.

Hồi trẻ, Darwish từng bị bắt tại nhà và từng ở tù vì hoạt động chính trị, và vì đọc thơ của mình trước công chúng. Trong thập niên 1960, ông gia nhập Rakah, tức Đảng Cộng Sản Do Thái được chính thức hoạt động. Năm 1970, ông sang Liên Xô theo học Đại Học Moscow một năm, rồi dọn sang Cairo. Ông sống lưu vong trong 26 năm, giữa Beirut và Paris, cho tới năm 1996 thì trở về Do Thái định cư tại Ramallah ở Tây Ngạn. Ông từng làm biên tập viên cho nguyệt san của Mặt Trận Giải Phóng Palestine, và giám đốc trung tâm nghiên cứu của tổ chức này.

Ông mất năm 2008 tại Houston, bang Texas của Mỹ, vì biến chứng sau một cuộc giải phẫu tim.

Darwish đã cho xuất bản khoảng 30 tập thơ và văn xuôi, và tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 20 thứ tiếng.

Năm 2000, Bộ Trưởng Giáo Dục Do Thái Yossi Sarid đề nghị đưa thơ của Mahmoud Darwish vào chương trình trung học của Do Thái, nhưng đề nghị này bị Thủ Tướng Ehud Barak bác bỏ với lý do “Do Thái chưa sẵn sàng.” Các giới chức Do Thái lại đem vấn đề này ra tranh cãi sau khi nhà thơ qua đời.

Mahmoud Darwish được xem như “hơi thở thiết yếu” của dân tộc Palestine. Ông nguyên là một nhà vần luật viết bằng tiếng Ả Rập, mặc dù ông nói thông thạo tiếng Do Thái, tiếng Pháp, và tiếng Anh. Ông không ngừng tái định nghĩa vần luật của mình để viết những bài thơ “tự do” theo một thể thức nào đó, và về sau ông thử nghiệm với việc tìm thi tính bên ngoài vần điệu. Thơ ông cũng đi từ những khẩu ngữ nặng tính đấu tranh sang những ưu tư về cuộc sống, cái đẹp, và triết lý, tuy không bao giờ xa rời chính trị.

Bài thơ “Tại một trạm xe lửa bị rớt khỏi bản đồ” viết trước khi tác giả qua đời vài tháng, được Fady Joudah dịch từ tiếng Ả Rập sang tiếng Anh. Dịch giả cho biết bản dịch tiếng Anh tái lập ngôn ngữ đối thoại thường ngày của nguyên tác tiếng Ả Rập. Đan xen vào giọng thơ như văn xuôi là những ý tưởng siêu hình đặc thù của Darwish, người từng nhận bằng tiến sĩ danh dự về triết học từ Đại Học Chile ở Santiago năm 1990.

Fady Joudah sinh năm 1971, là một nhà thơ Mỹ gốc Palestine, lớn lên tại Lybia và Ả Rập Saudi, nói tiếng Ả Rập như ngôn ngữ đầu tiên. Anh hiện sống và hành nghề bác sĩ ở Houston, Texas.

(Tham khảo: Poets.org, Wikipedia, bài phỏng vấn “A Conversation with Fady Joudah” do David Baker thực hiện trên tạp chí The Kenyon Review Hè 2009)

 

 

 

Cỏ, không khí khô, gai, và xương rồng
trên dây sắt. Có hình dạng của một vật
trong cái phù phiếm của sự không hình dạng đang nhai bóng nó . . .
một khoảng hư vô bị giới hạn . . . bao bọc bởi cái đối nghịch.
Và có hai con bồ câu đang bay lượn
trên mái một căn phòng bỏ hoang trong trạm
và cái trạm là một vết xăm đã tan
vào tấm thân của nơi chốn. Còn có hai
cây bách ốm o như hai cây kim
thêu một đám mây màu vàng chanh,
và một người đàn bà du khách đang chụp hình hai cảnh:
một mặt trời vừa mới duỗi dài trong chiếc giường biển
và một băng ghế gỗ trống chỉ có chiếc túi của người lữ khách

(Khối vàng cao ngạo trên trời chán mứa sự vững bền của chính nó)

Tôi đứng ở trạm, không phải để chờ xe lửa
hay những tình cảm giấu trong thứ mỹ học của điều ở xa,
mà để biết làm thế nào biển phát cuồng và nơi chốn đó vỡ ra
như một cái lọ sành, để biết tôi sinh ra ở đâu và tôi đã sống thế nào,
và những con chim thiên di về bắc về nam ra sao.
Có phải chút gì còn lại nơi tôi đủ
cho điều tưởng tượng không trọng lượng thắng được
sự rã nát của sự thật?
Có phải con linh dương của tôi vẫn còn mang thai?

(Chúng ta đã già. Ôi chúng ta quả đã già, và đường tới trời thì xa)

Đoàn xe lửa vẫn thường đi như một con rắn thân thiện từ Syria
qua Ai Cập. Tiếng còi của nó che giấu
tiếng be be khàn đặc của những con dê khỏi cơn đói của bầy sói.
Cứ như đây là một thời huyền thoại thuần hóa chó sói để làm bạn với ta.
Khói của nó thường vươn cao bên trên khói của những ngôi làng,
mở ra và xuất hiện như những bụi cây trong thiên nhiên.

(Cuộc sống thì trực cảm. Nhà và tim chúng ta đều để ngỏ)

Chúng ta tử tế và ngây thơ. Chúng ta nói: Đất này là đất của chúng ta
và chẳng tai họa nào từ ngoài sẽ xảy ra cho quả tim của bản đồ.
Và bầu trời rộng lượng với chúng ta. Chúng ta hầu như không nói với nhau
bằng tiếng Ả Rập cổ, trừ giờ cầu nguyện và vào những đêm thánh.
Hiện tại ru tình chúng ta: Cùng nhau chúng ta sống!
Quá khứ đùa chúng ta: Ta sẽ trở lại nếu các người cần ta!
Chúng ta tử tế và mơ mộng, chúng ta không thấy được
tương lai đánh cắp quá khứ, con mồi của nó, và bỏ đi . . .

(Có một dạo hiện tại của chúng ta thường trồng lúa mì và bí và làm ra vũ điệu wadi)

Tôi đứng ở trạm lúc hoàng hôn: Có còn hai người đàn bà
trong một người đàn bà đang đánh bóng đùi mình bằng lưỡi tầm sét?
Hai người bạn-thù huyền thoại và cặp song sinh
trên bề mặt của gió, một kẻ ve vãn tôi, và kẻ kia
gây hấn với tôi? Máu đã đổ có bao giờ bẻ gãy được
một thanh gươm nào không, để tôi có thể nói Nữ Thần đầu tiên vẫn còn trong tôi?

(Tôi tin bài hát xưa của mình cho nên tôi có thể chối bỏ thực tại của mình)

Đoàn xe lửa là một con tàu trên cạn đang cập bến . . . nó mang chúng ta tới
những thành phố hiện thực của trí tưởng tượng chúng ta bất cứ khi nào chúng ta cần
tới cuộc chơi đùa ngây thơ với số mệnh. Những cửa sổ xe lửa sở hữu
cái màu nhiệm trong cái thông thường: mọi vật chạy.
Cây cối, ý tưởng, những ngọn sóng, những tòa tháp chạy
phía sau ta. Và hương chanh chạy. Không khí và mọi
thứ khác đều chạy, và nỗi lòng hướng về
một chốn xa xôi thần bí, và quả tim, chạy.

(Mọi vật khác nhau và hòa hợp với nhau)

Tôi đứng ở trạm, tôi bị bỏ rơi như căn phòng
của người canh giờ đằng kia. Tôi là một người mất tất cả đang nhìn trừng
vào tủ quần áo của mình và tự hỏi: Có phải
trí óc đó, kho tàng đó, là của tôi? Có phải
viên đá xanh ẩm ướt này, hơi ẩm, và sương đêm này, là của tôi?
Có phải ngày nọ tôi đã là học trò của ả bướm
về sự mỏng manh, và về sự cả gan, và có phải đôi lúc tôi là bạn tình
của ả trong ẩn dụ? Có phải một trong những ngày ấy
là của tôi? Hay phải chăng trí nhớ đã ngã bệnh và lên cơn sốt?

(Tôi thấy dấu vết mình trên một hòn đá, tôi nghĩ nó là trăng của mình, và hò hát)

Thêm một phế tích nữa ắt tôi sẽ dập tắt ký ức mình trong khi đứng
ở trạm. Tôi không thích bãi cỏ vào giờ này, sự khô cằn
bị quên lãng này, vô tích sự và tiêu điều
nó viết tiểu sử của sự quên lãng trong cái chốn thất thường này.
Và tôi không thích hoa cúc trên mộ những nhà tiên tri.
Và tôi không thích cứu lấy chính mình qua ẩn dụ, ngay cả nếu
cây vĩ cầm muốn tôi là một tiếng vọng của chính tôi. Tôi chỉ thích trở lại
đời sống mình, để cho kết thúc tôi trở thành chuyện kể của khởi đầu tôi.

(Như tiếng chuông lanh lảnh, thời gian đứt đoạn ở đây)

Tôi đứng trong năm thứ sáu mươi của vết thương tôi. Tôi đứng
ở trạm, không phải để chờ đoàn xe lửa hay tiếng reo hò
của những kẻ đi từ phương nam về lại với cát
mà để ghi nhớ bờ biển ô-liu và chanh
trong lịch sử tấm bản đồ của tôi . . . có phải tất cả
sự vắng mặt này hay cái gì còn lại từ những mảnh vụn của nó là của tôi?
Có phải một bóng ma vừa vượt qua tôi, vẫy tay từ xa và biến mất?
Có phải tôi đã hỏi nó: Chúng tôi có sẽ ngả một con linh dương
cho kẻ lạ bất cứ khi nào một kẻ lạ
mỉm cười với chúng tôi và quăng cho chúng tôi một lời chào?

(Như một quả thông tiếng vọng rớt ra từ tôi)

Chỉ có trực giác của tôi dẫn dắt tôi tới chính mình.
Hai con bồ câu đào tị đẻ những quả trứng lưu đày trên vai tôi
rồi vụt lên một tầng cao nhạt nhòa. Một bà du khách đi ngang
hỏi tôi: Tôi có thể chụp hình ông để tôn trọng sự thật?
Tôi nói: Ý bà là sao?
Bà ta nói: Tôi có thể chụp hình ông
như một sự nối dài của thiên nhiên? Tôi nói: Được chứ . . . mọi chuyện
đều có thể, và hãy có một buổi tối tuyệt vời và để tôi một mình
với việc chết . . . và với chính tôi

(Ở đây sự thật có một khuôn mặt cô đơn duy nhất và đó là tại sao tôi sẽ hát)

Anh là anh, ngay cả khi anh thua. Trong quá khứ
anh và tôi là hai, và trong tương lai, một. Đoàn xe lửa đi qua
nhưng chúng ta không cảnh giác, vì vậy hãy vươn lên toàn vẹn và lạc quan,
và đừng chờ đợi ai ở đây, ngoài chính mình. Nơi đây đoàn xe lửa rớt
ra khỏi bản đồ giữa con đường dọc bờ biển. Và những ngọn lửa
rực cháy trong tim của bản đồ, rồi mùa đông
dập tắt những ngọn lửa, mặc dù mùa đông đến trễ.
Chúng ta đã già, ôi chúng ta quả đã già trước khi chúng ta có thể trở lại
với tên gọi của mình:

(Tôi nói với bất cứ người nào trông thấy tôi qua ống nhòm trên tháp canh
Tôi không thấy bạn . . . Tôi không thấy bạn)

Tôi thấy toàn bộ nơi chốn của tôi quanh tôi. Tôi thấy tôi trong đó với tất cả
chân tay và các bộ phận. Tôi thấy những cành cọ biên tập những lỗi
trong tiếng Ả Rập cổ của tôi. Tôi thấy những chùm hoa hạnh nhân,
thói quen của chúng trong việc huấn luyện bài hát của tôi cho một niềm vui
bất chợt. Tôi thấy dấu vết tôi và dò theo nó. Tôi thấy bóng tôi
và nhấc nó ra khỏi khe suối bằng chiếc lược của một người đàn bà
Canaan trong tang chế. Tôi thấy điều không thể thấy về dòng chảy
quyến rũ và cái đẹp trọn vẹn trong sự vĩnh hằng
của những ngọn đồi, và không thấy những tên bắn tỉa quanh tôi.

(Tôi trở thành khách của chính mình)

Có những người chết đốt lửa quanh mộ mình.
Có những người sống dọn bữa tối cho khách.
Có đủ từ ngữ cho ẩn dụ vươn lên
trên sự kiện. Hễ khi nào nơi này tối đi thì một mặt trăng bằng đồng
soi sáng và mở rộng nó. Tôi là khách của chính tôi.
Một sự niềm nở khiến tôi ngượng và thích thú, cho tới khi tôi mắc nghẹn
từ ngữ và từ ngữ mắc nghẹn những giọt nước mắt ngoan cố . . . và người chết,
cùng với người sống, uống thứ nước bạc hà của sự bất tử, nhưng không
nói gì nhiều về Ngày Phục Sinh

(Không có đoàn xe lửa nào ở đó, và sẽ không có ai chờ xe lửa)

Đất nước chúng ta là tim bản đồ. Trái tim bị đâm thủng của nó
như một đồng xu trong chợ phế liệu. Người hành khách cuối từ nơi nào đó
giữa Syria và Ai Cập đã không trở lại để trả tiền
cho chút công việc tên bắn tỉa làm thêm . . . như những kẻ lạ đã trông đợi.
Người hành khách cuối đã không trở lại và không mang những tờ khai tử
và khai sinh của hắn theo để những hiền giả của Ngày Phán Xét phân định
chỗ của hắn trên Thiên Đàng. Ôi chúng ta là những thiên thần và kẻ ngốc
khi chúng ta tin vào những lá cờ và những con ngựa
và rằng một cánh chim ưng sẽ nâng chúng ta lên cao

(Trời của tôi là một ý tưởng, và đất là chốn lưu đày yêu thích của tôi)

Tất cả nằm ở chỗ tôi chỉ tin ở trực giác mình.
Bằng chứng hướng dẫn cuộc trao đổi về điều bất khả. Câu chuyện
sáng thế thuộc về lời diễn giải dông dài của triết gia.
Ý tưởng của tôi về thế giới có một trục trặc
mà sự phát khởi đã gây ra. Vết thương vĩnh hằng của tôi bị xét xử
mà không có một quan tòa vô tư. Và các quan tòa, đuối sức
vì sự thật, nói với tôi: Tất cả nằm ở chỗ
tai nạn giao thông thì thường xảy ra: đoàn xe lửa rơi ra khỏi bản đồ
và anh cháy bằng than hồng của quá khứ: đây
không phải là một cuộc xâm lăng . . .

nhưng tôi nói: Tất cả nằm ở chỗ
tôi chỉ tin ở trực giác mình

(Tôi vẫn còn sống)

 

 

Theo bản dịch từ tiếng Ả Rập sang tiếng Anh của Fady Joudah, “At a Train Station That Fell Off the Map,” trong tạp chí The Kenyon Review, Mùa Hè 2009

 

 

 

.

bài đã đăng của Mahmoud Darwish

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)