Chuyện lòng dài thế kỷ
Chỉ dám một lần thư
Tuệ Quang
Hồi còn cắp sách đến trường, những năm cuối tiểu học và đầu trung học, tôi mê đọc vô cùng. Mê đọc chứ không phải mê “đọc sách” – chữ “đọc sách” nghe quá trịnh trọng và lớn lao, vượt ra khỏi tầm hiểu biết của mớ tuổi bé con của tôi. Thời đó đã có chiến tranh, sách vở thiếu thốn, vồ được cuốn nào là ngốn ngấu cuốn ấy, không phân biệt, không chọn lựa. Những cuốn sách cũ của ông chú có nhiều cuốn mất khúc đầu thì tôi đọc khúc đuôi, mất khúc đuôi thì đọc khúc đầu, mất cả đầu đuôi thì đọc khúc giữa. Trang mất trang còn cũng không sao, đọc tuốt.
Sau này, những năm tháng đầu tiên trong tù cải tạo, ngày nào cũng bị nhồi nhét những lý thuyết và chủ nghĩa lỗi thời, khuôn sáo, rỗng tuếch. Thế là nhặt được một trang giấy nào, hay ngay cả những mảnh giấy ố vàng rách rưới nhỏ bằng vài ngón tay – xin lỗi – tức là giấy “vệ sinh” sau khi dùng đi cầu đã khô, nằm một nơi nào đó cạnh hầm cầu lộ thiên, hễ có vài hàng chữ cũ là tôi phủi phủi rồi banh ra đọc một cách say sưa. Hàng chữ cũ? Vâng, tức là những hàng chữ từ những tờ báo, những trang sách “Ngụy” cũ, bị xé rời làm giấy gói thức ăn mà vợ con người tù đi thăm nuôi mang đến. Và trạm chót của những tờ giấy ấy là giấy “vệ sinh”. Quý giá vô cùng. Hơn hẳn lá tươi hoặc lá khô. Hoặc túng quá, moi đất cục lên mà xài.
Trở lại chuyện hồi bé, tôi đọc những gì nhỉ? Nào La Bính Hoa (không nhớ tác giả) ngày nào cũng đi ăn xin về nuôi mẹ già, nhờ có hiếu nên sau gặp được ân sư mà trở thành tay kiếm sĩ vô địch; nào Hồng Gia Nữ Hiệp (cũng không nhớ tác giả) võ công trác tuyệt và đẹp như tiên nga, lại “thầm yêu trộm nhớ” chàng Bách Tường Vân; nào Nhà Sư Thọt, của Phạm Cao Củng, ôm kín một cuộc đời bí ẩn một đêm bị bức bách đành phải vượt hàng rào đánh mất chiếc ba-toong, và từ chiếc ba-toong ấy Kỳ Phát tìm ra án mạng; nào chú tiểu Lan, Hồn Bướm Mơ Tiên, của Khái Hưng, trong bộ nâu sồng “dịu dàng bẽn lẽn” ngồi thẫn thờ một mình trong vườn sắn cao quá đầu người nghe tiếng chim gù mà nhớ anh chàng Ngọc đã đột ngột bỏ về Hà Nội; nào Trọng Khang, Trường Đời, của Lê Văn Trương, nét mặt “phong trần” có một bè gỗ lớn bị nước lũ cuốn mất bèn đi đánh bạc để gỡ gạc, lại xui xẻo thua nhẵn cả túi tiền. Thế nhưng vẫn làm lại cuộc đời bằng hai bàn tay trắng v.v.
Ðó là văn xuôi, tiểu thuyết.
Còn thơ thì may thay, một đứa học cùng lớp có cuốn Thi Nhân Việt Nam đã nhàu nát và mất nhiều trang của Hoài Thanh mà nó quý như vàng. Những đứa khác, trong đó có tôi, năn nỉ mượn rồi chuyền tay nhau chép lại gần trọn cả cuốn thơ vào những tập giấy học trò, rồi đọc lui đọc tới đến thuộc lòng nhiều bài mình thích. Lời bình bay bướm, hay ho, và đầy khám phá của Hoài Thanh, Hoài Chân, cùng những bài thơ rất lãng mạn trong cuốn sách ấy sao mà hồi đó có sức lôi cuốn chúng tôi đến thế!
Nhưng dù văn hay thơ đều nói đến những tình huống kỳ lạ, bay bổng, tha hồ đưa trí tưởng tượng của bọn chúng tôi đi lang thang thật xa. Để khi nhìn lại cuộc sống thường ngày của mình, thấy nó gò bó, nghèo nàn, và chật chội quá chừng. Càng đọc lung tung, càng mơ ước viển vông, càng thất vọng. Rồi bắt chước buồn cái buồn của các thi sĩ – Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.
Một lần, tôi gặp được mấy câu thơ của Tế Hanh:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Ðón chuyến tàu đi, đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa
…
Vào thời gian ấy, tôi cho đó là những câu thơ hay tuyệt, và nhất là nó đã vẽ ra cái khung cảnh gần gũi nằm trong tầm tay của mình. Mình cũng có những ngày nghỉ học; nhà mình ở cũng gần nhà ga.
Số là như thế này. Một buổi sáng nghỉ học, thằng bé 12, 13 tuổi là tôi đạp xe đạp ra ga xe lửa Huế để thử tìm kiếm cái cảm giác được mô tả trong bài thơ nói trên. Xe lửa tới, rồi xe lửa đi, hành khách lên, rồi hành khách xuống, mà thằng bé chỉ có cảm giác hụt hẫng mà thôi. Nó chẳng kiếm đâu cho ra một thứ gì thơ mộng hoặc làm cho nó “lòng buồn đau xót”. Lòng nó trống rỗng. Nó ngơ ngáo, ngượng nghịu, ngó quanh. Người ta tò mò nhìn nó. Nó chột dạ. Rồi mặt nó đỏ lên như ăn vụng bị bắt gặp.
Nó định bụng đứng lì thêm một chốc nữa thôi, để làm gì nó cũng không biết. Nhưng rủi thay, người lính gác từ xa lù lù đi tới vẻ mặt đầy nghi ngờ, có lẽ nghĩ nó là kẻ gian. Cho nên nó vội nhảy lên xe đạp một mạch không quay đầu nhìn lại, nhưng cái lưng nó vẫn cảm thấy nhột nhạt vì những cái nhìn đuổi theo chế giễu. Nó chắc mẩm rằng mọi người đều chú ý đến cái cử chỉ “quái chiêu” của nó.
Từ đó, ngoài những lần buộc lòng phải đi đâu bằng hỏa xa, thật ra nó cũng ít có dịp đi xe lửa, nó không còn dại dột mò tới những nhà ga để mộng mơ, để xem người ta chia tay, tiễn biệt.
Bây giờ sống trên đất Mỹ này, nhiều dịp đến những phi trường, những sân ga, hoặc những bến xe đi xuyên bang, có khi nhớ lại bài thơ ấy của Tế Hanh, tôi chỉ thấy gợn lên trong lòng một chút cảm giác mơ hồ như mặt nước ao tù phẳng lặng bỗng chạm phải một chiếc lá khô vừa rơi xuống. Một vòng tròn cảm xúc nhỏ lan ra thành vài ba vòng tròn đồng tâm rồi biến đi nhanh trước khi chiếc lá nằm yên trên mặt nước.
Nhưng hôm nay khác. Tôi đến đây không phải để tình cờ chứng kiến những cuộc chia ly. Tôi đến để tiễn đưa. Và bàn tay vẫy vẫy, và khuôn mặt thân yêu trong toa xe lửa ngoảnh lại nhìn, rồi xa dần, rồi chìm khuất sau mấy tòa nhà khô cứng, sau mấy ngọn cây đu đưa khi cơn mưa chốc chốc bay tới, để lại tôi với Hưng đứng trên sân ga nhìn theo.
Tôi bắt tay Hưng, bảo có việc cần qua khu vực dành cho xe bus chạy liên bang. Không phải vì tôi muốn tránh xa anh chàng chải chuốt này, mà vì tôi muốn ngồi nán lại nơi đây trong một thời gian nào đó.
Lòng tôi nặng trĩu.
*
Người đàn bà ngần ngại nhìn tôi, mỉm cười, và hỏi:
“Xin lỗi ông, mấy giờ rồi, thưa ông?”
Tôi lấy kính từ túi áo ra đeo, vén ống tay áo lên. Người đàn bà vội xua tay:
“Thôi khỏi phiền ông. Kia kìa, có cái đồng hồ treo tường ở cuối hành lang. Nào, xem nào. 9 giờ 20! Chết tôi rồi! Xe tôi đi đã khởi hành lúc 9 giờ. Chết tôi rồi!”
Tôi kín đáo quan sát người đàn bà. Thiếu phụ khoảng tuổi 40 đến 45, thân hình cân đối, hơi gầy, mặt có nét buồn nhưng thanh tú, giọng nói ấm áp, nụ cười tươi. Tóm lại, đẹp và có duyên. Chỉ có đôi mắt là lạ lùng. Tôi chưa hề thấy nụ cười tươi sáng đi theo với cặp mắt tối tăm, hoặc dửng dưng, như ở người đàn bà này.
Tôi trấn an:
“Không sao đâu cô. Có thể có hai chuyến xe mỗi ngày. Trễ chuyến thứ nhất thì đi chuyến thứ nhì. Vậy cô đi đâu nào? Ðể tôi xem thử có chuyến buổi chiều cho cô hay không.”
Thiếu phụ chăm chú nhìn tôi, thoáng một chút bỡ ngỡ, nhưng nỗi lo lắng vẫn hiện rõ trên đôi mắt:
“Tôi đi Green River, tiểu bang … gì tôi quên mất. Nhưng tôi sẽ nhớ lại ngay. Vâng, U Ta. Lần đầu tiên tôi đi xa một mình. Tiếng Anh tiếng u tôi không biết. Phiền ông hỏi hộ cho tôi xem có chuyến buổi chiều không ông nhé. Hôm nay mà không đi được, tôi sẽ không biết xoay xở ra làm sao cả. Khổ cho tôi quá! Ông giúp tôi nhé, thưa ông.”
Tôi khẽ gật đầu và đến quầy bán vé đứng nối đuôi chờ. Hành khách đông đảo, phần lớn nói tiếng Tây Ban Nha. Không có người Việt nào cả ngoài người đàn bà đó và tôi. Tôi phải chờ đến hơn 15 phút mới sắp đến lượt mình được tiếp. Vừa quay người lại, tôi đã thấy thiếu phụ đứng ngay sau lưng tôi, nét lo lắng hiện rõ trên đôi mắt đen và u ám. Thiếu phụ ấp úng:
“Ông Mễ bán vé đó nói tiếng Mễ phải không ông? Ông có biết tiếng Mễ không? Làm sao bây giờ!”
“Không sao cả. Thấy cái mặt của tôi là họ chuyển qua nói tiếng Anh ngay. Tiếc là họ không nói được tiếng Việt để có thể nói chuyện thẳng với cô. Những người làm việc ở đây nói thạo cả tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha.”
Tôi quay qua hỏi người bán vé, được trả lời không có chuyến xe nào đi Green River cả. Rời khỏi quầy bán vé, tôi ái ngại nhìn người đàn bà và cho cô ta biết điều đó. Thiếu phụ vội vã tiếp lời:
“Khổ thân tôi quá! Lúc nẫy tôi quên bẵng không chịu nói cho rõ ràng, thưa ông. Xin lỗi ông. Tôi cũng biết rằng không có xe đi Green River, nhưng người nhà tôi có dặn cứ đến Salt Lake City, chờ ở đấy, rồi xe nhà sẽ đến đón về. Vậy phiền ông một lần nữa nhé. Nhờ ông hỏi xem còn chuyến đi Salt Lake City vào buổi chiều hay không. Làm phiền ông nhiều quá, tôi vô cùng áy náy, thưa ông.”
A, cái cô này ăn nói lễ phép một cách quá đáng, nhưng bù lại, giọng nói nghe hay quá, khiến tôi cũng muốn bắt chuyện để được nghe thêm. Tôi vốn thích nghe giọng nói của phái nữ.
Salt Lake City, tôi có đến một lần. Ðó là thành phố thủ phủ của tiểu bang Utah, nằm gần cái hồ rộng mênh mông, hơn 500 ngàn mẫu tây, cao hơn một cây số so với mực nước biển, và nước hồ mặn chát, mặn gấp ba, gấp bốn lần nước biển, mặn đến nổi cá không sinh sống nổi. Chỉ có một loại tôm vỏ cứng nhỏ tí tẹo, màu đỏ hồng, nhỏ bằng đầu cây tăm xỉa răng và dài cũng chỉ bằng một lóng tay thôi, là có thể sống tại cái hồ đó. Nhờ có loại tôm tí hon ấy mà bầu trời của vùng hồ nước mặn và những thành phố lân cận sinh động hẳn lên vào mùa xuân và mùa thu.
Tôi nói lên chi tiết đó. Người đàn bà trố mắt nhìn, có lẽ nghĩ tôi có tính ưa đùa cợt, khẽ đáp:
“Tôm sống dưới nước mà làm vui cho bầu trời! Sao lại có chuyện lạ thế, thưa ông.”
“Nhưng tôi chưa nói hết mà. Vâng, những loài chim di điểu ở miền bắc nước Mỹ, ở Canada, ở gần miền Bắc cực, từ cuối mùa thu đã lo bay về nam tránh cái rét của mùa đông trên đó. Bay cao và xa lắm, hàng ngàn dặm, hàng chục ngàn con, thường ghé lại vùng hồ ấy cho đôi cánh được nghỉ ngơi năm bảy tiếng đồng hồ. Vâng, trước khi tiếp tục chuyến bay rất xa xôi đó, chúng sà xuống mặt hồ săn đuổi những con tôm bé nhỏ đang lặn lội nhởn nhơ, gọi là kiếm chút thức ăn độ đường. (Tôi có lần đi chơi lội xuống cái hồ ấy. Đi xa bờ hồ khoảng nửa cây số, mực nước vẫn chỉ lên đến ngang thắt lưng. Những con tôm nhỏ liền bơi đến rỉa rỉa vào tay chân, vào thân hình, nhột nhạt).
“Ðến mùa xuân ấm áp năm sau, những đàn chim năm ngoái lại bay về quê cũ –– có nhiều con chim bay về đúng tổ của nó trên một lùm cây, một hốc đá, hay một gác chuông giáo đường nào đó – lại ghé xuống mặt hồ. Cả mấy vùng quanh đấy lại sinh động hẳn lên. Năm nào cũng thế, từ xa xưa cho đến bây giờ”.
Nói xong, tôi cười thầm. Thế ra mình đã bị lây cái lối nói kiểu cách, lựa lời của thiếu phụ. Tuy nhiên, con gái Bắc kiểu cách một cách thật duyên dáng, mình đâu bắt chước nổi, tôi thầm bảo.
Cái thành phố Salt Lake City khá lớn này hẳn nhiên được vài ba chuyến xe buýt xuyên bang phục vụ mỗi ngày, tôi nghĩ thế, nhưng tôi cũng đến người bán vé hỏi lại cho chắc. Ðúng vậy, có hai chuyến xe buýt Grey Hound đi từ Santa Ana đến Salt Lake City, một sáng một chiều. Thật ra, hai chuyến đó đi từ cực nam của Cali, tức là thành phố San Diego, rồi ghé Santa Ana lấy thêm hành khách.
Lỡ đã mua vé chuyến buổi sáng, đến trễ, chỉ việc đóng thêm tiền phạt mười phần trăm để đi chuyến chiều, khởi hành lúc 4 giờ.
Ðược biết như thế, thiếu phụ mừng rối rít, đưa bàn tay trái vuốt lại mái tóc đổ xuống che một phần của vầng trán, và vui vẻ nói:
“Thật là may mắn cho tôi! Nhất là may mắn đã gặp được ông nơi đây, ông sẵn sàng giúp đỡ. Nếu không, tôi chết mất. Tôi nói thật đấy.”
Giọng Bắc du dương. Người đàn bà lại cười nói một cách hồn nhiên, khiến tôi cũng thấy vui vui trong lòng. Tôi gợi chuyện tiếp:
“Mà này cô, Green River? Nghe hay quá. Green Field, Cánh Ðồng Xanh, thì tôi biết. Đó là tên một bài hát nổi tiếng một thời. Nhưng thị trấn ấy tên Green River? Hẳn là có một dòng sông xanh trôi qua? Cô khéo chọn chỗ ở đấy nhỉ?”
Thiếu phụ mở to mắt nhìn tôi, ngạc nhiên:
“Tôi có kén chọn gì đâu! Nếu tôi được quyền chọn, chắc chắn tôi sẽ xin định cư miền Nam Cali. Ông mới là người khéo chọn!”
Tôi ậm à:
“Thế sao? Vậy tôi đã dứt khoát chọn nơi nào để sinh sống trên nước Mỹ mênh mông này?”
“Tôi đoán ông sống ở đây. Ấm áp, nhiều người mình quá, vui quá, ông nhỉ? Ði trên các đường phố Nam Cali mà cứ ngỡ đang đi bát phố Sài Gòn những chiều Thứ Bảy, những sáng Chủ Nhật. Ông có cảm thấy như thế không, thưa ông?”
“Tôi cũng chỉ là người tị nạn mới đến ở tạm nơi này thôi. Có thể trong một ngày không xa, tôi sẽ theo, theo… sẽ lên miền Đông Bắc. Cho nên cô bảo tôi là người vùng này e không đúng lắm.” Ngẫm nghĩ. “Nhưng thật ra ở đâu quen đấy, hay đúng hơn, đầu lạ sau quen. Vui buồn còn tùy. Này cô, ta hãy trở lại câu tôi hỏi cô lúc nãy nhé. Vùng cô ở chắc có con sông xanh, Green River?”
Người đàn bà chau mày:
“Ông nói làm tôi phải cố nhớ lại xem dòng sông ấy có xanh hay không. Và con sông vùng tôi ở có phải là sông Green River hay không, tôi cũng không biết nữa. Ðường sá, xóm giềng, trường học, vườn hoa, chợ búa, tôi còn không biết tên, huống là tên một dòng sông. Nhưng hình như con sông nào cũng thế thôi, lúc đầy lúc vơi, lúc vui lúc buồn, lúc trong lúc đục. Làm gì có con sông xanh mãi!”
Tôi định nói có chứ, sông Hương đấy. Nhưng nghĩ không phải lúc để tranh luận dài dòng. Vả lại, tôi cũng không hẳn đúng. Sông Hương mùa lụt nước bạc trắng và lạnh buốt chứ đâu còn trong xanh và mát rượi như vào những mùa khác. Còn nhớ câu nói dân gian, “Nước sông Hương, mùa lụt lạnh thấu xương”. Hay là, như lời người đàn bà thương chồng, “Nước lạnh như đồng, khổ lắm chồng tui”. Và khi nước nguồn đổ về trong những cơn lụt lớn, thì con sông đó cũng đục ngầu.
Hai ba người đàn bà Mễ Tây Cơ hay Nam Mỹ con cái đùm đề ì à ì ạch khiêng những cái túi nặng nề từ xe hơi đến, để ngay trước mặt chúng tôi, rồi quày quả chạy tới quầy bán vé. Tôi đề nghị:
“Ði chuyến sau, 4 giờ chiều mới có xe, nên cô còn nhiều thì giờ lắm. Hay là ta hãy dời hành lý đến hàng ghế cuối ngồi cho rộng rãi, yên tĩnh? Lúc nào ở quầy bán vé thấy bớt người, tôi trở lại đó đổi vé cho cô nhé.”
Thiếu phụ vui vẻ gật đầu. Tôi khệ nệ, khập khiễng – chân tôi bị tật – xách giùm một cái túi của thiếu phụ, còn thiếu phụ thì tay xách cái bị nhỏ lẳng lặng theo sau. Ðến hàng ghế cuối, trước khi đặt túi xách xuống đất, tôi đứng chờ xem thiếu phụ muốn ngồi băng ghế nào. Bắt gặp thiếu phụ cười lặng lẽ, đôi mắt là lạ như có pha chút giễu cợt. Tôi thầm nghĩ ngay rằng có lẽ cô này thấy mình đi khập khiễng mà còn ra tay hào hiệp nịnh đầm xách giùm cái túi khá nặng. Thiếu phụ đổi sắc mặt, vội nói:
“Cám ơn ông. Ông còn phải trở lại chỗ cũ mang hành lý của ông đến đây nữa chứ. Ông mải lo giúp tôi lại quên cả hành lý của chính ông rồi!”
“Tôi không có hành lý. Sáng nay tôi đi tiễn đưa một người thân ở tòa nhà bên kia, tòa nhà dành cho xe lửa. Xe chạy rồi. Người ta đã đi rồi. Tôi không muốn về nhà ngay, qua bên này định ngồi đây thêm một chốc… thì gặp cô.”
Tôi có thói quen mỗi lần tiễn đưa một người thân, rất thân, đi xa, tôi ngồi lại nơi chia tay trong một thời gian dài ngắn tùy tâm trạng lúc ấy.
Thiếu phụ cúi mặt cười tủm tỉm:
“À ra thế. Thế mà tôi cứ tưởng… tôi cứ ngỡ là ông cũng sắp đi xuyên bang… như tôi. Vâng, đúng thế, sau khi tiễn đưa, ta nên ngồi nán lại một chốc.”
Tôi nghĩ thầm phải chăng cô này đọc được ý nghĩ của mình. Nhưng tôi cũng vờ hỏi:
“Ðể làm gì vậy?”
Thiếu phụ nở một nụ cười thật duyên dáng:
“Ðể giữ lại một chút dư vang.”
Lúc còn nhỏ, chưa xong trung học đệ nhất cấp, tôi đã yêu. Tôi giấu kín chuyện lòng của mình, không dám san sẻ với ai một lời kể cả với người tôi yêu. Trẻ con mà bày đặt yêu với thương, nghe chướng tai quá! Nhưng tôi cứ yêu, biết làm sao được. Một mùa hè, tôi đến nhà em học. Em? Bây giờ nhớ lại, hồi đó tôi đâu dám gọi em là em. Anh cả của em đi học xa, Sài Gòn Hà Nội gì đó, người anh thứ hai học trên tôi nhiều lớp, mở lớp dạy kèm môn toán và tiếng Pháp.
Thỉnh thoảng em ghé tạt qua lớp học mang nước trà cho anh của em uống, có khi mang đến nào đào tiên, nào ổi, nào khế ngọt, nào dâu vừa mới hái ngoài vườn, đem vào cho đám học sinh háu ăn háu đói là chúng tôi.
Chưa bao giờ tôi nghe em nói một lời. Em chỉ nhìn qua chúng tôi, con mắt to, đen, sáng long lanh, nhìn mà có lẽ không thấy ai, nhìn chung chung chứ không nhìn hẳn vào một người nào. Và cuối cùng cười chung với mọi người để giã từ, nụ cười không phát ra thành tiếng, chúm chím như cánh đóa hoa hồng mới nụ trên khuôn mặt trắng xanh, gầy gầy, lạnh lùng. Em xinh đẹp và xa xôi quá!
Vâng, nước da em trắng xanh, có lẽ em biết thế, cho nên em thường mặc chiếc quần dài đen, áo bà ba đen ngắn tay, làm nổi bật khuôn mặt hơi gầy và hai cánh tay trần. Em trông rất đơn sơ, thiếu thốn, những năm toàn dân đói khổ, loạn lạc ấy. Em là của màu đen và màu trắng. Tóc đen mượt, mắt đen nhánh, quần áo đen dịu dàng, chỉ để lộ khuôn mặt trắng và hai cánh tay trần như hai cành non. Và hàm răng nữa chứ, những chiếc răng trắng như hạt bắp nếp nhỏ sắp đều đặn cạnh nhau.
Vào lớp học, em mang vào tất cả ánh sáng của trời đất, của khu vườn có nhiều trái chín ngoài kia, thơm tho. Mùa hè là mùa trái chín mà. Rồi em quay người lặng lẽ đi không nói một lời. Phòng học bỗng hoang vắng, tôi cảm thấy. Trong lòng lũ bạn học trẻ con của tôi có nhen nhúm một thứ tình cảm nào đối với cô bé này hay không, có lẽ không, nhưng riêng tôi thì khác hẳn. Lòng tôi cứ vấn vương mãi.
Rồi một hôm tôi như người bị hút hồn khi em vô tình hay cố ý đến gần tôi và chỉ cho tôi thấy trên bàn tay em một trái ổi sẻ khá lớn và nói khẽ, “Trái này ngọt lắm đó, có dấu chim mổ.” Nói xong, em đem đến đặt lên trên góc bàn của anh của em. Thế thôi. Em ra khỏi phòng, không nhìn lại tôi, trong khi tôi kín đáo nhìn theo em, trong đầu âm vang mấy tiếng nói khe khẽ của em. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng em nói, như nghe một điệu nhạc.
Từ đó, tôi không thể nào tập trung vào việc hoc hành. Nhưng lẽ tất nhiên tôi cũng không bao giờ vắng mặt một buổi học nào cả. Ngồi trong lớp học mà tâm trí luôn luôn đi ra ngoài lớp, mong ngóng hình dáng của em.
Mùa hè năm đó của tôi chập chờn trôi qua như một giấc mộng.
Hết hè, mọi người nao nức trở lại trường cũ, lòng không chút vướng bận lớp học tại nhà em.
Nhưng riêng tôi, cứ mỗi buổi chiều đi học về, tôi kiếm một cái cớ nào đó để đi qua ngôi nhà ấy. Mình đi đến xóm của em xem thử cái tổ chim ròng rọc nằm vắt vẻo trên cây tre lá ngà cao nhất có còn đó không. Xem mấy đoá hoa dâm bụt lấp ló trong hàng dậu trước nhà em hôm qua còn búp nay đã nở chưa. Xem con đường xóm hôm ấy có vắng teo như mọi hôm khác hay không. May quá, xóm cuả em hai bên lối đi là những hàng rào tre trúc cao và rậm, bao giờ cũng vắng người. Tôi khỏi sợ bị ai bắt gặp. Cố xem từ ngôi nhà cổ kính ấy có ai đi ra đi vào. Ít khi tôi thấy em!
Cứ thế, tôi đi lui đi tới con xóm đó nhiều lần mỗi chiều, nghe tiếng chó sủa nối nhau từ nhà này qua nhà khác theo bước chân của tôi, nghe quả tim tôi đập mạnh hơn, xôn xao, bồi hồi. Họa hoằn lắm mới được gặp em. Thế mà khi gặp, tôi làm ra vẻ lơ đễnh, thờ ơ. Làm như tình cờ đi qua đây. Nhìn em tôi cười ngượng ngập, không biết nói gì, không dám nói gì. Em ngạc nhiên, có pha chút vui mừng thì phải, mỉm cười, hai con mắt đen nhánh trong veo, dịu dàng, nhìn lại tôi. Tôi càng lúng túng, nói ấp úng những gì tôi không hiểu nổi. Rồi tôi vội từ giã, đi nhanh như có việc gì gấp rút cần giải quyết ngay. Em im lặng nhìn theo.
Tôi về nhà ngẩn ngơ suốt buổi tối hôm đó và nhiều hôm sau. Và bắt đầu biết buồn là gì, nỗi buồn ray rứt, quấn quýt, vướng vít không rời. Tôi tự hỏi yêu phải chăng là buồn rầu, là đau khổ?
Một loạt bảy tám người đẩy cửa kính đi vào, kẻ ba-lô, người kéo theo va-li có bánh xe lăn. Thiếu phụ thì thầm hỏi:
“Người Mễ ở đây đông quá ông nhỉ?”
“Ðúng thế. Vùng Ca-li này ngày xưa của Mễ Tây Cơ, sau bán cho Mỹ. Hay Mỹ chiếm từ Tây Ban Nha, tôi không rõ. Nhưng không phải tất cả mấy người đó đều là người Mễ cả đâu, tôi đoán thế. Họ có thể là người gốc Trung Mỹ, Nam Mỹ, hoặc ở các hải đảo quanh đây. Có điều họ đều nói tiếng Tây Ban Nha. Có lẽ họ đã quên hết tiếng nói tổ tiên của họ. Và hình như chỉ có người Ba Tây nói tiếng Bồ Ðào Nha.”
“Thế thưa ông làm sao phân biệt được ai là Mễ, ai là Á Căn Ðình chẳng hạn?”
“Tôi cũng chịu thua cô ạ. Ngược lại họ cũng không thể biết ai là Việt Nam mình, ai là Tàu, Nhật, Ðại Hàn hoặc Thái Lan chẳng hạn.”
Thiếu phụ cười:
“Thế thì hòa vốn.”
Trước khi từ giã thiếu phụ, tôi nghĩ mình phải nói thêm vài lời:
“Từ đây đến Salt Lake City, rồi Green River, cũng mất hết năm sáu tiếng phải không cô?”
“Thưa ông, phải đến tám chín tiếng chứ.”
“Xe 4 giờ chiều khởi hành,” tôi lẩm nhẩm tính, “thì… thì hơn 12 giờ đêm mới đến Salt Lake City. Có xe đón cô vào lúc khuya khoắt ấy hay không để còn phải đưa cô về Green River? Một mình cô, đêm khuya, thân gái…”
Thiếu phụ ngắt lời, nét hóm hỉnh hiện lên đôi mắt:
“Nếu không có xe đến đón tôi lúc giữa khuya thì phải làm sao thưa ông? Ông sẽ đưa tôi về nhà nhé!”
“Chắc chắn là thế!” tôi nói đùa.
Giọng nói thiếu phụ bỗng đầy vẻ giễu cợt lẫn hằn học:
“Cám ơn ông đã mở lòng từ bi chiếu cố đến tôi. Các ông bao giờ cũng vậy, rất hào hiệp với phái yếu. Hễ thấy người đàn bà nào lọt con mắt thì… giở trò ngay!”
Cái bà này lạ chưa, tôi tự nhủ. Tự nhiên sửng cồ! Mới đó rất lễ phép, dịu dàng, bây giờ lại muốn gây sự đó hẳn? Bỗng thiếu phụ reo lên:
“Ông xem kia kìa, có đến hai chiếc xe buýt đang từ từ chạy vào bãi đậu cùng một lúc. Cầu trời một chiếc sẽ đi Salt Lake City. Nếu thế tôi khỏi phải chờ đến bốn giờ chiều ông nhỉ. Tôi nóng ruột quá!”
Tôi quay nhìn ra ngoài bãi đậu xe. Trời bỗng âm u. Gió lên. Hàng cây chạy dọc theo con đường cái bị gió đẩy, cành và ngọn ngả nghiêng về một phía. Lá rụng lác đác xuống bãi đậu rồi bị gió đùn về một phía con đường cái ngoài xa. Một chút bụi cuốn lên bay đến những ngôi nhà lân cận. Tôi nhớ những con đường bụi tung trời mù mịt ở quê nhà mỗi lần có cơn gió lốc. Xứ này ít bụi. Hai chiếc xe lầm lũi bò vào trông giống như hai con sâu róm khổng lồ.
Thiếu phụ kín đáo nhìn tôi. Tôi thản nhiên im lặng, cố tỏ ra mình không khó chịu vì câu nhận xét về đàn ông vừa rồi của thiếu phụ. Như đoán ra điều ấy, thiếu phụ dịu giọng:
“Xin lỗi ông, lúc nẫy tôi nói gì với ông thế? Tôi nói đùa một chút thôi ấy mà. Nói xong tôi quên ngay. Nếu tôi có lỡ lời, xin ông bỏ qua nhé. Ðôi khi tôi giống như người điên khùng vậy, xin ông đừng chấp mà tội nghiệp tôi lắm. Em gái tôi vẫn nói rằng tôi thỉnh thoảng lên cơn điên, cơn khùng.”
Giọng nói của thiếu phụ nhịp nhàng, uyển chuyển như tiếng hát. Tôi yêu giọng miền Bắc, nhất là giọng nữ, thời tôi còn trẻ. Bây giờ tình cảm đó thỉnh thoảng cũng dấy lên trong tôi một cách đột ngột và mạnh mẽ. Như hôm nay, nơi bến xe này. Mà giọng nữ thì ở miền nào nghe cũng dễ thương! Miền quê tôi nghe thì thầm, thủ thỉ, miền Nam nghe thơm tho, ngọt ngào.
Tôi nghĩ đến giọng Hà Nội “tiểu tư sản” ngày xưa. Giọng nói đó còn không, cái giọng êm đềm của những nhân vật lãng mạn trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn, những Mai, Lan, Loan, Thu, Tuyết… một buổi trưa mùa đông có chút nắng hiếm hoi trên thành phố cao nguyên đẹp và lạnh, một mình vui chân đi mải miết trên con đường đầy lá thông khô ven những cánh rừng thưa nắng xuyên qua cành lá. Trời tuy nắng mà khí núi bốc lên vẫn gây gây lạnh, bỗng cơn mưa đột ngột tới, nhìn quanh, may quá, sau trái đồi nhỏ cỏ xanh mát con mắt, thấp thoáng một mái ngói nâu, vội chạy đến, trú mưa dưới mái hiên của một ngôi biệt thự kiểu Tây ngày xưa còn sót lại, mưa nặng hạt dần, gió tạt nước mưa làm ướt tóc và hai vai chiếc áo len dày, cứ thế này sẽ bị ướt như chuột lột, thì cánh cửa bỗng hé mở, người con gái xinh đẹp xuất hiện, hơi một chút ngần ngại, “xin mời ông cứ vào trong này ạ… không khéo mưa ướt ông hết… mời ông ngồi tạm…”, tiếng nói nhẹ như hơi gió vừa dứt, và cánh cửa vừa khép lại thì cô chủ cũng đi mất hút vào phòng bên cạnh, nhà vắng, bậy quá, đôi giày ướt sũng làm dơ sàn lát gỗ bóng lộn. Ngồi nhìn vẩn vơ, trên tường có tranh Chùa Một Cột hương khói, Hồ Hoàn Kiếm liễu rủ, Chợ Ðồng Xuân tấp nập, và tấm hình bán thân trông thật hiên ngang trong khung kính của một sĩ quan Cộng Hòa trong quân phục cấp tá, hẳn là chồng, hay là anh, có lẽ anh thì đúng hơn vì thiếu nữ còn trẻ quá. Bỗng có tiếng dương cầm văng vẳng, bài Songe d’Été của một nhạc sĩ người Pháp mình không nhớ tên, đang mùa đông lạnh mơ mùa hạ cũ, hẳn là cô chủ nhân đang đàn dở thì biết có người đứng trú mưa ngoài hiên. Mưa đến nhanh rồi không khéo lại đi nhanh như những cơn mưa hiếm hoi mùa đông. Mong cơn mưa cứ tiếp tục, mong nghe thêm vài ba bản nhạc nữa. Hình như tiếng đàn lẻ, có khi ngập ngừng, có khi buông thõng kéo dài, có khi thánh thót, có khi dồn dập, trong một ngôi nhà lặng thinh mà thính giả là chỉ có một người ở phòng ngoài đang lắng nghe, vẫn ngầm mang một sức cuốn hút lạ kỳ, mà cơn mưa có vẻ như sắp tạnh rồi. Và tiếng đàn cũng theo tiếng mưa rơi ngoài kia, trải mỏng ra chầm chậm rồi ngưng bặt. Rồi khuôn mặt hồi nãy lại xuất hiện, lần này có dịp nhìn kỹ hơn, đẹp, đẹp, đẹp. Bên ngoài chỉ còn tiếng gió lướt trên con đường vắng và tiếng thông reo vi vu. Tần ngần nuối tiếc đứng dậy, tiếng nói bỗng ngân lên nghe như “những hạt châu rơi trên mâm ngọc“, nghe như những lời quyến luyến của hai người yêu nhau sắp chia tay, câu nói đơn sơ, khách khí, và vô lý, vì mưa đã tạnh từ hồi nào rồi: “Xin ông đợi cho tạnh mưa rồi hẵng đi”.
Tôi nhìn thiếu phụ cố tìm xem có nét gì giống nhau giữa người đàn bà này và cô gái đánh đàn ngày xưa khi tôi trú mưa trong ngôi nhà trong rừng thông. Nhưng tôi không thể nào nhớ được khuôn mặt của cô gái ấy thì lấy gì làm so sánh. Tôi bật cười thành tiếng và quên hẳn cơn “sửng cồ” của thiếu phụ. Tôi nối tiếp câu chuyện:
“Cô nói chuyện nghe vui lắm. Có gì đâu mà cô bảo lỡ lời. Phải nói một cách thẳng thắn như cô mới dễ kết thân với nhau chứ! Này cô, hai chiếc xe đó thuộc hãng khác. Cô phải đáp xe Grey Hound mới có chuyến bốn giờ chiều đi Salt Lake City.”
“Nhưng nhiều xe như thế kia thì làm sao biết được xe nào là xe của mình. Lại không biết tiếng biết tăm gì cả! Khổ thân cho tôi quá! Lần này là lần đầu tiên tôi đi xa một mình trên đất Mỹ lạ lùng này, ông ạ.”
“Cô yên chí. Tôi sẽ chỉ dẫn rõ ràng cho cô.”
Tôi dặn dò rất kỹ về giờ giấc, xe đến, xe đi, nhưng thiếu phụ vẫn băn khoăn:
“Trăm sự nhờ ông. Thật ra tôi cũng đã từng một thân một mình chạy loạn. Mới đây chứ có phải lâu la gì đâu. Chắc ông còn nhớ những ngày ta bỏ Tây Nguyên chạy về vùng duyên hải Quy Nhơn, Nha Trang. Thật là kinh hoàng. Chạy đến Cheo Reo thì tôi không thấy chồng con tôi đâu cả. Tôi mới biết thế nào là cảnh thân gái dặm trường. Bây giờ nghĩ đến chuyện đó tôi vẫn thấy bàng hoàng, kinh sợ. Nay tôi cũng lại một thân một mình nơi xứ lạ quê người đấy ông.”
Tôi an ủi:
“Trước khác bây giờ khác. Vả lại mình đang ở trên đất Mỹ yên ổn, giàu có, thanh bình. Ðâu còn chạy giặc như ngày xưa mà cô ngại.”
Thiếu phụ rơm rớm nước mắt:
“Giàu có và yên ổn là với ai kia, tôi không hề được dự phần trong đó. Mọi chuyện đối với tôi như mới xẩy ra ngày hôm qua, như đang xẩy ra trước mắt. Ðâu đâu cũng thế cả thưa ông, bên nhà cũng như bên này, tôi luôn luôn là người đang chạy loạn.”
Vâng, loạn lạc liên miên không biết ngày nào mới chấm dứt. Cuộc chiến âm ỉ như than hồng dưới lớp tro hễ gặp gió là bùng lên thành ngọn. Làng quê tôi biến thành vùng xôi đậu dù cách thành phố không xa mấy, chỉ khoảng bốn, năm cây số. Cuối hè năm sau, tôi lên thành phố ở trọ để có thể yên ổn học hành. Nhiều khi nhớ em quay quắt, dù đường sá thiếu an ninh, tôi vẫn thường tìm cách về làng để mong được gặp em, để mong nhìn lại màu đen và màu trắng ấy – “nụ cười trắng, đôi mắt đen”. Nụ cười mời gọi, đôi mắt níu kéo, mà có thể em vẫn chỉ dành riêng cho tôi mà thôi, phải không em? Hay là tôi đã quá chủ quan và giàu tưởng tượng?
Không hẹn mà vẫn mong gặp. Ước mong thật là vô vọng!
Cho nên gần đến ngày Tết tôi lại về làng, đánh bạo tới nhà em, lấy cớ hỏi thăm tin tức một thằng bạn cùng học lớp hè tại nhà em cách đây hai năm. Em ngạc nhiên bảo em đâu biết người ấy là ai, nhưng vẫn nói chuyện với tôi một cách hết sức dịu dàng. Và đặc biệt là hình như em không giấu được nỗi vui sướng trong lòng. Nỗi vui hiện lên trên đôi mắt to đen, trong tiếng nói êm ái ngập ngừng. Tôi ngẩn ngơ nghe em nói mà có hiểu được gì, chỉ nhớ lời cuối cùng em nói trước khi chia tay: “Nghe nói anh học giỏi, em… em… Sao không thấy anh về chơi. Phố xá đông vui cho nên anh quên nhà quê rồi. Anh… anh đã quên em rồi. Biết có còn bao giờ gặp nhau nữa hay không, hả anh?”
Chữ “em” tôi đã nói và nghe cả ngàn lần, nhưng khi tiếng nói đó được Trang, “em của anh”, dùng để xưng hô với tôi, tôi nghe lạ hẳn. Nó âm vang mãi trong tôi như lời bùa chú trong chuyện thần tiên! Thế là nay tôi đã hiểu tình cảm của em đối với tôi. “Vâng, anh sẽ về thăm em thường xuyên nhé, tuần nào cũng về!” Tôi nói thầm câu ấy với tôi nhiều lần.
Mấy ngày sau đó, tình cờ trong câu chuyện với Tấn, bạn học cùng lớp và là người anh họ của em, tôi được biết thêm nhiều về em. Bố làm tri huyện rồi tri phủ tản cư về quê bị Việt Minh giết cùng với hai người chú, em phải tạm nghỉ học một năm, phụ mẹ lo việc nội trợ và chăm sóc ngôi nhà từ đường, để cho hai người anh có thì giờ tiếp tục đèn sách.
Tuần vừa qua, tất cả gia đình em đã dọn vào Nam sau khi người anh cả học xong trung học tại Huế, và vừa xin được việc làm để vừa làm vừa học tiếp tại Sài Gòn.
Tôi sửng sốt. Em và tôi chưa được nói năng gì với nhau cho thỏa lòng. Tôi chưa hiểu hết ý em nói mà cũng không dám hỏi cho cặn kẽ. Thì ra đấy là những lời cuối cùng em buộc lòng phải nói cho tôi biết trước khi em ra đi. Như lời vĩnh biệt! Tôi ngẩn ngơ như người mất hồn. Năm học ấy tôi không đủ điểm lên lớp, phải thi lại sau ba tháng nghỉ hè.
Thiếu phụ đưa bàn tay che miệng ho khe khẽ. Như để nhắc nhở. Cũng đủ cho tôi quay về với thực tại. Tôi nhìn quanh. Thiếu phụ dịu dàng nói:
“Thưa ông, hình như ông đan … đang bận nghĩ gì… Tôi lại vô ý. Nhưng, xin lỗi ông, xe grây … là grây gì?”
Tôi nhìn lại thiếu phụ, trả lời cộc lốc:
“Grey Hound.”
“Vâng, xe grây hao là xe gì?”
Tôi cau mày:
“Xe bus.”
“Vâng?”
Đến lúc này tôi đã trở lại bình thường. Và nhận ra mình hơi thô bạo với thiếu phụ, nên, như để đền bù lại, tôi giải thích dài dòng:
“Grey Hound là tên hãng xe bus xuyên bang có vẽ hình con chó ngao tai to và cụp, chân dài, bụng thon, gầy đét. Giống chó săn nổi tiếng. Loại xe đường xa này phải ghé nhiều nơi để rước thêm khách nên nó đến sớm hay trễ vài mươi phút là chuyện thường. Cô còn khối thì giờ. Khoảng 4 giờ chiều mới có chuyến thứ nhì. Quá nửa đêm cô mới đến Salt Lake City. Liệu vào giờ đó người nhà có biết để đến đón cô không? Có thể họ nghĩ rằng cô đi chuyến chín giờ sáng. Và đón sai giờ?”
Thiếu phụ thở dài:
“Thưa ông, tôi có nghĩ đến điều đó. Nửa đêm em gái tôi không dám lái xe đâu. Không nói giấu gì ông, chúng tôi qua Mỹ chưa được bao lâu, gặp chuyện gì cũng sợ. Em tôi nhỏ hơn tôi đến 10 tuổi, mới có bằng lái xe. Còn tôi, tô … coi như đã hết thời, đã già quá rồi, học lái xe làm gì thêm phí công phí của. Với lại có xe đâu mà lái. Tôi định bụng như thế này, khi xe đến Salt Lake City, tôi sẽ ngồi chờ ở đó cho tới sáng rồi gọi phôn về cho nó. Có phải không ông, cái thời của tôi đã qua rồi!”
Tôi thầm nghĩ những người đẹp vừa bước qua khỏi tuổi thanh xuân ai cũng vờ nói mình đã già, đã hết thời, đã hết duyên, nói xong hồi hộp chờ lời cải chính của người đối thoại. Ðã thế mình phải khen nịnh một câu cho người ta vừa lòng. Rồi dứt khoát đi, chấm dứt cuộc gặp gỡ khá cảm động này.
“Xinh đẹp như cô sao lại bảo thế!”
Nói xong tôi đứng dậy chào từ biệt. Thiếu phụ hơi giật mình, cũng đứng dậy và nói lí nhí những gì tôi không nghe rõ. Bên ngoài trời bỗng nổi cơn gió lớn, mang theo cơn mưa từ xa tới. Thiếu phụ lặng lẽ ngồi xuống ghế. Tôi đứng lóng ngóng một chốc rồi cũng ngồi xuống cạnh thiếu phụ. Những người đang đứng ở hàng hiên chờ xe đến đều lục tục khiêng hành lý trở vào bên trong ngôi nhà tránh mưa ướt.
Một thanh niên Mỹ gầy, cao, da trắng, tóc vàng búi tó, mặc quần knickers dài ngang đầu gối, tay cầm cây đàn ghi-ta, vai mang ba-lô, theo sau là một cô gái Mỹ da đen khá xinh đẹp trong bộ jeans màu mỡ gà, vai cũng mang ba-lô, cả hai đều bị mưa ướt ít nhiều, đến ngồi ngay trên chiếc ghế băng trước mặt chúng tôi. Anh chàng thanh niên vui vẻ chào hỏi, tôi chào lại. Thiếu phụ hơi lúng túng nhìn tôi cầu cứu.
“Họ chào xã giao đó mà,” tôi nói.
Thiếu phụ nhìn lại hai người và nở một nụ cười thật tươi. Cô da đen nhanh nhẩu nói một tràng dài. Tôi giải thích với cô ta rằng người đàn bà bạn tôi không nói được tiếng Anh.
Gió lộng lên từng cơn, mưa càng lúc càng lớn. Tôi xích lại ngồi gần thiếu phụ hơn để có thể nghe cô ta nói, thế mà tiếng nói nghe như thì thầm vì mưa gió ngoài kia vang dội.
“Mưa lớn như thế này không khéo ngập hết đường sá… lũ lụt. Xe làm sao chạy được, thưa ông?”
“Không sao đâu, cô yên tâm. Vùng này mưa ít lắm. Rầm rộ một chốc rồi tạnh ngay. Mà này cô, ở Green River cũng có nhiều người Việt Nam mình chứ?”
“Thưa ông, ít người mình lắm và buồn lắm. Cho nên tôi mới qua bên này theo lời một người quen để liệu xem có nên dọn nhà một lần nữa hay không. Tức là dọn nhà qua đây. Nhớ hồi mới đến Green River, tôi chẳng khác gì con thú bị thương. Hoảng hốt, đau đớn, và sợ sệt đủ chuyện. Ban ngày, tôi không dám ra khỏi nhà một mình, ban đêm lấy bàn, ghế, giường, tủ chặn nơi cánh cửa đã đóng kín và bấm khóa. Tệ hơn nữa, dù đang ở ngay trong nhà, ngày cũng như đêm, khi em tôi đi vắng, tôi cũng không hết sợ. Nhất là khi vào phòng tắm đóng cửa lại cẩn thận, cài chốt bên trong. Tắm xong, không dám bước ra ngay. Đứng trước cửa hồi hộp mãi. Giá có cái lỗ nhỏ như nơi cánh cửa lớn để dòm ra ngoài xem có ai. Tôi luôn luôn có cảm giác đang bị theo đuổi, rình rập. Biết đâu nó đang chờ sẵn ngoài đó. Ông có biết nó là ai hay không?”
Tôi không khỏi ngạc nhiên hỏi:
“Ủa! Nó là ai vậy, cô?”
“Là… là khó nói quá. Tôi chẳng biết có nên nói ra cho ông biết hết mọi chuyện hay không. Ngoài ra… Hình như ở đất Mỹ này có nhiều thứ bệnh rất lạ. Bệnh bắt cóc trẻ con, bắt người lớn, bệnh hành hung, bệnh chặt người ta ra thành từng mảnh nhỏ, cho vào bịch ny-lông mang đi tìm nơi chôn giấu. Còn tôi thì tôi mang bệnh khiếp sợ, ông ạ.”
Cái nhìn của tôi ngừng lại khá lâu trên cặp mắt của thiếu phụ. Tôi không tìm thấy trong đôi mắt đó một nét giễu cợt nào như đã có lúc xẩy ra trước đây. Nó tối sầm lại và hằn lên những nét đau khổ thật sự.
Nói chuyện với nhau khá nhiều, nhưng tôi không biết tên người đối thoại. Cô ta cũng không hỏi tên tôi. Không như người phương Tây, gặp nhau liền tự giới thiệu hoặc hỏi tên nhau rối rít. Có người còn bày chuyện xoắn xuýt xin địa chỉ, tìm một mảnh giấy vụn nguệch ngoạc ghi ghi chép chép, rồi nhét đại vào túi hành lý. Để không bao giờ tìm thấy tấm giấy đó!
Tình cờ gặp nhau, vui miệng thì nói với nhau dăm ba câu vớ vẩn trong lúc chờ lên đường tại một bến xe, bến tàu, bến cảng, hoặc phi trường. Rồi mỗi người đi một ngả không ngoảnh mặt lại. Trí không lo nghĩ, lòng không vướng bận. Để không bao giờ gặp lại nhau. Như bèo giạt mây trôi.
Đấy là chuyện thường xẩy ra trong cuộc sống của tôi từ ngày tôi lìa bỏ quê hương. Nhưng hôm nay, trước người đàn bà bất hạnh, lạ lùng, và dễ bị tổn thương này, tôi bỗng chột dạ cảm thấy có điều gì không ổn. Không ổn cho cô ta đã đành, mà, như bệnh truyền nhiễm, không ổn cho chính tôi. Tôi nghĩ nhiều đến cuộc chia tay với Trang sáng sớm hôm nay.
Tôi nhìn thiếu phụ với chút xót xa:
“Không, sợ hãi không phải là bệnh đâu. Ai cũng vậy, ban đầu nơi xứ lạ quê người, ai cũng cảm thấy sợ sệt, ngại ngùng. Ở lâu ngày sẽ quen.”
Người đàn bà ngập ngừng:
“Thật vậy không ông? Tôi cũng mong như thế. Nhưng tôi biết tôi không thể quen được. Họa chăng con nhỏ em của tôi còn có thể hội nhập được phần nào vào đời sống xa lạ này. Một phần nào thôi. Ngoài cái sợ ra, tôi luôn luôn có cảm giác mình… mìn … như hạt muối bỏ biển, sẽ tan biến nhanh trên đất nước bao la này, không còn sót lại một chút tăm hơi nào cả. Cho nên thế nào tôi cũng tìm cách về sống vùng Nam Cali, rồi có chết đi nữa, dù không có em tôi bên cạnh, tôi cũng được gần gũi người cùng quê. Nhưng em gái của tôi cứ ngăn cản tôi hoài.”
Tiếng nói của thiếu phụ bỗng dưng đầy nước mắt:
“Chị bỏ em đi em có chịu nổi không? Chỉ còn hai chị em mình, như hai mẹ con, nơi xứ lạ quê người mà mình cứ đòi bỏ nó mà đi, cứ đòi sống xa nhau! Khổ thân cho em của chị. Chị đoảng quá em ơi!”
Người đàn bà dường như quên hẳn tôi đang ngồi bên cạnh, ôm mặt thổn thức, nước mắt thấm ra ngoài những kẽ ngón tay.
Tôi lặng lẽ đứng dậy đi đến quầy bán báo làm bộ dán mắt vào những trang bìa in hình các người mẫu thân hình lộ liễu, các ngôi sao thể thao cơ bắp cuồn cuộn, nhưng cốt là để khỏi chứng kiến một người đàn bà đang khóc lóc nức nở. Tôi không chịu nổi cảnh tượng đó.
Bỗng dưng tôi bùi ngùi nghĩ đến Trang. Vâng, Trang của anh, của cả một thời thơ mộng đang bồi hồi sống lại. Em ngồi một mình cạnh cửa sổ xe lửa, nghiêng người ra đưa tay vẫy vẫy, xe chạy nhanh dần, mớ tóc bay bay lòa xòa che khuôn mặt xinh đẹp. Và đôi mắt là lạ, và nụ cười buồn buồn của em vẫn cứ như còn dính lên trên những bức tường, những mái nhà, những chòm cây.
Vâng, mới đây thôi, tôi đứng yên bên khu hỏa xa nhìn theo mãi con tàu. Nó đã chạy xa khuất, để lại tôi cùng với những băn khoăn, và những hồi ức của một thời trai trẻ.
Từ ngày em đi, tôi tìm cách kết thân với Tấn để có thể theo dõi tin tức về em, được biết em đã đi học lại. Tôi gởi lời thăm em qua Tấn, và thỉnh thoảng cũng được em nhờ Tấn chuyển lời thăm tôi, với lời lẽ rất ân cần. Thế cũng đủ làm cho tôi sung sướng vô cùng. Nhờ Tấn tôi biết địa chỉ của em tại Sài Gòn, nhưng tôi vẫn chưa dám viết thư cho em.
Xong tú tài, tôi vào Sài Gòn học tiếp. Việc tôi làm đầu tiên là tìm đến nhà anh của em nơi em ở. Thì được biết em đã đi Phi Luật Tân theo học lớp Hồng Thập Tự Quốc Tế.
Xa cha mẹ, anh em, xa nếp sống kỷ cương của đại gia đình, tôi tập làm người lớn. Tôi độc lập. Và buông thả quá đà. Tôi như con chim hoang dã xổ lồng muốn xoải cánh bay xa trong bầu trời mênh mông, lạ lùng, và đầy cám dỗ. Lần hồi học đòi uống rượu, đánh bạc, nhảy đầm, và gái. Lẽ dĩ nhiên không phải thứ bạn gái đàng hoàng để có thể trở thành tình yêu say mê đắm đuối, em nhớ giùm cho, mà là gái điếm, gái nhảy, hoặc các nữ ca sĩ hạng ba mà nghề chính không phải là ca hát. Cuộc sống của tôi càng ngày càng bừa bãi. Học hành dở dang.
Nhiều khi tôi nhớ em quay quắt lẫn ăn năn, hối hận. Tiếc thương tuổi xuân, tuổi trẻ, tuổi của thơ mộng và trong sáng, đã trôi qua quá nhanh. Nhiều lần tôi tự hỏi có thể nào tuổi thơ mộng ấy sẽ trở lại với tôi, có em trong đó,như nó đã trở lại với một nhân vật trong tiểu thuyết – hắn tìm thấy lại thời gian đã mất. Thực tế có thể là vậy chăng, hay đấy chỉ là sản phẩm của tưởng tượng? Và mỗi khi hình ảnh của em bất chợt hiện lên, tôi cảm thấy xót xa bồi hồi như khi tình cờ, trong đêm khuya vắng một mình, đọc lại những bài thơ tình mà mình say mê suốt tuổi thanh xuân. Những bài thơ tình lãng mạn đẹp và buồn.
Rồi em về nước sau khi học xong. Gặp tôi, em không cầm được nước mắt vì sung sướng. Còn tôi thì như vừa tỉnh thức sau cơn ác mộng Tôi đang chìm sâu xuống đáy nước. Em là chiếc phao nổi chập chờn bên trên, đưa tay cho tôi bắt.
Tôi cảm thấy được hồi sinh. Cuộc sống từ nay bày ra trước mắt hứa hẹn một thời kỳ mới mẻ, đẹp đẽ, êm ái trong đó hình ảnh của em tươi sáng, lung linh, ấm áp như nắng buổi sáng sớm. Những năm tháng vừa trôi qua của tôi dường như đang chìm khuất trong quá khứ xa xôi không còn muốn để lại dấu vết gì. Người anh của em có vẻ hài lòng về sự “quen biết” của hai đứa mình, thân mật mời tôi đến nhà chơi thường xuyên hơn.
Chiến tranh bỗng nổ lớn. Hàng ngàn thanh niên trong đó có tôi được lệnh gọi nhập ngũ. Mỗi cuối tuần em đều đến quân trường Thủ Đức thăm tôi, trong suốt tám tháng không thiếu một Chủ Nhật nào. Cùng nhau nói nhiều chuyện vui, chuyện buồn mà chỉ hai người mình biết thôi, hoặc là chỉ im lặng đắm đuối nhìn nhau, rồi em nở nụ cười, rồi lòng tôi như nở hoa, rồi vui vẻ ăn uống trên bãi cỏ xanh những món ăn ngon lành em mang đến, rồi bịn rịn chia tay. Thế thôi.
Ra trường với cấp bậc chuẩn úy, không vây cánh, không thế lực, không có chuyên môn, tôi bị chuyển đến một đơn vị tiền tuyến rất xa. Một chiến sĩ bộ binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Một chiếc xe bus khác bò chậm chậm vào dưới cơn mưa nặng hạt. Mãi khi nó đến gần tôi mới thấy nó rõ. Xe đậu ngay bên cạnh hàng hiên ướt át. Hành khách lục tục xuống xe, chạy vội vào phòng trong tòa nhà. Vài ba người từ tòa nhà chạy ra, vội vã lên xe. Mưa đều đều rơi.
“Quái, hôm nay sao mưa lâu thế!” tôi buột miệng.
Bỗng nghĩ đến những trận mưa dầm tháng bảy dai dẳng trên một tiền đồn biên giới xa lắc xa lơ. Bặt tin em, giới nghiêm, không còn có cách nào để có thể liên lạc với nhau được. Rồi “Nước mất, nhà tan”. Mất tất cả, thất lạc, tan hoang, như ong vỡ tổ. Thế mà, mới hôm qua đây thôi, lại gặp nhau trên xứ sở này, cách xa quê cũ hơn nửa vòng trái đất. Ôi, cuộc sống xiết bao kỳ lạ.
Tôi quay trở lại với thiếu phụ, định nói vài câu giả lả cốt để đánh tan không khí buồn thảm mà thiếu phụ đã gây nên, mà tôi không muốn dây dưa vào. Khuôn mặt ít son phấn đó còn lấm tấm những giọt nước mắt đã khô. Lại nghĩ đến em, tôi lẩm bẩm nói một mình:
“Vâng rất xa. Ðơn vị đó rất xa. Rất xa Sài Gòn, em biết không…”
“Thế ư thưa ông,” thiếu phụ dịu dàng nói. “Mà ông định nói chuyện gì vậy?”
Tôi thảng thốt gượng cười đáp quấy quá:
“Vâng, vâng… đúng thế. Hai chị em mà chẳng khác gì hai mẹ con sống xa nhau thế nào được.”
Mưa vẫn rơi không ngớt. Hàng cây và những khu nhà lân cận dần dần bị cơn mưa xóa nhòa. Con đường nhựa chạy ngang đằng trước nhà ga biến thành con suối nhỏ. Lác đác ánh đèn xe hơi nhòe nhoẹt không đâm thủng nổi màn mưa dày đặc, trông như những vùng ánh sáng mờ mờ di động.
Thiếu phụ thẫn thờ nhìn mưa rơi, lại hình như quên hẳn tôi, nói thì thào cho chính mình nghe:
“Mưa lớn quá! Như cơn mưa Sài Gòn hôm ấy… nước lên mãi, ngập hết bến xe Nguyễn Cư Trinh… ngập luôn qua khu Cao Bá Nhạ. Rác nổi lềnh bềnh. Xe tắc-xi chết máy, nước lên đến cửa kính xe, người tài xế lầm bầm kêu trời… từ rạp Ðại Nam trở về nhà. Xem xi-nê lần cuối trước khi đi. Xin giã từ Sài Gòn, Sài Gòn vô vùng mến yêu… Theo anh lên Vùng Hai Chiến Thuật… Mà bé thì mới hơn một tuổi, ngủ say trên vai anh trước khi vào phim… Anh! Anh mang bé đi đâu, để lại em một mình!”
Thiếu phụ sực tỉnh, chau mày quay nhìn tôi, ngượng ngập:
“Tôi… tôi… xin lỗi ông. Tôi sợ không biết chừng chuyến xe chiều nay sẽ bị hủy bỏ. Mưa lớn quá! Biết tính làm sao đây. Ði hay ở? Ở hay đi?”
Tôi nhìn thiếu phụ ái ngại:
“Mưa ở đây thường ào ào một chốc thôi rồi tạnh. Quái lạ, hôm nay mưa khá lâu đấy. Nhưng không sao, không lâu như bên nhà đâu. Với lại đường sá bên này tốt lắm, không bị mưa lũ làm sạt lở đất đai… Có lẽ đến trưa thì hết mưa… Chúc cô chiều nay lên đường bình an. Tôi đi.”
Thiếu phụ nhìn tôi ngơ ngác:
“Mưa thế này mà ông vội đi sao!”
Tôi chợt nhận thấy đúng thế. Không mang theo áo mưa hoặc dù thì từ ngôi nhà này chạy ra chỗ tôi đậu xe thế nào cũng bị ướt mèm. Thiếu phụ nói thêm:
“Hay ông cứ đợi cho tạnh mưa rồi hẵng đi!”
Tôi ngẩn người trong giây lát. Câu nói nghe quen quá! Giọng nói ngân nga như tiếng đàn níu kéo. Ðôi mắt gần như van lơn. Chẳng lẽ là thế? Cũng khuôn mặt đẹp và câu nói nhẹ như gió thoảng trong ngôi nhà vắng miền cao nguyên có tiếng đàn lẻ!
Tôi lại ngồi xuống bên cạnh thiếu phụ, mang ảo giác đây chính là cô gái ngày xưa của thành phố ấy mùa đông lạnh căm căm dù có một chút nắng vừa hửng lên trên con đường mòn phủ đầy lá thông khô, nắng chiếu xuyên qua những cây thông cao ngất, cành lá sạch bóng đu đưa, lóe lên những hình sao, reo vi vu trong gió, sau cơn mưa trưa ngắn ngủi.
Vâng, biết đâu. Chuyện gì mà không thể xẩy ra trên đất nước đầy biến động ấy. Tôi định hỏi có phải trước kia cô có ở tại Ðà Lạt một thời gian nào đó. Nhưng thôi, hỏi để làm gì?
Mưa vẫn rơi đều đều.
Trong những đơn vị tác chiến tôi được chuyển đến, tôi gặp nhiều điều mới lạ mà tôi sẽ không bao giờ quên. Dần dần, giữa tôi và bạn bè trong đơn vị nẩy nở một thứ tình cảm càng ngày càng thắm thiết. Người ta gọi đó là tình đồng đội, tình chiến hữu. Chúng tôi thương yêu nhau, yêu màu áo và huy hiệu của đơn vị, yêu đời lính. Và từ đó, yêu tổ quốc hơn. Vâng, phải chia nhau từng mẩu thuốc lá lẻ khi vừa qua khỏi cơn thập tử nhất sinh, từng giọt nước còn sót lại trong bi-đông khi cổ họng khô cháy, từng vụn lương khô khi bụng đói cồn cào sau nhiều ngày không tiếp tế được. Phải vực nhau dậy, khiêng nhau đi dưới những lằn đạn khi đồng đội gục ngã. Phải đắp điếm cho nhau khi có người nằm xuống. Phải kề vai bên nhau ghì tay súng bảo vệ từng tấc đất. Phải đổ mồ hôi và nước mắt và máu lên những luống cày, những bông lúa, những ngọn cỏ, những sườn đồi, những đầm lầy và rừng núi, những ven sông, những bãi biển, những con đường và góc phố, những doanh trại và những công sự phòng thủ… thì mới biết thế nào là tình chiến hữu, là niềm tự hào của đơn vị, là lòng yêu nước thiết tha không có gì lay chuyển nổi.
Trong một trận đánh ác liệt ở An Lộc mùa hè năm 1972, tôi bị thương nặng, may được trực thăng vận kịp thời đưa về điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa ở Gò Vấp, ngoại ô của thủ đô Sài Gòn. Tôi nằm ở đó một thời gian ngắn thì em đến.
Em đã chuyển qua học Y Khoa tại Đại Học Sài Gòn, hiện là sinh viên ngoại trú. Em cố gắng xin được đến Tổng Y Viện thực tập khi em biết tin tức của tôi. Ngày nào em cũng ghé đến thăm và săn sóc tôi ít nhất một lần. Tôi nằm dài trên giường bệnh, tha hồ nhìn lên đôi mắt to đen nhánh và rất gần của em khi em cúi mặt xuống như muốn trao tôi một nụ hôn dù đôi mắt đó có khi thoáng buồn rầu, thoáng lo âu. Tôi nghe hơi thở dồn dập của em, tôi nhìn nụ cười rất thân yêu của ngày nào để lộ ra hàm răng trắng xinh xinh như những hạt bắp nếp được sắp xếp nằm kế bên nhau đều đặn, nhịp nhàng. Chỉ có khác ngày xưa khốn khó em mặc bộ bà ba đen, nay là cô sinh viên y khoa trong bộ y phục màu trắng.
Em thường cắn môi để nén lòng lại khi tôi thộn mặt nhìn em. Nhưng làm sao em giấu được biết bao nhiêu là tình ý đang trào dâng nơi em. Những ngày nằm bệnh viện là thời gian hạnh phúc nhất trong đời tôi. Tôi bình phục dần.
Hôm tôi xuất viện, em đến đón. Tôi nhớ rõ hôm đó máy bay trực thăng chở thương binh tới tấp bay về. Và những trực thăng khác vội vã cất cánh bay đi. Lại đánh nhau lớn ở nhiều mặt trận cùng một lúc.
Tiếng cánh quạt ù ù, xành xạch át tất cả mọi thứ tiếng động khác. Hàng cây ngoài hàng rào nghiêng ngả, vật vã, lá rụng xác xơ, đám cỏ tranh bên trong hàng rào kẽm gai nằm rạp sát đất.
Thì em đẩy cửa bước vào. Chiếc nón vải trắng nho nhỏ nằm lệch trên mái tóc uốn thành từng lọn, cái áo choàng trắng làm nổi lên những nét tròn lẳn của thân hình em, một mùi hương lẫn lộn phấn son, nước hoa, thuốc men và da thịt phảng phất – tất cả cùng một lúc tràn ngập căn phòng tôi đang nằm. Ký ức của tôi quay trở về với tuổi nhỏ ngày xưa ở làng quê em mang ánh sáng của ngôi vườn cây ăn trái vào phòng học! Vẫn em hôm nay. Em lớn lên khi nào vậy? Tôi không kịp khép cửa lại, vội ôm chầm lấy em hôn đắm đuối. Em run rẩy như ngọn lá bàng trước cơn gió mạnh. Xấp hồ sơ em cầm trong tay rơi xuống sàn nhà.
Rồi tôi đưa em đi, không biết đi đâu, đi loanh quanh khắp phố phường. Còn yếu, bệnh chưa khỏi hẳn nhưng phải nhường phòng cho thương binh mới, hai chân tôi rã rời. Không lẽ cứ đi mãi, đi mãi? Tôi đành đưa em vào một nơi mà tôi nghĩ rằng em và tôi có thể nghỉ chân trong chốc lát, có thể âu yếm nhau tự do hơn, kín đáo hơn là ở ngoài công viên hay trên đường vắng.
Tôi đưa em vào một phòng ngủ. Tôi không ngờ nó tồi tàn, bẩn thỉu, hôi hám đến thế. Trước đây tôi thỉnh thoảng ghé chơi nơi này, nay nó xuống cấp quá, thay đổi hẳn. Em và tôi vừa bước vào, thì bà chủ chứa làm như đã quen biết tôi lâu ngày – thật ra tôi không quen biết bà này – đon đả níu lấy tay tôi và hỏi han rối rít, “Cậu sao mấy hôm nay không ghé chơi. Vắng cậu tôi mất hên. Tôi vừa kiếm được một con gà mái tơ ngon lành lắm. Ô, mà cậu cũng đã kiếm đâu ra cô em thơm phức như thế này.”
Em chau mày, răng cắn môi thành vết hằn tái nhạt, rồi nước mắt bỗng từ từ ứa ra làm ướt đẫm cả khuôn mặt. Tôi hoảng hốt. Tôi vội vàng cầm tay em dẫn đi ra khỏi phòng, mặc bà chủ chứa tru tréo. Em lấy khăn lau nước mắt, đi bên tôi im lặng như chếc bóng, rồi đòi về nhà. Tôi không biết giải thích làm sao. Trước khi chia tay, em cố gắng lấy lại bình tĩnh, nói:
“Em sắp thi tốt nghiệp, chắc chắn em sẽ bận lắm. Không biết có được chút thì giờ nào để đi thăm anh hay không. Em cũng sẽ không viết thư cho anh nữa.” Ngừng nói, nghẹn ngào trong giây lát, rồi em tiếp. “Em thi xong hẵng hay, nghe anh. Và cũng xin anh đừng viết cho em. Anh nhớ giùm cho!”
Sau đó tôi viết nhiều thư cho em rồi xé bỏ rồi lại viết. Tôi muốn giải thích. Mà giải thích thế nào cho ổn? Rằng tôi không có ý xấu định làm hại đời em? Rằng tôi rất yêu em, yêu em một cách trong sáng, xin em đừng hiểu lầm? Rằng sau nhiều tháng nằm dưỡng bệnh, đầu óc tôi mệt mỏi lú lẩn, làm những chuyện không định làm. Hay là rằng tôi không còn như xưa, đã quen cái thói võ biền, bừa bãi, ẩu tả. Nhưng trong sâu xa, đối với riêng em, tôi vẫn luôn luôn… gì nhỉ, luôn luôn quý trọng, và tôn thờ. Và rằng tôi chưa có nơi cư ngụ dứt khoát, chưa biết về nhà nào, tình cờ đưa em đi ngang qua đó ghé lại nghỉ chân một chốc lát thôi rồi lại đi! Rằng tôi không có tiền để đưa em vào những nơi sang trọng khác.
Không có câu nào nghe lọt lỗ tai. Làm sao gởi những lá thư như thế cho em được.
Thời hạn dưỡng thương tại nhà của tôi chưa chấm dứt nhưng tôi vẫn phải trở về đơn vị chiến đấu vì tình hình chiến sự đang sôi sục như chảo lửa. Nhớ em điên cuồng, và hối tiếc, và giận người, giận mình, lòng nặng trĩu. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, càng ngày càng đi đến chỗ bi thảm cho miền Nam của mình, trong khi tôi không thể nào kiếm được vài ba ngày phép để tìm gặp em, để có thể đối mặt với em giải thích cho cặn kẽ.
Tôi nghĩ đến cuộc tình của chúng ta đã đổ vỡ một cách thật trớ trêu, thật tức tưởi, trong cái đổ vỡ lớn lao và trớ trêu gấp bao nhiêu lần của quê hương đất nước vào cuối Tháng Tư bi thảm ấy.
Hàng ngũ của ta rã rời, kẻ chết, người trốn, người tù, người mất tích, người vượt biển. Tôi bị thương nặng, bị bắt nhốt, không có thuốc men, không được săn sóc, không chết là may. Trong đầu tôi còn mang mảnh đạn, một cánh tay không co duỗi được, chân đi khập khiễng, mang tật suốt đời.
Còn em? Tôi đi tìm hoài, nhờ bạn bè hỏi giùm, vẫn không có được một tin tức gì. Em chạy về đâu trong những ngày tan hoang đó?
“Ừ nhỉ, mưa thế này đi đâu được?” tôi nói cho có nói. “Cô biết không, tôi đang nghĩ đến một bài học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư hồi còn bé. Cái cảnh tiễn đưa, kẻ ở người đi. Tôi nhớ cả hình vẽ minh họa: bờ sông có lũy tre, có mấy người đứng đưa tay vẫy, đứa bé được bồng nách cũng vẫy tay theo. Ðằng xa là chiếc thuyền buồm. Tôi không nhớ hết cả bài học đó, chỉ nhớ câu cuối, ‘Ôi! cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!’ Ngày xưa người ta thường tiễn đưa tại bến sông, bến đò. Bây giờ khác, tôi vừa tiễn chân một người .. một người trên sân ga xe lửa.”
Thiếu phụ có vẻ nghĩ ngợi:
“Thảo nào ông không có hành lý. Lúc nẫy ông đã nói thế nhưng tôi nghĩ khác. Tôi cứ tưởng… Nhưng thưa ông, có lẽ ông phải nói bây giờ ông tiễn đưa trên bến xe ô-tô mới đúng chứ. Ðây đâu phải ga tầu hỏa. Và hình như ông vừa tiễn đưa người em nhỏ, cho nên… cảnh biệt ly cũng ‘sao mà buồn vậy!’”
Ngẫm nghĩ một chốc, thiếu phụ nói vui vẻ tiếp:
“Cho tôi nói đùa thêm một chút nữa nhé, vì tôi bỗng nhớ một bài hát. Nhưng tôi không hát đâu. Ai lại hát giữa nơi này, để làm trò cười cho người ta hay sao.”
Rồi thiếu phụ nói theo lời ca của một bài hát mà tôi cũng biết:
Tôi có người em nhỏ
Xinh xinh đôi hàng mi
Môi hồng vừa đương độ
Ðã biết sầu biệt ly …
Vẫn thế, tiếng nói của thiếu phụ nghe thật êm đềm. Tôi đáp:
“Cần gì hát. Nghe cô nói đã thấy hay quá rồi.”
“Ông quá khen.”
“Ở đây cũng có bến xe lửa đấy chứ. Amtrak là công ty xe lửa lớn nhất nước Mỹ. Tòa nhà lớn lao này mé bên này dành cho các hãng xe bus xuyên bang, mé bên kia nhìn ra con đường lớn dành cho hỏa xa. Chốc nữa tạnh mưa cô có muốn tôi đưa cô qua bên đó xem cho biết hay không? Ô, mà không được rồi. Chẳng lẽ phải mang theo hành lý lỉnh kỉnh.”
Ðôi mắt đen của thiếu phụ lóe lên một tia tinh nghịch. Người đàn bà này kỳ quặc thật, tôi thầm nhủ. Mới rầu rĩ đó, bây giờ đã nhí nha nhí nhảnh. Ðúng là có cơn, cơn gì nhỉ, như bà này đã thú nhận.
“Tôi lại xin đường đột nói thêm một điều nữa.” Thiếu phụ tiếp. “Phải nói như thế này thì mới đúng hoàn toàn – Ông vừa tiễn đưa cô bạn gái, chứ không phải cô em gái nhỏ đâu. Chữ ‘người em nhỏ’ cũng có thể dùng để chỉ ‘người yêu bé bỏng’ đấy nhé. Ðúng hay không, thưa ông?”
Trong một bữa tiệc cưới tôi gặp lại Trang. Trang ngồi cạnh một người đàn ông đứng tuổi, cỡ tuổi tôi, trông quen quen Cả hai người quay mặt nhìn về phía sân khấu. Chắc là chồng của Trang chứ còn ai vào đó! Trang ngồi cách tôi khoảng bốn bàn, đang chăm chú nghe người điều khiển chương trình trổ tài ăn nói trước máy vi âm. Tôi đến trễ, đến vừa lúc bữa tiệc sắp bắt đầu. Tôi cố tình đến trễ hơn hai tiếng. Tôi không muốn ngồi chờ quá lâu nơi chiếc bàn tròn dành cho mười người mà có lẽ tôi không quen biết ai cả. Độ này tôi ít giao du.
Vừa bước vào phòng tiệc, tôi nhận ra Trang, như đã được một ai đó mách nước trước. Hay có một sức mạnh huyền bí giúp tôi nhìn ra cô ta ngay trong đám người lô nhô, náo nhiệt đó. Hay đó là thần giao cách cảm? Hình như vào thời gian gần đây tự nhiên tôi ưa tin nhảm lắm.
Trang trông lộng lẫy lạ thường dù tôi mới chỉ thoáng thấy cái bóng dáng ấy. Chiếc áo dài màu nguyệt bạch có thêu mấy cành và ngọn lá trúc xanh xanh nơi tà áo ôm lấy thân hình mảnh mai, cân đối; chiếc khăn voan quàng cổ màu tím nhạt vắt hờ trên đôi vai rất xinh; mái tóc vẫn thế, một phần che lấy một nửa vầng trán rất đẹp, một phần chảy dài xuống ngự …
Mọi thứ chập chờn trong trí nhớ đang trổi dậy trở lại như những đợt sóng ngầm lan tỏa. Tôi lặng người. Những hình ảnh cũ lũ lượt trở về trong tôi, nổi bật nhất vẫn là Trang xuất hiện trong căn phòng thơm mùi thuốc tây, mùi cồn, thoang thoảng mùi son phấn, và mùi da thịt của em. Và vang dội từ xa là tiếng máy bay trực thăng chiếc hạ xuống, chiếc bay lên, liên tiếp nhau ngoài bãi đáp của Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ô! Lại đánh nhau lớn, lại có quá nhiều người chết hoặc bị thương.
Những trận chiến đẫm máu mà tôi từng tham dự đã xẩy ra từ lâu lắm vẫn là những ám ảnh không rời cho tới gây giờ.
Tôi nhìn kỹ. Khuôn mặt thân yêu hơi tái xanh, hơi gầy đi đôi chút, phơn phớt chút son phấn, thỉnh thoảng quay sang nhìn chồng, cho tôi thấy rõ hơn đôi mắt long lanh to và đen dưới riềm mi dài, đôi lông mày không tô đậm cong lên nhẹ nhàng, phơn phớt, cái mũi thon thon, xinh xinh, miệng thì chỉ mỉm cười vừa đủ để lộ một nửa hàm răng trắng đều như hạt bắp, và mớ tóc uốn buông thõng che hết nửa vành tai, và chảy dài xuống dưới.
Thời gian có khi không hề tàn phá nổi nhan sắc của một số giai nhân đông, tây, kim, cổ, trong đó có Trang của tôi! Em của anh! – Không! Không! Không! Em không còn là em của anh nữa!
Người điều khiển chương trình cao giọng:
“Tiếp theo đây chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với qúy vị hai người hạnh phúc nhất đêm nay, lộng lẫy nhất đêm nay, xinh đẹp nhất đêm nay, may mắn nhất đêm nay, tốt đôi nhất đêm nay, và… vân vân. Và hôm nay cũng là ngày lành tháng tốt nhất trong năm Mậu Dậu này, ô xin lỗi tôi nhầm, năm Quý Dậu này. Quý vị có đồng ý với tôi không nào?”
Vài tiếng xì xầm, mậu dậu là cái quỷ quái gì. Vài tiếng vỗ tay lác đác.
“Xin quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn, lớn hơn nữa, nữa, nữa! Thưa quý vị đây, đây, thưa quý vị, cô dâu và chú rể… cô dâu và chú rể đang từ từ tiến lên sân khấu.”
Người MC bỗng ngửa mặt nhìn vào chiếc đèn chùm rực rỡ trên trần, tay đưa máy vi âm lên cao, và gào thét thất thanh:
“Thưa quý vị, xin tất cả quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn… lớn hơn nữa nào, lớn hơn nữa nữa!!!”
Tiếng trống, tiếng kèn, tiếng xập xõa, đồng thời vang lên.
Cô dâu mặc chiếc áo dài lụa trắng có thêu hình con chim phượng, quần cũng lụa trắng dài chấm gót, choàng bên ngoài bằng chiếc áo gấm thêu màu hồng, đầu chít khăn vành vàng, chân mang hài xanh nạm cườm. Tôi sực nhớ đã đọc đâu đấy khăn vành vàng chỉ dành cho hoàng hậu, công chúa. Phi tần, mỹ nữ… thì mang khăn vành xanh, tím, nâu v.v. Chú rể mặc bộ lễ phục màu đen, cổ thắt nơ tím, mang giày đen đánh bóng loáng, đầu trần chải mướt. Cô dâu đặt nhẹ bàn tay mang găng trắng lên trên cánh tay nâng ngang của chú rể. Hai người mặt mày rạng rỡ, mắt nhìn thẳng đằng trước, nụ cười luôn luôn nở trên môi. Hẳn là họ đã tập dượt kỹ, đi chầm chậm theo điệu nhạc mở đầu trong bài Bridal March của Wagner vừa được ban nhạc tấu lên nhịp nhàng.
Quan khách người thì đứng dậy vỗ tay đốp đốp, kẻ thì ngồi giật pháo cho nổ tung tuôn ra những sợi giấy nhỏ và dài nhiều màu, và những sợi khói mờ mờ dưới ánh đèn rực sáng.
Tôi ngồi yên chăm chăm nhìn về phía Trang, lòng lạnh lẽo, trống trải. Vào lúc này, tôi không biết tôi vui hay buồn, mừng hay giận. Tôi chỉ biết tôi thường làm điều tôi không định làm rồi sau đó nghĩ lại thấy tiếc nuối, bực dọc. Chuyện cũ bỗng hiện lên trong tâm trí. Sao mình lại ngu muội đưa em vào phòng ngủ dơ dáy đến thế! Sao không đưa em vào một rạp chiếu bóng, cũng kín đáo vậy, cũng có thể hôn nhau tự do, trước những kẻ ngồi sau hay ngồi bên cạnh tò mò dòm ngó, dù họ khó chịu hay không khó chịu mình cũng mặc kệ.
Gặp em là tôi quýnh quáng, trừ một lần, phải không em. Lần đó, ám ảnh tôi hoài. Nó lặp đi lặp lại trong ký ức. Bên ngoài tiếng máy trực thăng, tiếng cánh quạt quay, gầm lên như bão nổi, chiếc này vừa bay đi tiếng gầm chưa kịp lắng thì chiếc khác đã ào ào đáp xuống, hàng cây nghiêng ngả, cỏ tranh nằm rạp bên hàng rào kẽm gai, lòng tôi cũng nổi sóng dạt dào mà em đâu biết. Tôi ôm em hôn ngấu nghiến lúc em vừa bước vào phòng bệnh viện. Em trong tay tôi run rẩy như chiếc lá trong gió. Xấp giấy tờ trên tay em rơi lả tả xuống sàn nhà.
Khi cô dâu chú rể lên đến sân khấu vừa quay người hướng về quan khách thì Trang, như có con mắt sau lưng, quay lại nhìn tôi và nhận ra ngay. Trang giật mình đứng dậy rồi vội vã kéo người chồng đi theo, đến bàn tôi, nói rối rít:
“Trời ơi, anh! Anh Thạch! Anh Thạch!”
Rồi Trang lấy lại bình tĩnh, giới thiệu:
“Ðây là anh Hưng. Và đây… đây là anh Thạch mà anh và em vẫn thường nhắc đến.”
Tôi đứng dậy bắt tay chồng của Trang. Hưng đề nghị:
“Bàn tôi còn một chỗ trống. Hay là thế này, xin quý vị ngồi bàn này cho phép nhé. Chúng tôi lâu quá mới được gặp nhau lại, xin phép cho anh Thạch qua ngồi bàn tôi, để chúng tôi có thể nói chuyện dễ dàng với nhau.” Quay lại tôi. “ Lâu quá mới gặp lại anh. Anh nhớ tôi chứ. Chúng tôi hết sức vui mừng.”
Tôi bỡ ngỡ đứng dậy bắt tay hai người ngồi hai bên tôi dù tôi không quen, đưa tay chào chung mọi người khác quanh bàn, và đi theo vợ chồng Trang.
“Anh Thạch này,” Trang nói hấp tấp không giấu nổi sự hồi hộp trong lòng, “anh nhận ra anh Hưng chứ? Anh Hưng trước kia là bác sĩ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa có đến chữa bệnh cho anh mấy lần đó –”
Thảo nào tôi thấy quen quen. Tôi bỗng nhớ vào thời gian ấy, đôi khi Hưng đến khám bệnh cho tôi, lần nào cũng có Trang đi kèm.
“Anh biết không, sau khi anh xuất viện, rồi… rồi thì … chắc anh còn nhớ. Em mong thư anh quá. Em chờ mãi mà chẳng bao giờ được hư của anh. Sao vậy anh? Quên em hả? Tiếp liền theo đó là những ngày đánh nhau ghê khiếp, em không biết anh ở nơi nào, đơn vị nào, để có thể liên lạc.
“Cuối cùng em bắt buộc phải theo anh của em di tản qua Mỹ đợt đầu tiên cuối tháng tư 75 mà không thể nào biết được tin tức gì của anh. Anh của em nói biết đâu anh cũng đã rời bỏ Việt Nam rồi. Tưởng rằng sẽ không bao giờ gặp lại anh. Thật không ngờ! Quả là trái đất tròn. Ô, mình còn biết bao nhiêu chuyện để nói với nhau. Ngồi đây nói sao cho hết. Ðể em tính xem.”
Em chờ thư tôi! Nhưng tôi đâu dám gởi thư dù tôi đã viết nhiều lá thư rồi xếp lại ném vào hộc bàn. Hay ném vào bếp lửa. Em bảo tôi đừng bao giờ gởi thư cho em mà, anh nhớ giùm đi mà. Quả thật tôi quá ngu xuẩn. Em nói trong lúc mất bình tĩnh sao tôi lại cứ bám riết vào lời nói lẩy nói hờn đó. Tôi cứ nghĩ tôi là thứ mặt dạn mày dày, nham nhở, lì lợm đối với phụ nữ. Nhưng với ai kia, chứ trước em tôi đâm ra ngại ngùng đến sợ sệt, không dám làm gì trái lời em dặn. Tôi nhớ đã nhiều lần đọc đi đọc lại một bài thơ hay trong đó có câu:
“Chuyện lòng dài thế kỷ
Chỉ dám một lần thư…”
Hồi còn trẻ tôi nghĩ rằng nhà thơ ấy quá nhút nhát trước tình yêu, bây giờ tôi mới thấy rằng có những hoàn cảnh mà người ngoại cuộc không thể nào thấu hiểu nổi. Nay ngồi cùng bàn với em trong tiệc cưới này, tôi chẳng biết nói năng ra làm sao, ngẩn ngơ như người mất hồn. Hưng vừa gắp món ăn cho Trang vừa nhìn tôi ân cần nói:
“Anh bị đau chân? Có lẽ bị thấp khớp?”
Ðúng cái thằng cha này có con mắt cú vọ. Mình mới đi mấy bước từ bàn kia qua đây mà hắn đã nhận ra cái tật của chân mình, tôi thầm nhủ.
“Không, không phải thấp khớp đâu. Bị thương nặng hồi 75 mà không có thuốc chữa, chân tôi đã thành tật.” Tôi chẳng cần giấu diếm, gằn từng tiếng, trả lời.
Cơn giận bỗng dưng ập tới. Giận người? Giận mình? Tôi cau có định nói tiếp rằng tôi bị hư một cánh tay nữa; rằng trong đầu tôi còn một mảnh đạn chưa dám đem đi mổ để lấy ra, lấy nó ra sợ lấy luôn tính mạng của tôi, theo lời bác sĩ; rằng tôi đang hưởng phụ cấp tàn phế; rằng tôi đã chán hết thảy mọi thứ trên cõi đời này. Tôi chỉ muốn nói một lần cho xong chuyện, khỏi ai hỏi han lôi thôi về sau.
Hưng cười xòa:
“Ăn thua gì! Chì như anh tật một chân nhằm nhò gì!”
Hưng ngồi giữa tôi và Trang. Trang chăm chú nghe tôi nói nhưng có lẽ tiếng được tiếng mất. Như những đám cưới khác, ban nhạc quá ồn ào. Nói chuyện với nhau khó khăn, ăn cũng mất ngon.
“Anh qua đây với gia đình?” Hưng tiếp tục câu chuyện.
Tôi trả lời dấm dẳng:
“Không, một mình tôi thôi. Một mình từ bao lâu rồi, từ hồi còn lành lặn, nghĩa là chưa có thương tật gì cả. Chứ bây giờ còn nước mẹ gì nữa mà gia với đình đề huề như người khác! Tôi share phòng với một người bạn ở khu Bolsa.”
Nói xong tôi mới thấy mình vô lý và thô bạo. Ai có tra hỏi đâu mà phân bua, mà cằn nhằn! Hưng quay lại nói chuyện với vợ một hồi. Cuối cùng hai người đổi chỗ ngồi cho nhau, Trang ngồi giữa tôi và chồng, có lẽ để Trang và tôi có thể nghe nhau nói dễ dàng hơn. Tôi thầm nghĩ họ quá tử tế so với cái khiếm nhã vừa rồi của tôi. Tại sao? Cũng có thể tại vì lối cư xử thích làm dáng, thích lịch sự hão huyền của những người tự cho mình thuộc giới thượng lưu trong xã hội? Tôi cay cú thầm bảo. Hay là tại vì… lòng thương hại?
Trang vui vẻ nói với tôi:
“Em tính như thế này nhé, tiệc xong anh về nhà chơi. Em ở nhà anh Cảnh, nhà có nhiều phòng. Anh Hưng cũng đã đồng ý như thế…”
Tôi gạt ngay:
“Cám ơn anh chị. Tôi bận. Xin để khi khác.”
Trang nhìn tôi cười ngặt nghẽo chảy cả nước mắt:
“Ủa! Anh chị nào vậy hả anh Thạch? Em từ New York bay qua đây dự đám cưới đứa cháu, con gái lớn của anh Cảnh. Gặp anh Hưng ở đây, được sắp ngồi cùng bàn. May lại được gặp anh nữa, em mừng quá!”
Tôi nghe. Bàng hoàng sửng sốt.
Trang ngập ngừng một hồi lâu, đôi mắt lắng sâu xuống, răng cắn môi, vẫn hàm răng đẹp ngày xưa, vẫn khuôn mặt thanh tú nuớc da trắng xanh nổi bật lên giữa suối tóc đen mượt mà, cuối cùng nói:
“Anh chị Cảnh có ý định rủ em và mời anh Hưng đi chơi Yosemite mấy ngày để thưởng thức tuyết. Mà tuyết thì có gì lạ đối với em đâu. Miền đông bắc, nơi em đang sống, năm nào mà chẳng có tuyết! Em đã nhận lời anh Cảnh nhưng có lẽ e … em phải nghĩ lại. Có lẽ em phải nhân dịp này thực hiện cho được giấc mộng của em là đi xe lửa từ tây qua đông xuyên ngang nước Mỹ. Tha hồ đi qua bao nhiêu là tiểu bang, tha hồ ngắm cảnh.”
Quay qua Hưng, Trang tiếp:
“Em đổi ý như chong chóng, anh đừng cười nhé. Chốc nữa em sẽ nói lại với anh Cản … ngày mai em trở về New York. Ðã lỡ xin mấy ngày phép, em sẽ tận dụng. Thay vì về bằng máy bay, em sẽ đi xe lửa. Còn khối thì giờ mà.”
Món tôm hùm vừa dọn lên thì ban nhạc ồn ào cũng tạm ngừng. Mọi người thở dài nhẹ nhõm. Người điều khiển chương trình vẫn chưa tha, lại lên máy vi âm trổ tài miệng lưỡi:
“Kính thưa quý vị, noi theo truyền thống vô cùng tốt đẹp lâu đời của ông cha ta để lại, cô dâu chú rể phải có bổn phận đi đến từng bàn để cám ơn quý vị đã bỏ chút thì giờ vô cùng quý báu đến đây làm cho buổi lễ hôm nay thêm phần cao quý, thêm phần long trọng, thêm phần ý nghĩa”. Ngưng lại một khoảnh khắc ngắn, cố nhớ, và nói tiếp. “Và đồng thời cô dâu chú rể cùng thân phụ thân mẫu cũng xin được cùng quý vị từng bàn một chụp một tấm hình lưu niệm đời đời của buổi tiệc cưới vô cùng quý giá này, vô cùng tuyệt vời này, trên cả tuyệt vời này – thưa quý vị!”
Ba chữ cuối cùng, “Thưa quý vị”, được người MC gào lên thật to, và kéo lê thật dài.
Hưng cười cười và hạ giọng nói với tôi, khỏi phải nói to lên như nãy giờ khi bị ban nhạc quấy rầy:
“Anh qua Mỹ một mình, tôi cũng một mình qua Mỹ. Trong thời gian tôi đi tù, vợ con tôi vượt biên và mất tích. Chờ mãi không thấy tin tức, chắc không một ai còn sống sót.”
Tôi buộc lòng phải nói vài lời chia buồn. Hưng nói tiếp:
“Thế mà từ đó đến nay cũng đã hơn mười năm. Thời gian đi mau quá, phải không anh. Anh thấy tôi có nên bước thêm một bước nữa hay không? Ở một mình cũng buồn mà đèo bòng thêm – anh liếc nhìn Trang, hạ giọng xuống – thì… chắc gì được… được…“
Trang ngắt lời, đưa mắt nhìn Hưng:
“Hai anh thì thầm chuyện gì vậy? Tôi nghe được hết cả đấy. Lâu ngày mới gặp nhau tha hồ nhắc lại chuyện cũ nhé. Nhưng bây giờ hãy bàn chuyện trước mắt cái đã. Các anh vẫn thường than phiền tiệc tùng ở đất Mỹ mất vui vì các anh không uống rượu được nhiều. Em thấy tội nghiệp cho hai anh quá, nhất là anh Thạch xưa nay vẫn uống rượu như hũ chìm. Nghe nói bây giờ theo luật mới có hơi rượu mà lái xe là sẽ bị thu bằng lái ngay. Có khi bị cho vào tù. Có phải vậy hay không hai anh?”
Hưng đáp nhanh:
“Cô Trang nói đúng. Cô không thấy sao, anh Thạch và tôi đâu dám đụng đến cái chai rượu. Chán thật. Mà cả bàn mình cũng không ai dám mó tới. Vô lý, vô lý.”
Trang bỗng reo lên
“Hai anh khỏi lo, cứ tha hồ uống, em có cách. Chốc nữa xong bữa tiệc, em làm tài xế lái xe đưa hai anh về nhà. Xe các anh cứ để đây qua đêm, khoá lại. Sáng ngày mai nhờ người nhà chở ra đây, rồi lái xe ra ga xe lửa tiễn đưa em luôn thể. Ðồng ý nhé!”
Đúng như tôi dự đoán, trời quang đãng dần rồi tạnh hẳn vào lúc giữa trưa. Tôi nghĩ rằng câu chuyện giữa và thiếu phụ và tôi đã quá dài. Tôi không còn lý do gì để nấn ná thêm nữa.
Mà lạ thật, người đàn bà này tuồng như có một sức lôi cuốn ngầm nào đó khiến tôi bỏ đi ngay không đành. Đó là nỗi bi thương hiện lên trên cặp mắt khi tối tăm, lúc ảo não, lại cũng có lúc êm đềm, ngọt ngào? Là đôi môi chợt buồn, chợt vui, nhưng ít khi mở miệng cười? Là sắc đẹp có lẽ lộng lẫy một thời nay sắp tàn phai? Là mấy nếp nhăn mờ mờ trên trán, trên khóe mắt, khóe miệng, khi ẩn, khi hiện. Chưa hết, còn có lối nói lúc thông minh, lúc dịu dàng, lúc cợt nhả, lúc chua chát, lại có lúc như lên cơn điên loạn? Và giọng nói thì du dương, êm ái, thân thiết, hoặc cay đắng, đau đớn. Và mái tóc nữa chứ, uốn nhẹ, dài, và khá mượt mà, như cái khung màu đen mun bao lấy khuôn mặt rầu rầu.
Thế là bốn giờ chiều nay người đàn bà này sẽ một mình đáp xe bus lên đường đi về hướng đông. Cũng sáng hôm nay, trước đó không lâu, bên khu hỏa xa, tiếng động cơ “xục xà, xục xịch”, xe lửa từ từ lăn bánh, cũng chạy về hướng đông. Tôi ngẩn ngơ như đang chứng kiến một cái gì hết sức quý giá đang càng lúc càng khuất xa tầm tay với của tôi. Trang ngồi cạnh cửa sổ xe lửa vươn người ra nhìn lại, bốn mắt chập chờn gặp nhau, mắt Trang và mắt tôi, cánh tay của Trang đưa ra ngoài cửa xe vẫy vẫy không ngừng. Hưng rối rít vẫy tay đáp lại, chạy theo xe một đoạn ngắn, và luôn mồm la lớn bye, bye. Tôi đứng lừng khừng nhìn theo Trang mãi cho đến khi hết thấy.
Giờ này Trang đã đến đâu? Xe lửa có đưa Trang đi ngang qua Green River, Salt Lake City, nơi ở tạm bợ của người đàn bà khốn khổ này, trước khi thẳng đường lên Chicago rồi qua Nữu Ước? Có thể nào tôi gặp lại Trang hay không? Lần thấy nhau ngắn ngủi này trong buổi tiễn đưa, phải chăng là lần cuối cùng? Là vĩnh biệt? Tôi bỗng thấy nhói nơi tim và bỗng dưng nhớ bệnh viện Cộng Hòa da diết. Nhớ tiếng máy bay trực thăng gào thét. Nhớ căn phòng thơm mùi thuốc lẫn mùi môi son, mùi da thịt. Nhớ xấp hồ sơ xuống sàn nhà. Và nụ hôn say đắm.
Trước khi lên toa xe lửa Trang nói với tôi và Hưng:
“Khi nào rảnh rỗi, thế nào hai anh cũng phải qua em chơi nhé. Anh Hưng thì đã biết chút ít về việc học hành của em rồi, nhưng em cũng phải cho anh Thạch hay rằng hiện em đang thực tập tại một bệnh viện ở New York. Nửa năm nữa là xong nợ.”
“Cô Trang giỏi quá,” tôi tiếp lời. “Qua New York học bác sĩ để… để cho cái bằng được thêm giá trị chứ gì. Trước khi hành nghề, cô đã cẩn thận xây dựng tiếng tăm dần dần.”
“Không phải đâu anh,” Trang vui vẻ đáp. “Mình qua đây chậm trễ mong được làm nghề cũ đã là may mắn lắm rồi, khoan tính đến chuyện tiếng với tăm làm gì. Trước kia em ở bên này với anh Cảnh để tiện đi học lấy bằng tương đương. Em đã thi đậu xong mấy phần đầu nhưng còn phải học thêm và thực tập thêm cho đủ số tín chỉ cần thiết. Muốn dễ đậu chỉ có cách đi xa… “
Tôi ngắt lời:
“Cô Trang nói nghe lạ quá, tôi chẳng hiểu gì cả.”
Trang thủng thẳng giải thích:
“Nghĩa là lấy bằng bác sĩ tại UCLA, hay Stanford của California khó lắm. Em phải đi đến học và thực tập tại những bệnh viện tồi tàn, hẻo lánh, ở các ngoại ô xa lắc của New York chẳng hạn, những nơi không ai thèm tới, nơi bệnh nhân đa số là người nghèo, người da đen, người da màu. Như thế mới dễ đậu hơn.” Trang đưa mắt nhìn tôi gần như âu yếm, ngừng lại một chốc, rồi tiếp. “Kệ nó, mình qua đây trễ, miễn cho xong cái bằng. Hai anh liên lạc với em đều đều nhé. Viết thư cho em – Trang lại kín đáo nhìn tôi – dài ngắn gì cũng được. Thỉnh thoảng cũng gọi điện thoại nói chuyện cho vui. Hai anh đừng bắt em chờ thư quá lâu nhé!”
Trang muốn tôi gởi thư? Vâng, em ý tứ lắm! Thư mới nói được hết những gì mình muốn nói, những gì cần được bày tỏ sau khi suy nghĩ kỹ càng. Tức là có chuẩn bị, có thêm bớt, có vo tròn, bóp méo, v.v. để cho lá thư có thể mang lại kết quả mong muốn của người viết. Nó không hồn nhiên như lời nói, nếu đấy là những lời nói chân thật. Nhưng ngược lại, thư mới là chứng tích, còn lời nói gió bay. Có phải vậy không em?
Vậy tôi sẽ viết cái gì đây cho em? Đầu thư, có lẽ nên viết ngay, “Anh yêu em lắm.” Như thế mới gây được ấn tượng mạnh. Nhưng nghe có vẻ tiểu thuyết, dù đấy là tình yêu thật của tôi đối với em. “Anh trông chờ quá đỗi mà không được tin tức gì của em từ ngày em đón anh tại bệnh viện, rồi… rồi chúng ta cùng đi bên nhau…” Lại nhắc đến chuyện cũ và những lầm lỗi không thể tha thứ của mình! Tôi đâm bối rối.
Quả thật, tôi nghĩ rất nhiều đến Trang. Lòng đau đớn khổ sở, mà không kiếm được ngày phép để tìm Trang, để nói sao cho Trang hiểu tình huống trớ trêu đó. Rồi biến cố dồn dập, rồi tôi bị thương nặng…
Vâng, tôi sẽ phải kể lể, tả oán cho thật lâm ly mong Trang mủi lòng, họa chăng tôi mới có thể hạ được địch thủ là cái thằng bác sĩ kỳ đà cản mũi này. Em không còn trẻ thơ, anh sắp già cỗi, cả hai đều trải qua bao nhiêu lao đao chìm nổi, nay may mắn gặp lại nhau, có lẽ nên hiến dâng cho nhau những ngày còn lại của cuộc đời? Nhưng tương lai của em sáng sủa trước mặt, trong khi anh…
Giọng cười kín đáo của thiếu phụ đưa tôi về thực tại:
“Ông đang nghĩ gì mà thừ người ra như thế thưa ông?”
Tôi chống chế:
“Tôi nghĩ rằng trời sắp tạnh hẳn rồi, tôi sắp phải từ giã cô.”
Thiếu phụ chau mày, mắt tối sầm:
“Thế mà tôi cứ nghĩ là ông… Nhưng, trước khi ông đi, tôi có thể nhờ ông giúp cho một việc nữa, được không ạ. Như ông đã biết, tôi mù tịt tiếng Anh. Tôi mạn phép mời ông tới cửa hàng đằng kia, chỗ có bán thức ăn gì đó. Họ bán gì vậy, thưa ông… rồi mình ăn trưa. Bằng không, chiều nay lên xe, tôi phải nhịn đói từ sáng nay cho đến khuya nay, cho đến ngày mai. Chắc ông không biết rằng tôi không biết gọi món ăn. Tôi nói cái gì vậy, ông hiểu giùm cho. Tôi chưa bao giờ dám vào một quán ăn Mỹ hay Mễ nào cả. Trễ xe phải đến sáng ngày mai mới tới nhà. Rồi chuyện gì sẽ xẩy ra? Em tôi đã đi làm, tôi vào bếp lục lọi tìm cái gì ăn được thì ăn, trong khi nó ngồi yên như con hổ rình mồi, đưa mắt nhìn theo. A, nhưng đấy là chuyện riêng của tôi, nói ra thật xấu hổ, thật vô duyên.”
Tôi đứng dậy nói với thiếu phụ:
“Cô cứ ngồi đây trông hành lý. Tôi đi mua thức ăn cho cô ngay. Rồi tôi còn phải đi gấp… Họ bán gì nào? Tôi mua Sandwich, Hamburger, và Potato Chips nhé? Và vài chai nước lọc.”
Bỗng nhiên người đàn bà cúi gập người xuống, úp mặt vào hai bàn tay, đôi vai rung rung. Tiếng nức nở bị dồn nén. Hai hành khách ngồi ghế đối diện với chúng tôi cúi gầm mặt xuống, dường như không muốn chứng kiến cảnh tượng đó. Cô gái da đen bỗng ngẩng đầu lên, quắc mắt nhìn tôi săm soi, khó chịu. Anh chàng tóc vàng kín đáo hơn, mỉm cười đứng dậy ra dấu chào tôi, rồi kéo cô bạn gái đi đến phía tiệm ăn của nhà ga.
Tôi cũng khó chịu và lúng túng không kém, đứng lên khỏi ghế, không biết xử trí thế nào cho phải. Sau một hồi, thiếu phụ buông tiếng thở dài, nước mắt còn ràn rụa, nghẹn ngào nói:
“Tôi làm phiền ông quá, xin lỗi ông. Có lẽ tôi khỏi nhờ ông mua thức ăn. Nhưng ông có thể ngồi nán thêm một chốc nữa hay không để tôi được nói thêm đôi lời nữa. Tôi khổ tâm lắm! Tôi không muốn về với em gái tôi nữa. Ở đấy thêm một thời gian nữa thôi, tôi sẽ chết mất. Chắc hẳn ông không biết tại sao?”
“…”
“Vâng, tôi sẽ kể hết mọi chuyện cho ông nghe. Mà cũng lạ thật, gặp ông có bao lâu đâu, thế mà tôi nghĩ rằng tôi có thể tâm sự với ông. Tôi có thể nói hết mọi chuyện cho ông nghe không chút ngại ngùng… thì lòng tôi sẽ được thanh thản một phần nào. Và biết đâu ông cũng có thể cho tôi vài lời khuyên nhủ.”
Tôi lẳng lặng ngồi xuống.
“Tôi thương em tôi lắm. Chồng con tôi đã chết hết. Trong đời này tôi chỉ còn có em tôi. Nó nhỏ tuổi hơn tôi nhiều, nó coi tôi như mẹ. Thế mà tôi đành phải xa nó. Tôi qua Cali tìm nhà người bạn cũ xin tá túc một thời gian, nếu được thì ở luôn. Nhưng thấy có nhiều điều bất tiện quá!”
Bắt đầu chú ý tới chuyện riêng của người đàn bà lạ lùng này, tôi cố tìm cách an ủi bằng những lời sáo mòn:
“Không sao đâu cô. Dần dần mọi chuyện sẽ đâu vào đấy. Mọi khó khăn sẽ tự nhiên trôi qua, trôi qua đi mất hết. Mọi vấn đề sẽ tự nó giải quyết lấy. Thời gian là ông thầy thuốc chữa lành mọi căn bệnh.” Tôi nói mà như tôi nói cho chính tôi nghe.
Thiếu phụ dường như không nghe tôi nói gì, tiếp lời:
“Ở bên nhà, người ta trải lòng với nhau mà sống, còn bên này ai cũng thủ kỹ, ai cũng sợ chuyện bất trắc có thể xẩy đến, ai cũng sẵn sàng tử tế với nhau dăm ba lần rồi thôi, rồi thun cổ lại trốn kín bưng trong cái mai con rùa của mình. Có phải vậy không ông, hay tôi nói quá? Thậm chí có người quen cũ vừa mới gặp tôi liền vội vã kéo tôi vào quán ăn ép tôi ăn một món nào đó như để trả cho xong món nợ quỷ thần. Rồi hối hả bỏ đi quên hỏi số điện thoại của tôi, hoặc hỏi tôi hiện giờ ở đâu, làm gì sống… Không kiếm được chỗ ở bên này, tôi đành phải nhờ người ta mua vé cho tôi lộn về trở lại bên đấy. Nhưng, nhưng …”
Phòng đợi bỗng xôn xao kẻ vào người ra. Lại xe đến, xe đi. Thiếu phụ ngừng nói, dáo dác nhìn ra ngoài bãi xe đậu. Một gia đình người Mễ Tây Cơ, hay người Trung Mỹ, Nam Mỹ, gồm sáu bảy người già, trẻ, lớn, bé đến gần chỗ chúng tôi ngồi đặt những xách hành lý cồng kềnh, ướt át, xuống choáng cả lối đi giữa hai hàng ghế. Họ là những người nghèo nàn, như chúng tôi, ăn mặc nhếch nhác, tóc tai bù xù, da sạm nắng, trông khỏe mạnh, nói năng ồm ồm như chỗ không người. Lũ trẻ thì chạy quanh quẩn nô đùa, cười giỡn, thoải mái.
Tôi để ý rằng rất ít người Mỹ da trắng sử dụng phương tiện chuyên chở này. Tôi bỗng nhớ Trang sáng hôm nay, xinh đẹp, dịu dàng, sang trọng, trông như một nàng tiên lạc bước vào cõi trần ai trong đó đang có tôi mệt nhọc, chán nản, và có người đàn bà buồn vui thất thường này. Và cũng có những người Mễ vô tư, hồn nhiên.
Tôi tưởng phải nên nói một lời an ủi chung chung:
“Cô cũng đừng nên lo buồn thái quá. Gia đình nào cũng có chuyện bất như ý. Rồi thời gian, như tôi vừa nói và tôi muốn nhắc lại, sẽ là ông thầy thuốc chữa lành mọi thứ bệnh, và mọi nỗi khổ của con người.”
Thiếu phụ quắc mắt nhìn tôi, gằn giọng:
“Nhưng ông biết gì về chuyện gia đình của tôi mà bàn ngang như thế. Ô, ô, tôi xin lỗi ông. Tôi lại… xin ông đừng chấp.”
Thiếu phụ ngồi im một chốc khá lâu, đưa tay sửa lại mái tóc bù rối một phần nào, như để trấn tĩnh, như để chờ phản ứng của tôi, rồi tiếp:
“Có lẽ tôi phải đem việc nhà của tôi kể hết cho ông nghe ông mới biết được tôi lâm vào hoàn cảnh khó xử đến dường nào. Tôi khổ tâm lắm thưa ông, nói ra thật xấu hổ. Tôi sợ một ngày nào đó em tôi biết hết mọi chuyện, nó sẽ đau đớn vô cùng, và tôi cũng không sống nổi.”
Người đàn bà vừa mới bình tĩnh lại thổn thức, nước mắt ràn rụa làm lem lớp phấn mỏng trên khuôn mặt đau khổ. Tôi đứng dậy loay hoay kiếm từ trong túi quần một miếng khăn giấy nhàu nhò đưa cho thiếu phụ. Người đàn bà cầm lấy, chặm chặm lên trên đôi mắt chớp chớp bây giờ đã đỏ hoe, buông tiếng thở dài, và nói tiếp:
“Tôi không ngờ thằng chồng nó khốn nạn đến thế. Thằng đó mất việc làm, ở nhà, chưa tìm được việc làm khác. Em gái tôi phải đi làm hai việc, ban ngày đi may vá, ban đêm phụ bếp cho một tiệm ăn Tàu. Tôi ở nhà một mình… Tôi không chống cự nổi nó. Tôi không dám thưa cảnh sát, mà cũng không biết làm sao mà thưa cho được. Và nghĩ cho cùng, dù có thể nhờ người nào đi thưa giùm, làm to chuyện, thì người khổ nhất vẫn là em tôi và tôi. Nhưng cứ để yên như thế này thì chắc chắn cũng có ngày đến tai em tôi. Cho nên tôi phải đi, phải rời khỏi ngôi nhà đó! Tôi còn có cách nào khác nữa đâu, thưa ông. Ông là người ngoại cuộc, ông sẽ thấy rõ vấn đề hơn tôi, xin ông cho tôi một lời khuyên nhủ. Tôi sẽ làm theo ý kiến của ông ngay.”
Thật là trớ trêu! Tôi mà khuyên nhủ được ai! Chuyện của mình còn rối nùi, còn hơi sức đâu xía vào chuyện người khác.
Tôi đang băn khoăn mãi vì câu chuyện giữa tôi và Trang. Có giải pháp nào tốt đẹp hay không?
Một là mình cố nặn óc ra viết một bức thư thật dài, thật lâm ly, nhắc lại nhiều kỷ niệm chung, mong sao khi đọc Trang sẽ xúc động mạnh, sẽ, sẽ… Rồi mình trở lại với Trang làm lại cuộc đời. Làm lại cuộc đời khi sắp xế bóng? Khi chưa nói rõ cho Trang biết hoàn cảnh của mình? Liệu có nên hay không? Hai là nói thẳng với Trang rằng mình bị thương nặng đến mang tật suốt đời, không còn “xơ múi” gì, ngoại trừ còn mảnh đạn còn nằm trong đầu không thể mổ ra được. Sẽ là một gánh nặng kinh khủng cho Trang. Yêu nhau đâu thấy, sẽ phụ nhau không sớm thì muộn. Thế là… có thể Trang sẽ chọn Hưng. Nồi nào úp vung ấy, xứng đôi vừa lứa. Ba là cứ để cho mọi chuyện tự nó giải quyết lấy, tới đâu hay đấy.
Chọn giải pháp nào đây? Hay là phải nhờ người đàn bà này giúp ý kiến chăng, tôi cay đắng tự nhủ.
Nén tiếng thở dài, tôi chán nản nói:
“Trên cõi đời này, chuyện buồn thì ai cũng có. Mỗi người buồn mỗi cách, chẳng ai giống ai. Không chừng hoàn cảnh của tôi còn bế tắc hơn nhiều. Tôi đang khổ tâm lắm cô ơi. Tốt hơn hết là, giữa cô với tôi, đường ai nấy đi, việc ai nấy lo. Nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Không nên chĩa mũi vào việc của người khác.”
Nói xong tôi mới tự thấy mình lố bịch quá. Vẫn cái lối nói vớ vẩn cố hữu. Thiếu phụ đã bớt thổn thức, trố mắt nhìn tôi lộ vẻ thương cảm:
“Thì ra ông cũng đang có chuyện buồn! Tôi đã đoán biết như thế ngay từ lúc tôi mới gặp mặt ông. Trông ông… trông ông làm sao ấy.”
Tôi ngạc nhiên vì nhận xét đó.
“Cho nên, lần đầu tiên tôi… hỏi ông. Về chuyện gì nhỉ? À mấy giờ rồi. Phải không thưa ông? Tôi hỏi chẳng qua là để bắt chuyện với ông đó thôi. Để có thể…”
Tôi nổi giận:
“Thế à? “Thế có nghĩa là nãy giờ c … cô bịa chuyện, cô đóng kịch cho tôi xem miễn phí?”
Người đàn bà sửng sốt, thu mình lại, lắp bắp nói:
“Ô, ô, xin lỗi ông. Nhưng tôi nói chưa hết ý… Chứ thật ra tôi đâu tệ đến nỗi bịa chuyện để đùa cợt ông. Tôi không biết làm thế nào cho ông hiểu được hoàn cảnh của tôi, dù tôi đã, đã… “
Không nói hết câu, thiếu phụ bỗng im bặt, cúi đầu nhìn xuống. Đôi rèm mi dài còn ướt nước mắt chớp chớp nhè nhẹ; khuôn mặt mệt mỏi, nhợt nhạt, buồn rười rượi; mái tóc dài chưa có sợi bạc phủ lên trên đôi vai hơi gầy. Nhan sắc sắp tàn phai bỗng tươi lên đôi chút, chẳng khác gì tia sáng yếu ớt của buổi chiều chợt ửng lên lần cuối trước khi mặt trời lặn xuống dưới chân mây. Tôi lúng túng.
Chiếc xe bus Grey Hound đang từ từ tiến vào, trên kính trước của xe có treo bản San Diego – Los Angeles. Tôi nhìn đồng hồ, mới hơn 12 giờ trưa. Chuyến Grey Hound đi Salt Lake City thì phải khoảng 4 giờ chiều mới tới, có lẽ cũng từ San Diego đến.
Phòng chờ và bãi đậu xe lại nhốn nháo năm, mười phút.
Cảnh tượng cũ lặp lại. Vài người đang chơi trò chơi điện tử cạnh quầy bán vé vội rảo bước đi ra ngoài, đón thân nhân từ xe bus xuống, rồi cùng nhau đến xe của họ đậu gần đấy, lần lượt lên xe, lái đi mất hút. Vài người khác lại vội vàng mang hành lý đi ra xe bus đang chờ. Một vài hành khách đang nằm ngủ trên chiếc ghế băng, ngồi nhổm dậy nhìn ngơ ngác, rồi nằm xuống ngủ tiếp. Một số hành khách mới đến lại sắp hàng dài trước quầy bán vé đứng chờ người bán vé vừa đi ăn “lunch”.
Tôi đến quán ăn nhà ga mua mấy món ăn và hai chai nước lọc. Trở về thấy thiếu phụ vẫn ngồi chỗ cũ, thoáng chút vui mừng. Tôi không biết xử trí ra sao, đành ngồi bên cạnh thiếu phụ, im lặng. Thiếu phụ mở lời trước, và nói một hơi như thể sợ tôi ngắt lời:
“Nẫy giờ ngồi một mình tôi có dịp suy nghĩ kỹ rồi. Xin ông giúp tôi một lần nữa nhé, thưa ông. Tôi quá đường đột, nhưng xin ông làm ơn. Làm ơn thì làm ơn cho trót. Là… là tôi không dám về bên đó nữa. Tôi sợ thằng em rể ấy lắm. Xin ông xem thử có thể chỉ cho tôi một chỗ share phòng rẻ tiền gần khu người Việt Nam mình ở. Tôi muốn sống tạm bên này một thời gian, rồi tính sau.
“Tôi sẽ đi kiếm việc làm ngay, bất cứ việc gì. Tôi biết thêu, biết ren, biết đan. Tôi cũng may vá giỏi. Tôi cũng biết nấu ăn. Hoặc giữ trẻ, đánh đàn cho chúng nó nghe, cho chúng nó yên giấc ngủ. Hoặc giặt giũ, hoặc quét sân, chùi nhà, lượm rác. Hoặc chặt cá, chặt thịt trong các siêu thị. Hoặc chăm sóc ông già bà cả. Việc gì tôi cũng làm được. Dần dà tôi sẽ tính chuyện sum họp với em của tôi sau.”
Nghe đến đây, tôi không giấu được kinh ngạc:
“Nghĩa là trước sau gì cô cũng phải trở về cái nhà đó, sống với…”
Thiếu phụ vội vàng nói tiếp:
“Không, không phải thế. Khi đã dành dụm được chút ít tiền, tôi mới có thể trở lại bên đấy, tìm chỗ thuê ở riêng một mình gần nhà em tôi. Chị em như vậy cũng coi như được sum họp. Tôi xin ý kiến của ông.”
Tôi ngẫm nghĩ. Thiếu phụ bỗng tỏ vẻ lo lắng, nói thêm:
“Thưa ông, còn điều này nữa mà thôi. Chẳng biết bên đấy có việc làm cho người như tôi hay không. Hay là tôi sẽ nhờ em tôi giới thiệu làm ở sóp may hay nhà hàng Tàu.”
*
Tôi đưa Thu, tên người đàn bà gặp ở bến xe đò, về ở tạm nơi căn phòng chật hẹp của tôi thuộc khu phố Bolsa có nhiều người tỵ nạn Việt Nam. Chỉ thêm một cái nệm mỏng đặt trên sàn nhà làm chỗ ngủ. Rồi sẽ tính sau. Cứ thế ngày này qua ngày khác, chúng tôi sống bên nhau, trong khi đó tôi luôn luôn nghĩ đến Trang.
Tôi viết cho Trang một lá thư ngắn ngủi, nhạt nhẽo, và giấu kín chuyện tôi và Thu. Trang trả lời ngay, giọng thư có chút hờn dỗi. Trong lá thư gần đây nhất, Trang cho biết Hưng sẽ qua New York chơi. Và “anh có định qua đây chơi với em hay không? Em đang chờ anh đấy. Xin anh cho em biết gấp!”
Tôi phân vân mãi. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa trả lời Trang một cách dứt khoát.
Sau đó tôi nhờ người quen kiếm được cho Thu một việc làm tại hãng sản xuất sáo mành mành bằng nhựa, với đồng lương tối thiểu. Thu mừng rỡ một cách tội nghiệp, vì dù sao đó là một việc làm đều đặn, ổn định, có giờ giấc đàng hoàng, cứ hai tuần lại có một chi phiếu của hãng gởi về. Ðồng lương tối thiểu, 5 đô-la một giờ, nhưng đối với Thu, đó là cả một món tiền lớn ngoài mơ ước. Thu đi Mỹ theo diện em bảo lãnh nên không được hưởng phụ cấp xã hội.
Tôi cũng tìm được một căn phòng nhỏ cho Thu thuê với giá thật rẻ. Nhưng Thu không chịu dọn đi. Tôi không nỡ và không muốn mời Thu đi nơi khác.
Từ đó chúng tôi sống với nhau. Lạ lùng thay, Thu rất hiền lành, ý tứ, và dịu dàng. Chứ không phải là một người đàn bà đa đoan, sắc sảo, tính khí bất thường, như tôi tưởng. Hay là người đàn bà này đang cố gắng đóng trò. Tôi nghĩ rằng với thời gian, bản tính của con người sẽ bộc lộ dần dần. Hãy chờ xem.
Thỉnh thoảng Thu muốn gợi ý về câu chuyện riêng của tôi, chuyện lòng của cả một đời người, nhưng khi thấy tôi im lặng, Thu nói lảng qua chuyện khác ngay.
Một hôm sau bữa tiệc cưới thằng con trai người bạn chiến hữu ngày xưa, tôi mang về một chai rượu Martell hầu như còn nguyên. Biết tôi là con sâu rượu, mọi người ép tôi mang rượu về nhà mà uống. Ô, mà không ai ép tôi cũng mang nó về nhà, vì chính tay tôi đã mở chai rượu ra, rót một ly nhỏ cho tôi thôi. Mấy thằng bạn kia đều xua tay từ chối. Tụi nó chẳng ai muốn uống rượu mạnh, sợ say, sợ trên đường về nhà lái xe loạng quạng rủi gặp cảnh sát đuổi theo.
Có lẽ tôi phải nói thêm rằng tôi luôn luôn một mình đi ăn cưới, hay thỉnh thoảng đi họp bạn, không mang Thu theo. Và tôi cũng chỉ giới thiệu Thu với vài người bạn thân của tôi mà thôi. Tội nghiệp, Thu không dám, hoặc không thèm, tỏ ý bất mãn.
Tại sao tôi cư xử với Thu như thế nhỉ? Tại vì tôi sợ câu chuyện này mà phổ biến ra sẽ có ngày đến tai Trang? Nhưng tôi có mong gặp lại Trang của tôi nữa đâu mà phải đề phòng cẩn thận như thế. Hả trời! Hay là tôi vẫn nuôi chút hy vọng?
Tôi và Thu tôi sống bên nhau một cách tạm bợ. Tôi nghĩ rằng nếu Thu tìm được cuộc sống ổn định hơn, có lẽ cô sẽ xa tôi ngay, và tôi cũng sẽ đồng ý, không chút oán trách. Vâng, dù sao người đàn bà này cũng còn có chút tương lai, chứ đâu phải như tôi. Tuy nhiên, trong lúc còn sống bên nhau, Thu cư xử với tôi thật chu đáo. Ngoài thì giờ đi làm ở hãng, cô đi chợ mua thức ăn, nấu ăn ngon, nhà cửa dọn dẹp ngăn nắp, sạch sẽ, áo quần của tôi Thu giặt giũ, ủi, xếp gọn gàng. Cái bàn nhỏ rất bừa bãi của tôi cũng được Thu để mắt chăm nom cẩn thận. Bàn tay phụ nữ thật kỳ diệu!
“Ăn cưới vui không anh? Lại mang rượu về! Ðể em xem nào .. có con cá chép thật tươi ngày mai em làm món gỏi mà anh ưa thích. Anh tha hồ nhậu nhẹt với anh Chấn đấy nhé.”
Tôi cao hứng:
“Nó đang tươi rói thì phải ăn ngay. Chờ đến ngày mai hết ngon, phí của. Em làm đồ nhắm ngay bây giờ đi, rồi em nhậu với anh.”
“Nhưng em không biết uống rượu.”
“Không sao cả. Anh tập em uống.”
“Nhưng anh cũng vừa ăn cưới xong?”
“Có sao đâu. Bây giờ anh nhậu với em chứ có phải ăn đâu mà lo.”
Thu cười duyên, nói:
“Ủa, ăn và nhậu khác nhau, em đâu biết.”
A, phải rồi, cô này không biết uống rượu, chưa hề nhậu nhẹt với tôi. Nhưng lo gì, cứ ép là cô chiều ý mình ngay. Thu luôn luôn ngoan ngoãn vâng lời mà. Vả lại trong tiệc cưới mình chỉ mới uống một ly Martell.
Vâng, tiệc tùng thì cũng chỉ được uống chút chút thôi, là vì đâu có Trang, để Trang của tôi, để em của anh, xinh đẹp, quý phái, trong veo như nàng tiên chưa gãy cánh lọt xuống trần ai đầy khổ lụy này, lái xe đưa anh về nhà, để em bảo anh ngồi ghế trước kề bên em, để em hỏi anh thật nhiều chuyện cho thỏa lòng tò mò, em nói thế nhưng thật ra đấy là cho thoả lòng mong nhớ. Kìa anh Hưng, chịu khó ngồi ghế sau nhé. Hay là anh Hưng có muốn công bằng thì hai anh cứ oánh tù tì đi – tiếng nói trong veo, quen thuộc và thân yêu từ thời thơ ấu của em nghe như lời ru của quê hương, của dòng sông, dãy núi, của vườn cau, vườn chuối, vườn cây có nhiều trái chín mùa hè, của sương, của gió, của mưa, của nắng, của suối, của nguồn, của mây, của nước… của mẹ xa xôi.
Ngồi uống rượu với Thu mà tôi nhớ Trang muốn rơi nước mắt.
Thế là lần đầu tiên tôi và Thu cùng uống rượu đối ẩm thân mật với nhau tại căn nhà tiều tụy này. Rót ra hai ly, cho đầy soda và đá cục vào, rượu vàng sóng sánh, cụng ly kêu cái keng, đàng hoàng.
Thu cố nhấm nháp chút ít để chiều lòng tôi. Cô nàng uống mãi mà không hết ly của mình. Uống xong một ngụm nhỏ, nàng thun vai, nhăn mũi, chau mày. Hai má cũng đỏ hồng lên, trông thật ngộ, và cũng đẹp đấy chứ. Cũng còn nhan sắc đấy chứ. Trông hấp dẫn quá! Nhưng mình có còn “xơ múi” gì hay không? Biết đâu!
Tôi hết ly này đến ly khác. Anh ơi, thôi anh đừng uống nữa. Mà anh phải ăn vài miếng ăn cho nhả rượu đi. Cá em hấp có vừa miệng anh hay không? Vừa, vừa lắm chứ. Em nói gì vậy? Không, không sao đâu em, lâu lắm mới được say sưa bên em. Thu… Trang…Trang… Của anh?
Chai rượu mạnh đó dần dần không còn một giọt. Tôi nói chuyện huyên thuyên không chút giữ gìn. Rượu vào lời ra, chắc là Thu nghĩ như thế. Ðược thể, Thu xa xôi gợi lại câu chuyện cũ mong tôi “thành thật khai báo” mọi thứ. Tôi cũng mượn hơi rượu nói lè nhè mặc Thu muốn hiểu thế nào thì hiểu:
“À, người đẹp mà anh tiễn đưa ở bến xe lửa, ờ, ờ, ở ‘ga tầu hỏa’ đó hả. Em nói đúng, đâu phải em gái của anh. Phải nói đó là cô bạn gái của anh như em đã đoán… Ðàn bà đoán có bao giờ sai đâu! Em biết không, đàn ông bọn anh ai cũng thế cả, cá mè một lứa. Ai mà không muốn ôm ấp trong tim hình bóng một người tình tưởng tượng. Tưởng tượng thôi nhé! Nhưng anh khác, anh không cần phải tưởng tượng hay mơ mộng lôi thôi, là vì… là vì anh đã có Thu của anh đây.”
Thiếu phụ ngồi yên lắng nghe, thỉnh thoảng cười nhẹ, dịu dàng, như muốn khuyến khích tôi nói thật nhiều.
“Thu, ôi mùa thu của đời anh! Chứ chưa phải là mùa đông! Ðời anh đã cuối đông chưa? Nè, nè, mới gặp em, trái tim của anh đã muốn nhảy ra khỏi lồng ngực… Ðừng! Ðừng vội phản đối, đó là sự thật đấy. Bằng chứng là nhờ vậy mà bây giờ đây anh và em đang ngồi bù khú bên nhau như thế này. Hả? Cái gì đó nữa? Ngoài em anh còn yêu ai nữa chăng? Không còn ai nữa… Thật đấ … Ừ thì còn… còn lu bù, nhưng rồi có lẽ cũng chẳng đi đến đâu, phải không em. Chỉ có em, anh không bao giờ quên. Gặp nhau rồi xa nhau rồi gặp nhau rồi xa nhau, cứ thế biết bao nhiêu lần! Số kiếp đã buộc mình vào nhau từ hồi còn tấm bé, phải không em. Thế mà… anh say, nói bậy. Thế sao? Chỉ gặp em một lần ngoài bến xe đò thôi à? Em khỏi cần nhắc anh cũng nhớ rõ, em, nhoài người ra, tay vẫy vẫy, vâng, em sẽ đi về thành phố có con sông xanh, một mình, đêm khuya không ai đón. Tội nghiệp em quá…”
Thu không tỏ vẻ sốt ruột, kiên nhẫn ngồi chờ tôi ngồi gật gà gật gù nói ba hoa, kè nhè. Rồi Thu chậm rãi tiếp lời:
“Anh ơi, em muốn… mà… cứ bộ say… lãng. Đúng vậ … hay anh khác? Nhưng có điều này thì đã… như con bướm đóa hoa này… và kia. Còn em đàn bà… thế đó. Em … đã nhiều… cầu mong… thân một nơi, một chốn…”
Tôi nghe Thu nói, tiếng được tiếng mất, không hiểu gì mấy. Cơn say đã đến với tôi êm đềm, dịu dàng. Không hung hãn, thô bạo, đâu em. Rồi nó sẽ dần dần đưa tôi vào giấc ngủ vùi.
Tôi lại bần thần nhìn Thu. Dưới con mắt đờ đẫn và mệt lả, trông cô ta mờ mờ, ảo ảo, như hồ ly tinh trong chuyện liêu trai, trong đêm tối mù mịt. Tôi vói tay cầm cái chai không, dốc ngược lên chơi, không còn một giọt rượu nào cả. Còn thèm hả? Chưa đã hả? Rồi đặt nó xuống cạnh mép bàn. Nó nghiêng nghiêng, xiêu xiêu, muốn lăn xuống đất. Tôi chụp lại được, lại cầm chai lên làm bộ dốc dốc, uống uống, rồi chìa ra mời Thu, miệng lè nhè nói cái gì không nhớ nổi. Thu vớ lấy cái chai, đặt nó xuống dưới gầm bàn, không nói một lời. Và quay lại nhìn tôi bằng đôi mắt là lạ tôi chưa hề thấy từ khi tôi gặp Thu ngoài bến xe cho đến bây giờ. Thu ơi, tôi không thể nào hiểu nổi.
Oán trách? Thương hại? Khinh bỉ? Hay yêu?
Tôi lảo đảo đứng dậy, bước lui, rồi bước tới, rồi bước lui, cạnh cái bàn nhỏ, đảo mắt tìm tòi… Tìm cái gì chẳng rõ. Tìm chai rượu chăng? Thu ngồi yên trố mắt nhìn theo. Tôi có cảm giác như đang từ trên một trực thăng sắp đáp xuống một bệnh viện … chao qua chao lại mấy lần… có tiếng đạn đâu đây bay vèo vèo… cỏ tranh ngã rạp về một phía hàng rào kẽm gai.
Mà đầu óc thì chứa đầy mưa phùn, sương mù, và hơi rượu.
Ngày mai, sau cơn say, anh sẽ viết lá thư đầu tiên cho em.