- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ — Từ Thủ Pháp Đến Cảm Xúc

El Poeta (1912) – Pablo Picasso

Tuyển tập Bùi Vĩnh PhúcChữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương (NXB Nhân Ảnh, 2026), dày dặn và đồ sộ, đánh dấu một chặng đường dài trong sự nghiệp văn/thơ/phê bình văn học của một cây bút quen thuộc trong làng văn hải ngoại. Nó như một khu rừng mênh mông, đầy kỳ hoa dị thảo. Người đọc ngỡ ngàng bước vào khu rừng chữ nghĩa đó, nghe lâng lâng, dạt dào cảm hứng, và chỉ có thể chọn mỗi lần một góc rừng êm ái, ngồi xuống dưới một gốc cây có tàng lá xanh mướt, bên cạnh những vạt hoa đủ màu đủ sắc, hít thở những mùi hương vừa quen vừa lạ của chữ nghĩa và tư tưởng, của những cảm xúc rất người trong cõi sống. Tất cả những điều đó được dàn trải ra trên gần cả ngàn trang giấy. Tuyển tập ngồn ngộn chất liệu sống, được thể hiện qua những nét thăng hoa tài tình của ngôn ngữ và nghệ thuật—một tác phẩm để thưởng thức, để học hỏi và để tham khảo, nghiên cứu về văn chương và văn học hải ngoại nói riêng, cũng như văn chương và văn học Việt Nam nói chung.

Bài viết này chọn nói về Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ, bên cạnh những Bùi-Vĩnh-Phúc-Người, Bùi-Vĩnh-Phúc-Thầy, Bùi-Vĩnh-Phúc-Bạn, Bùi-Vĩnh-Phúc-Ngôn-Ngữ, Bùi-Vĩnh-Phúc-Phê-Bình-Văn-Học, Bùi-Vĩnh-Phúc-Dịch-Thuật (và còn nhiều Bùi Vĩnh Phúc nữa, xin người-đọc điền vào chỗ trống).

Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ đã dùng những thủ pháp nào trong các bài thơ của anh để truyền cảm xúc đến người-thưởng-thức-thơ?

Khi đọc một bài thơ gây cảm xúc mạnh và sâu lắng, tôi không nghĩ là mình đang đọc thơ nữa, mà đang chìm trong một mối giao hoà về tâm cảm giữa người-thơ và người-thưởng-thức-thơ. Đằng sau người thơ đó, trên tất cả, là một-người, một người đang truyền cảm xúc đến một hay nhiều người khác bằng cảm xúc của chính mình, bằng tài hoa rất mực của mình, qua hai phương tiện:

(i) Phương tiện thi ca—bao gồm âm pháp (nghệ thuật sử dụng âm, thanh, vần, điệu) và thi pháp/poetic devices) (Mỹ từ pháp/phép tu từ/figures of speech).

(ii) Phương tiện ngôn ngữ—bao gồm các thủ pháp ngôn ngữ, hay ngôn pháp/linguistic devices (cú pháp, từ pháp, âm vị pháp, hình vị pháp).

Bài viết này đề cập (rất cỡi ngựa xem hoa) về ngôn phápthi pháp trong thơ của Bùi Vĩnh Phúc, cùng những cảm xúc mà chúng đã tạo ra và được truyền từ người-thơ đến người-đọc.

Xin đặc biệt nhấn mạnh một điều: Bùi Vĩnh Phúc không cần dụng công đối với ngôn pháp hay thi pháp trong thơ của anh. Đây là cảm nhận của người-đọc về những “thủ thuật” mà nhà-thơ đã có sẵn trong “DNA”, nói theo kiểu “xuất khẩu thành thơ” hay “nói ra thơ, thở ra văn”. Nói cách khác nữa, ngôn pháp và thi pháp cảm nhận được trong thơ của anh là… hoàn toàn tự nhiên về phần của nhà-thơ.

Bàn về cảm xúc trong thi ca, nhà thơ người Anh William Wordsworth (1770-1850) có nói (tạm dịch) “Thi ca là dòng chảy lai láng tự nhiên của những cảm giác dạt dào. Nó bắt nguồn từ cảm xúc được ghi nhớ lại trong sự thinh lặng.” [1]

Cảm xúc từ Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ đã được truyền qua người-đọc-tôi như thế nào? Trên hết và trước hết, đó là một nỗi buồn… tôi phải dùng tính từ “mang mang” mới có thể tạm diễn tả được cảm giác mà cái buồn đó đem lại cho tôi, một cái buồn rất mỏng, rất nhẹ, nhưng mênh mang, nhưng thấm thía, ngùi ngùi…

Tôi nghĩ, thơ phải buồn mới hay—nói khác đi, buồn thì mới làm thơ hay, ít ai làm thơ vui, hay khi vui thì không cảm thấy cần làm thơ. Ngay cả trong những bài thơ vui, nhiều câu đọc lên cũng thấy niềm vui có một nỗi gì man mác, như đoạn cuối trong bài thơ Nghỉ Hè của nhà thơ Xuân Tâm: “Kiểm soát kỹ, có khi còn thiếu sót/Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui/Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi/Các bạn hỡi trời mai đầy ánh sáng”.

Chữ “buồn” mang thanh huyền, trong thơ thuộc thanh bằng, chính xác nữa là trầm bình thanh, nên dùng thanh bằng để chuyên chở nỗi buồn thì không còn gì thích hợp hơn. Nhất là trong một bài thơ chỉ toàn là thanh bằng—như bài Tỳ Bà của thi sĩ Bích Khê. Nhưng bài thơ toàn thanh bằng mang tựa đề Xuân Hồng, Mưa Lênh Đênh ở đây rất bùi-vĩnh-phúc. Bài thơ diễn tả một nỗi buồn rất nhẹ, nỗi buồn trong tình yêu, nỗi buồn của tuổi trẻ, rất… lênh đênh, như tựa đề đã nói. Em đi xa, nhưng vẫn còn hy vọng, vẫn mong một ngày nào em sẽ quay về. Tình yêu thời thanh xuân có thể buồn nhưng không tuyệt vọng:

từ em xa đi cho hương buồn
hồn xưa bay hoài mây muôn phương
mong em quay về như hôm nào
mưa bay hoa vàng trong chiêm bao
(Xuân hồng, mưa lênh đênh, tr. 545)

Để diễn tả nỗi trầm tư, hoang mang, đối với cuộc sống, ngược lại, Bùi Vĩnh Phúc dùng thanh trắc cho những chữ quan trọng trong câu thơ (trong cước vận). Qua đó, anh hé mở cho ta thấy tư tưởng nhuốm màu hiện sinh và triết lý của mình. Trong bốn câu mở của bài Dẫn Độ, nhà-thơ chấm dứt hai câu đầu bằng hai chữ mang thanh sắc—thuộc phù khứ thanh—nghe như một nỗi niềm khắc khoải, rồi kết thúc câu thứ tư bằng một chữ thanh nặng—thuộc trầm khứ thanh— tựa như thái độ chấp nhận một an bài. Tâm tư xuyên qua không gian và thời gian; trong đó, thiên nhiên im ắng khiến cho con người chợt chiêm nghiệm sự thinh lặng bất tư nghì của cõi tồn sinh:

Chiều trầm bóng núi vàng hiu hắt
Quạnh quẽ trần gian tia nắng tắt
Sao chiếu mông lung một đỉnh trời
Cõi đời và cõi người im bặt.
(Dẫn Độ, tr. 540)

Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ cũng dùng “giấy phép làm thơ” (tạm dịch thuật ngữ “poetic license”) rất nhiều trong các bài thơ của anh, nhất là những lúc anh “đùa” với cú pháp. Fernando Pessoa (1888-1835), nhà văn/nhà thơ Bồ Đào Nha, có nhận định về vai trò quan yếu của cú pháp trong thi ca như sau (tạm dịch): “Thiếu cú pháp thì sẽ không có được cảm xúc trường tồn. Sự bất tử tuỳ thuộc vào các nhà văn phạm.” [2] Trong trường hợp của Bùi Vĩnh Phúc—người-sáng-tạo, người-thơ—việc anh nắm vững cú pháp và làm chủ chữ nghĩa đã cho anh toàn quyền chọn sự phá bỏ cú pháp truyền thống và quy chuẩn để làm bật lên cái lạ, cái đặc biệt trong ngôn ngữ và hình tượng thơ của mình.

Bài Trăng Vỡ Anh Ra, ngay trong nhan đề đã có một sự phá cách về cú pháp hết sức táo bạo, tạo ra một hiệu ứng rất “đắc”. “Vỡ” là một tự động từ/intransitive verb, thế mà nhà-thơ đã dùng nó với một túc từ trực tiếp/direct object, và như vậy, anh đã biến nó thành một tha động từ/transitive verb. Nếu động từ trong câu này được dùng một cách bình thường, theo đúng khuôn sáo cú pháp, nó sẽ là “Trăng Làm Vỡ Anh Ra” hay “Trăng Làm Anh Vỡ Ra”, và tất nhiên, tứ thơ sẽ không được bạo liệt, tạo cảm giác mạnh đến độ nghe đau đớn như Trăng Vỡ Anh Ra. Nếu đọc được bài thơ này của Bùi Vĩnh Phúc, chắc nhà văn/nhà thơ người Ý Umberto Eco (1932-2016) sẽ rất lấy làm tâm đắc, vì chính ông đã nói (tạm dịch): “Thi ca không phải là cảm xúc mà là ngôn ngữ. Chính ngôn ngữ mới tạo ra cảm xúc.” [3]

Đi vào bài thơ, Bùi Vĩnh Phúc càng “phù phép” cấu trúc cú pháp mạnh bạo hơn. Không những đã biến “vỡ” từ một tự động từ thành một tha động từ, anh còn cho chủ từ và túc từ trực tiếp là cùng một thực thể, nghĩa là giờ đây, “vỡ” đã trở thành động từ tự phản/reflexive verb. Hình ảnh một người tự làm vỡ mình ra đã được khắc hoạ một cách độc đáo và gây một ấn tượng cùng sự rung động mạnh mẽ cho người-đọc qua cách dùng động từ phá cách rất lạ này. Đây là hai câu đầu của bài thơ có chứa “động từ phá cách” đó:

trăng đập anh ra một đêm nguyệt bạch
anh vỡ anh rồi những mảnh sáng long lanh
(Trăng vỡ anh ra, tr. 496)

Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ còn vờn cả với hình vị pháp—hay cách sử dụng một số dạng từ ngữ— vượt ra khỏi những lối mòn trong tiếng Việt nói riêng, và trong ngôn ngữ nói chung. Khi làm việc này, anh khiến người đọc thơ phải hình dung ra những hình tượng vốn quen thuộc nay trở nên mới lạ. Từ đó, người đọc bắt gặp những cảm giác và cảm xúc tân kỳ, lúc thì mạnh bạo, lúc thì êm dịu. Vô tình mà anh đã đồng điệu với Maggie Queeney, một nhà văn trẻ người Mỹ sinh ra, sống và viết ở Chicago. Cô viết (tạm dịch): “Khi tôi tuân thủ những ước lệ của một dạng từ ngữ, tôi lần ngược về hàng thế kỷ của tư duy và cảm xúc. Khi tôi mở rộng biên giới cho từ ngữ đó, tôi hình dung ra, một cách mới mẻ, không những lớp vỏ ngoài của nó mà còn cả những gì được chứa đựng bên trong.” [4]

Sự chọn lựa loại từ/classifier của Bùi Vĩnh Phúc là một ví dụ điển hình của việc mở rộng biên giới cho từ ngữ về mặt hình vị pháp. Trong bài thơ Sông Cũ, khi tả về mây, thay vì dùng những loại từ quen thuộc như “đám” hay “cụm”, Bùi Vĩnh Phúc chọn hình tượng “dải mây” trong câu thơ “Một dải mây xa rơi xuống thấp”. Chúng ta thường nghe nói “dải đất”, “dải lụa”, “dải Ngân Hà”, hay thi vị hơn chút nữa là “dải nước” trong câu thơ trong bài Trăng Hè (1939) của thi sĩ Đoàn Văn Cừ “Đom đóm bay qua dải nước đen”. Ngoài ra, cũng chính Đoàn Văn Cừ đã dùng hình ảnh “dải mây” để mở đầu bài thơ Chợ Tết (1939) của ông: “Dải mây trắng đỏ dần sau đỉnh núi” [5].

Điểm khác biệt ở đây là “dải mây” của Đoàn Văn Cừ chỉ dùng để tả cảnh suông, còn điều thú vị là từ hình vị pháp của mình, Bùi Vĩnh Phúc—ngoài việc đã tạo nên một danh ngữ/noun phrase rất tượng hình—đã đồng thời đem lại cho chúng ta một cảm giác dịu dàng, thanh thoát từ một đám mây mềm mại, ẻo lả như một dải lụa, như một vạt kỷ niệm lững lờ rớt xuống mặt sông khi con đò của người-đi-tìm-lại-dĩ-vãng đang trôi về lối cũ. Người-đọc đã đồng cảm với người-thơ, cũng thấy lòng bâng khuâng, tiếc nhớ theo.

Mặt khác, “nước” trong bài thơ này không phải là “mặt nước”, “dòng nước” hay “làn nước” một cách ước lệ, mà là “ngấn nước”. Phải chăng nhà-thơ khiến ta nhớ tới những ngấn lệ rỏ xuống âm thầm vì những hoài niệm đang xôn xao trở về theo nhịp bập bềnh của con đò xưa?

Nhưng đặc biệt hơn nữa là cú pháp của danh ngữ “ngấn nước vàng thêu”. Diễn giải/paraphrase danh ngữ này, ta có thể nói đó là “những ngấn nước phản chiếu ánh nắng chiều lóng lánh như được thêu bằng những sợi chỉ vàng”. Thế mà nhà-thơ đã tài tình tóm gọn lại bằng một cấu trúc súc tích và cô đọng. Cấu trúc danh ngữ đó được chiết tích ra như sau

[ngấnClnướcNvàngAdj thêuP.part]NP[6] 

Danh ngữ này có thứ tự từ ngữ lạ, hiếm thấy trong cú pháp tiếng Việt. “Ngấn nước vàng thêu” làm tôi ngẩn ngơ vì cấu trúc khác thường của nó. Cùng với chữ nghĩa rất chọn lọc trong đó, nhóm chữ đã tạo nên một hình ảnh óng ả, đẹp như chưa từng có thật, chẳng khác nào những kỷ niệm vàng son của một thời đã cũ, chỉ còn lại trong ký ức.

Ở một chỗ khác trong bài thơ, một lần nữa, Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ lại hoán chuyển loại từ/classifier khi nói đến trăng. Ngoài chữ “mặt trăng” mà ai cũng dùng một cách tự nhiên, các nhạc sĩ hay thi sĩ Việt Nam còn dùng nhiều loại từ khác nhau cho trăng. Chẳng hạn như Lê Thương trong bài “Thằng Cuội” có mấy câu “Các em thích cười/Muốn lên cung trăng/Cứ hỏi ông trời/Cho mượn cái thang”. Thi vị hơn chút nữa là “vầng trăng” của Nguyễn Du (“Vầng trăng ai xẻ làm đôi/Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường…”); Phạm Duy thì nói “ông trăng” (Ông trăng xuống chơi cây cau thì cau sẽ cho mo…”), còn Trịnh Công Sơn dùng chữ “con trăng” (Em đi qua chuyến đò/thấy con trăng đang nằm ngủ…”).

Trăng của Bùi Vĩnh Phúc lại là một “đoá trăng”. Ở đây, hình vị pháp của anh đã tạo ra thi pháp ẩn dụ/metaphor độc đáo. Có những ẩn dụ được gọi là “ẩn dụ chết”/dead metaphor”, vì hầu như ai cũng đã dùng nhiều quá rồi, tuy ban đầu thì lạ và hay. Trong bài thơ này, khi chọn loại từ “đoá” cho danh từ “trăng”, nhà-thơ đã tạo ra một ẩn dụ mới mẻ, lạ, vừa gợi hình, vừa gợi suy nghĩ.

Qua hình ảnh đoá trăng, người-thơ cho thấy trăng cũng chẳng khác gì hoa, cũng tàn, cũng úa. Và người-đọc cảm thấy ngậm ngùi về những mất mát, những tàn phai, những gì yêu dấu, đẹp đẽ nhất, không bao giờ tìm lại được nữa.

Xin cùng nhau đọc trọn bài thơ Sông Cũ của Bùi Vĩnh Phúc, một bức tranh thật đẹp, sâu lắng và buồn:

Đi về một khoảng sông xưa, cũ
Bóng nắng sông chiều lấp loá reo
Một dải mây xa rơi xuống thấp
Con đò trên ngấn nước vàng thêu

Thấy lại hồn ta trong cơn gió
Tan theo mưa xé. Mặt sông nhầu
Mắt người. Và đoá trăng tàn, khuyết
In giữa trời không. Một nỗi đau.
(Sông Cũ, tr. 538)

Bùi Vĩnh Phúc không những chỉ “thơ” trong thơ của anh, mà còn thơ trong cả những bài phê bình về thơ của những nhà thơ khác. Không chỉ vậy, bên cạnh chất thơ ngọt ngào, lai láng qua từng dòng chữ đẹp như gấm thêu hoa, thấp thoáng trong đó còn có nhiều hình ảnh thơ mộng quyện vào những tư tưởng uyên thâm mang đậm tính hàn lâm của người-phê-bình. Hai yếu tố đầy thi vị và học thuật này đã tạo thành một tổng thể hài hoà, khiến cho người-đọc êm ái đắm mình vào từng không gian nhỏ trong vườn hoa vô tận của nghệ thuật và tư tưởng mà người-phê-bình-thơ đã vẽ ra:

Nhắc đến Bùi Giáng, người ta hay nói về thơ của ông. Đó cũng là điều tất nhiên. Ông là một thi sĩ bát ngát, ngây thơ và cỏ hoa điên đảo. Cỏ hoa điên đảo trong cõi đời cũng như trong những cõi phi-đời và pha-đời. Còn ngây thơ và bát ngát là ở trong cõi bờ tịch lặng của triết lý uyên nguyên mà ông vẫn hằng lui tới. Thơ Bùi Giáng tràn đầy thiên nhiên hoa cỏ của một thế giới sơ đầu vẫn còn giữ mãi một hồn nguyên tiêu ẩn mật. Thơ ông đựng đầy ẩn ngữ, mật ngữ, nhưng không trì nặng mà vẫn bay lượn phiêu diêu như những cánh châu chấu chuồn chuồn ở ngoài đồng nội. […] (Tr. 389)[7]

Dù trong thơ hay trong phê bình thơ, Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ luôn tài hoa thể hiện nhiều ngôn pháp khác nhau, lắm khi còn cho ngôn pháp “giao duyên” cùng thi pháp. Kết quả của sự giao duyên đó chính là sự bật ra của cảm xúc hay tâm trạng ở nhiều cường độ và cung bậc khác nhau, được truyền miên man từ người-thơ đến người-đọc. Rất tiếc, phạm vi của bài này không cho phép người-viết đi vào chi tiết nhiều hơn nữa. Chỉ xin được mượn một nhận định của Robert Frost (1874-1963), thi sĩ người Mỹ, để minh chứng cho thành công của thơ-Bùi-Vĩnh-Phúc, đi từ thủ pháp của người-thơ đến cảm xúc của người-đọc (tạm dịch):

“Thi ca là lúc một cảm xúc tìm ra được ý tưởng của nó và ý tưởng đó đã tìm ra được ngôn từ.”[8]

Trần C. Trí
Tháng Năm, 2026

[1] Nguyên văn: “Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings: it takes its origin from emotion recollected in tranquillity.” – Trong Lời Nói Đầu của tác phẩm Lyrical Ballads, 2nd ed. 1800.

[2] Nguyên văn: “Sem sintaxe não há emoção duradoura. A imortalidade é uma função dos gramáticos.” – Trong tác phẩm Livro do Desassossego (1982) (tạm dịch “Tập Sách Của Niềm Bất An, xuất bản nhiều thập niên sau khi tác giả qua đời).

[3] Nguyên văn: “La poesia non è una questione di sentimenti, è una questione di linguaggio. È il linguaggio che crea i sentimenti.” – Trong tập Postille a Il nome della rosa (1983) (tam dịch Bạt – Tên Gọi Của Hoa Hồng).

[4] Nguyên văn: “When I adhere to the conventions of a form, I retrace centuries of thought and feeling. When I flex the boundaries of the form, I reimagine not only the container but also what can be contained.” Trích đoạn trong bài viết Teaching with Poetic Forms – Tạp chí Poetry Foundation.

[5] Xin cám ơn nhà văn Quyên Di đã giúp nhắc đến câu thơ nổi tiếng này, làm nhớ lại những giờ giảng văn êm đềm trong lớp học ngày xưa.

[6] Các ký hiệu cú pháp dùng ở đây được ghi bằng tiếng Anh theo general linguistics/ngôn ngữ học tổng quát: Cl (classifier/loại từ), N (noun/danh từ), Adj (tính từ/adjective), P. part (past participle/quá khứ phân từ) và NP (noun phrase/danh ngữ).

[7] Trong bài Bùi Giáng, bước chân đi tìm hồn nguyên tiêu và một màu hoa trên ngàn, tr. 386-411

[8] Nguyên văn: “Poetry is when an emotion has found its thought and the thought has found its words.” – Trích trong bức thư (1916) gửi bạn/nhà thơ Mỹ Louis Untermayer (1885-1977).

bài đã đăng của Trần C. Trí

1 Comment (Open | Close)

1 Comment To "Bùi-Vĩnh-Phúc-Thơ — Từ Thủ Pháp Đến Cảm Xúc"

#1 Comment By Long Nguyen On 30/05/2026 @ 8:24 pm

Bùi Vĩnh Phúc writer

Writer theo định nghĩa là người viết văn, nhà văn, tác giả. BVP viết văn trong cả hai lĩnh vực fiction và non-fiction. Mộng tưởng và thực nghiệm. Mộng tưởng ông làm thơ và viết tùy bút. Thực nghiệm ông viết khảo luận và phê bình. Dĩ nhiên, dù là trí tưởng hay sự thật, anh ta cũng sẽ viết như là một nhà văn, a writer.

Ở BVP, khía cạnh nhà văn là lối hành văn và ngôn ngữ khá tư riêng. Độc giả có thể đọc vào là biết BVP ngay. Hay còn gọi là văn phong, style. Theo tôi, điều này rất quan trọng nơi một nhà văn hay tác giả. Văn phong giống như biên nhận phẩm chất một món hàng. Văn phong cũng giống một căn nhà a single-family house riêng lẻ. Có thể căn nhà không phải là một “biệt phủ hoành tráng”, nhưng nó là một hiện hữu bắt mắt ưa nhìn mỗi khi hành nhân có dịp ngang qua.

Thơ BVP:

Bãi Mê

Trên những tán cây dòng sông diệp lục
Buổi chiều thơm mùi cỏ lá
Và hoàng hôn đã nhấp nhánh những sợi ren vàng.

Trên những dòng máu chậm chạp rời bến
Con đò nằm ẩm mục hoàng hôn
Và một vì sao tím
Nở chậm ánh lửa đêm
Vào vũng nước còn đọng lòng đò.

Trên mái nhà kỷ niệm của một người
Mây vẫn bay lờ lững. Màu khói nhạt. Buổi chiều.
Và đoá hoa mùa thu ngày đó
Vẫn thao thiết. Bập bềnh tiếng gió đêm.

Trong dòng mưa gió lật
Mùi hạnh cũ trở về
Những mầu hoa xa khuất
Tưởng tàn trong tiếng khuya
Vẫn bay bay theo gió
Những lục, hồng, vàng, tím, đen, nâu
Nhoè mờ và sắc nét
Còn bập bềnh nhịp nhàng tha thiết bãi bờ mê.

2017

BVP

https://damau.org/48208/dan-do-6-bai-tho-khac