- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

hàng xóm

.

Truyện ngắn Hàng Xóm được đăng dưới bút hiệu Bảo Chấn, trong mục Những Cây Bút Mới của tạp chí Làng Văn số 26, tháng 10, 1986. Truyện được sáng tác vào thời gian tác giả còn đang ở trại tỵ nạn Palawan, Phi Luật Tân. Bức minh hoạ kèm theo là nguyên bản dành cho truyện Hàng Xóm trong số báo này.

Trước năm 1975, cũng như mọi gia đình khác, nhà tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng có ngày mình sẽ sống chung với cộng sản trên mảnh đất miền Nam tự do này, đừng nói chi đến chuyện sống kề cận họ trên cùng một con đường và trở thành… hàng xóm của họ. Thế nhưng cảnh ngộ hiện tại, dù hay hay dở, đều ít nhiều là những bất ngờ mà trước đây ta không tài nào biết trước được.

Vào những ngày cuối cùng của tháng Tư lịch sử ấy, chúng tôi là một trong những gia đình may mắn nhất, thoát khỏi Nha Trang trên một chiếc C-130 để vào Sài Gòn, nhờ ông dượng làm trung tá Tiếp Vận Năm giúp đỡ, sau đó chờ người cậu em má tôi làm cảnh sát trưởng Quận 5 xin vé máy bay di tản qua Mỹ. Nhưng trời chẳng chiều lòng người, tấm vé máy bay ghi đặc danh sách năm mươi mấy người trong đại gia đình tôi chỉ là tờ giấy ghi số của một chuyến bay không bao giờ cất cánh! Rồi sau một tháng sống trong sợ hãi, hoang mang ở Sài Gòn thất thủ, gia đình tôi lại dắt díu nhau về lại Nha Trang, giữa một rừng cờ máu lạnh lùng, đầy đe doạ.

Căn nhà của gia đình tôi trong cư xá sĩ quan đã bị người khác vào chiếm để ở. Trước đó, ba tôi có cất một căn biệt thự nho nhỏ sát bên nhà ông ngoại tôi, định để dọn về ở khi hưu trí. Nhưng ông thấy tuổi hưu còn xa nên quyết định cho Mỹ mướn vài năm để, theo ông nói, lấy lại tiền xây nhà. Nhưng cũng chính vì cho Mỹ mướn mà căn nhà đó đã bị Việt cộng tịch thu. Ba tôi đã làm không biết bao nhiêu lá đơn để đòi lại nhà, nhưng cơ quan này lại đẩy cho cơ quan kia, để rồi cuối cùng bọn cán bộ nhà nước đưa ra luận điệu như thế này: “Cách mạng tiếp thu căn nhà từ trong tay người Mỹ chứ không phải từ chính ông.” Nếu chỉ có vậy thôi thì cũng đành, đằng này nhà đã không trả mà mỗi năm bọn thuế vụ của sở nhà đất vẫn bắt ba tôi đóng thuế đều đều. Chúng nói, nếu ba tôi không đóng thuế thì căn nhà đó sẽ thuộc hẳn về nhà nước.Tất nhiên là có đóng thuế đã chắc gì lấy lại được nhà, nhưng dẫu sao cũng còn chút hy vọng mong manh nên ba tôi vẫn bóp bụng đóng thuế hằng năm. Cho tới nay đã là năm thứ mười một rồi, thuế vẫn đóng nhưng nhà vẫn chưa, hoặc vẫn sẽ không bao giờ được trả lại.

Cũng may là nhà ông ngoại tôi ở kế bên rất rộng nên gia đình tôi và cả các dì tôi có thể về đó tá túc. Mất nhà đã tức, mà căn nhà đó lại sờ sờ ngay trước mặt nên càng gai mắt hơn. Kẻ đầu tiên dọn vào là một tên trưởng ty công an, Việt cộng nòi. Cả nhà tôi ai nấy đều ngán ngẩm, e chẳng sống được lâu với kẻ thù ngay bên cạnh. Tên trưởng ty này có hai đứa con trai, nghe nói đã du học ở Bảo Gia Lợi về, rất học đòi thói ăn chơi Âu Tây. Chúng lôi ở đâu về một cái máy thu băng để ngày ngày nghe nhạc. Phòng của hai anh em chúng có hai cái cửa sổ trông qua nhà ông ngoại tôi nên quanh năm suốt tháng chúng cứ đóng rịt cửa lại, chắc sợ nhà tôi dòm ngó. Chúng chơi đủ loại băng nhạc “phản động” do ông già của chúng tịch thu được, nào nhạc vàng, nhạc kích động ngoại quốc, máy mở oang oang suốt ngày. Thời đó, ai mà nghe những loại nhạc ấy đều bị bắt chứ đâu đã được các quán cà-phê phát rộng rãi như những năm về sau này. Nhờ vậy, tôi có dịp tha hồ nghe nhạc ké. Anh em nhà chúng, cũng như hai vợ chồng bố mẹ chúng, tuyệt nhiên chẳng giao du với ai chung quanh họ. Vì vậy, suốt mấy năm trời, hai bên chúng tôi chẳng ai thèm biết đến ai. Thấm thoát, đã đến ngày tên Việt cộng già đó về hưu. Hắn tậu một căn nhà khá tiện nghi ở Xóm Mới, chắc là do từ vàng bạc ăn hối lộ trong suốt mấy mươi năm phục vụ “bác” và “đảng” của hắn. Căn nhà của ba tôi mà hắn đang ở, nhà nước chỉ cho hắn sử dụng lúc còn tại chức mà thôi. Khi hắn dọn đi, một cặp vợ chồng công an khác lại dọn tới. Chính cặp vợ chồng này sẽ trở thành “hàng xóm” thật sự của nhà tôi.

Vừa đến được mấy bữa, chị vợ đã sang nhà tôi chơi ngay. Chị ta khẽ khàng chào cả nhà, đoạn hướng về má tôi, chị vào đề ngay:

“Thưa bác, chồng em biểu em qua thăm hai bác. Chồng em giáo dục em, ‘Anh em xa không bằng láng giềng gần’, cho nên em mong được qua lại với hai bác từ rày trở đi, để khi tối lửa tắt đèn mình có thể giúp đỡ nhau.”

Mới đầu, nghe chị ta kêu tôi bằng bác và xưng em, tôi thấy cũng không có gì lạ vì nhìn bề ngoài, chị ta cũng khá đứng tuổi. Nhưng sau này hỏi ra mới biết là chị mới ba mươi hai tuổi, hơn chị cả của tôi ở bên Mỹ có một tuổi mà thôi. Trời đất! Ba mươi hai tuổi mà già quéo! Đến nỗi ban đầu tôi phải gọi chị ta bằng dì, và cho tới bây giờ tôi vẫn không đổi được cách xưng hô ấy. Con người chị ta là điển hình của một chị bộ đội cái. Tóc chị dài không ra dài, ngắn không ra ngắn, loà xoà trên một gương mặt sạm nắng, đen đủi. Tay chân chị xù xì, to bè bè, chắc trong thời kỳ chống Mỹ… phá nước, hại dân, chị đã đi dân công nhiều lắm. Trông chị không khác gì mấy nàng liên tử trước năm Bảy Lăm chuyên đi ở đợ cho mấy ông lớn miền Nam để lấy tin tức cho “cách mạng”. Mà thật vậy, chị ta vốn là dân Bình Định, trước đây hoạt động nằm vùng ở nội thành Nha Trang, đã từng sống kiếp cơm thầy cơm cô, và đã lê chân hết nhà tù này sang nhà tù khác để phục vụ sự nghiệp “giải phóng miền Nam”. Người chồng hiện tại của chị cũng là dân miền Nam tập kết ra Bắc, có vợ rồi ly dị. Sau ngày “đại thắng”, trai anh hùng gặp gái thuyền quyên bèn gá nghĩa châu trần, ăn ở với nhau được hai mụn con gái. Ông chồng lớn tuổi hơn chị ta khá nhiều. Ông ta làm phó ty công an đặc trách về mặt hình sự, đặc biệt là tội vượt biên. Khi biết được điều này, tôi khoái chí tuyên bố với cả nhà:

“Vậy là từ bây giờ mình có quyền vượt biên dài dài! Hễ bị bắt là ổng sẽ ra lệnh thả mình ra ngay.”

Bà chị kế của tôi liếc xéo tôi một cái:

“Hứ! Cho mầy lời đó hả? Mầy cứ thử đi rồi bị bắt coi ổng có thả mầy hay không cho biết!”

Má tôi chậm rãi góp lời:

“Bộ con chưa hiểu cộng sản là gì hay sao mà nói kỳ vậy? Cha mẹ họ, họ còn đấu tố không nương tay, huống chi mình là người dưng nước lã, mà ba con lại là ‘nguỵ’ một trăm phần trăm. Con không nhớ là bà vợ cứ theo hỏi má hoài, tại sao ba là đại uý mà không đi ‘học tập’ sao?”

Tưởng nói chơi cho vui, ai dè bị công kích dữ quá, tôi tiu nghỉu nín thinh. Nhưng xét cho kỹ thì chị Ba, chị vợ ông công an ấy, cũng không đến nỗi tệ, ấy là đứng trên bình diện con người với con người mà nói. Dĩ nhiên là chắc vợ chồng chị cũng đã suy tính kỹ lưỡng trước khi “thiết lập” mối “quan hệ ngoại giao” với nhà tôi. Đành rằng họ là kẻ thắng cuộc và chúng tôi thuộc phe chiến bại, nhưng biết đâu họ là những người biết kiêng dè. Họ có thể nghĩ rằng, nếu không biết ăn ở với xóm giềng, lỡ có kẻ nổi khùng đang đêm ném qua nhà họ một trái lựu đạn rồi tính làm sao?

Hơn nữa, qua lại với nhà tôi, chị Ba được dịp dòm ngó và tha hồ… học đòi. Chị ta ưa qua nhà tôi vào bữa cơm, ngó một cách không giấu diếm thẳng vào mâm cơm coi chúng tôi ăn món gì. Bữa nào chỉ có toàn rau muống luộc, tôi cảm thấy thật nhẹ nhõm trước cặp mắt soi mói của chị ta; còn khi trên mâm có miếng thịt miếng cá, tôi thấy khó chịu không ít. Nhưng phải công bình mà nói, chị ta tò mò như vậy không phải để… tố nhà tôi, mà là để nhân đó coi thử nếp sống của chúng tôi cho thoả tính hiếu kỳ của mình mà thôi. Chị ta tôn thờ chị Hiền của tôi như thần tượng; nhất nhất kiểu tóc, kiểu áo quần gì của chị Hiền, chị đều bắt chước, mà bắt chước một cách rất vụng về. Có hôm chị qua nhà tôi trong một bộ cánh mới toanh, mái tóc uốn quăn tít thò lò. Cái áo mousseline đỏ choé tương phản thật tội nghiệp với làn da đen nhẻm của chị. Móng tay, móng chân của chị cũng được sơn phết cẩn thận; màu đỏ bầm nổi bật trên những ngón tay nhăn nheo như những con bọ màu đỏ bò trên một chiếc lá úa. Chị Ba hãnh diện hỏi chị tôi:

“Hiền, mầy thấy tao ăn bận như vầy có được không?”

Tuy lớn hơn chị Hiền tôi có năm tuổi, chị Ba vẫn nghiễm nhiên coi mình ngang hàng với ba má tôi, và như vậy chị em tôi chỉ vào hàng con cháu của chị thôi.

Chị Hiền lập nghiêm, cố nín cười:

“Đẹp chớ dì! Dì lựa vải ở đâu mà khéo quá vậy?”

Chị Ba không đợi ai mời, ngồi vật xuống ghế, ra vẻ mệt mỏi:

“Ối, tuần trước tao đi kiếm bắt mỏi cẳng ở chợ Đầm mới được đó. Họ nói đây là thứ xơ-lin xơ-leo gì đó ‘nhập khẩu’ từ tuốt bên Nhựt lận!”

Hùng, thằng em tôi, giả bộ ngắm nghía cái áo một hồi rồi “phát biểu”:

“Chà, vải của tụi đế quốc hình như hơi mỏng đa!”

Má tôi vội mắng át nó cho chị Ba đỡ ngượng:

“Đồ quỷ! Mầy thì biết gì. Bây giờ là mùa hè, bận vậy đi làm cho mát, phải không chị Ba?”

Chị Ba rút vai, le lưỡi:

“Dạ, em hổng dám ăn mặc như vầy đi làm đâu bác ơi! Ở sở họ phê bình chết. Em định để đi phố chơi mới bận.”

Khi chị Ba đã ra về rồi, cả nhà tôi lăn ra cười. Má tôi lầu bầu:

“Ăn với mặc! Ngó giống như Hà Bá!”

Hễ thấy ai ăn mặc kệch cỡm là má tôi đều nói giống Hà Bá. Tôi cũng không hiểu Hà Bá có ăn vận loè loẹt thật hay không! Có điều tôi thấy chị Ba đáng thương hơn đáng ghét. Chị thật thà như đếm, ấy là nói về mặt ngôn ngữ, cử chỉ của chị ở nhà, chứ một “công an cái” như chị khi thi hành nhiệm vụ thì không thể nào thật thà được. Bằng không thì làm sao mà kềm kẹp nhân dân được! Nhưng hình như vào tới nhà tôi, chị ba đã cởi bỏ cái lốt công an ra để hiện nguyên hình là một chị nhà quê ít học. Bây giờ, đường đường là phu nhân của một tay phó ty mà một tuần hai buổi tối chị vẫn phải đạp xe đi học bổ túc văn hoá lớp Bảy. Chị thường tâm sự với tôi:

“Mầy biết không, già rồi chớ tao cũng phải cố đi học cho có thêm một chút văn hoá để phục vụ cách mạng, chớ nhiệt tình mà cộng với ngu dốt thì chỉ là phá hoại mà thôi! Lê Nin cũng có nói: ‘Không có sách thì không có tri thức; không có tri thức thì không có chủ nghĩa cộng sản.’ Tao cũng bận bịu ghê lắm, đi làm về mệt quá mà cũng phải tranh thủ khẩn trương đi học để tiếp thu thêm được chừng nào hay chừng đó.”

Chị Ba nói một hơi, trích dẫn tùm lum, dùng “từ cách mạng” chan chát, leo lẻo như vẹt vậy. Hẳn bác và đảng cũng không mong muốn gì hơn là có những đảng viên lặp lại nằm lòng những điều sáo rỗng như chị. Cũng như mọi con cháu bác hồ, chị Ba rất thích nói chữ. Năm ngoái, chị sanh đứa con thứ ba, cũng lại con gái, trong khi vợ chồng chị đang ao ước một đứa con trai. Vừa cứng cáp một chút, chị đã ẵm con bé mới sanh qua nhà chúng tôi, buồn rầu nói:

“Vỡ kế hoạch rồi bác ơi! Phen này là em bị kiểm điểm phê bình là cái chắc!”

Chị ngó đứa con còn đỏ hỏn trên tay, chép miệng tiếp:

“Đáng lẽ đâu có cái con này! Em đã vận dụng hết những phương pháp kế hoạch hoá gia đình mà cán bộ y tế đã truyền đạt cho em, ngờ đâu lại có cái sự cố đột xuất như vầy!”

Má tôi an ủi:

“Thôi thì cũng đã lỡ rồi. Đã sanh con ra thì phải rán mà nuôi chớ chị đừng nói vậy không nên đâu. Con nào cũng là con. Chị không nhớ ông bà mình nói sao? ‘Trai mà chi, gái mà chi? Con nào có nghĩa có nghì là hơn.’”

Chị Ba than thở:

“Khổ một cái là nhà nước đã vận động mỗi nhà chỉ nên có từ một đến hai đứa con. Nếu đã lỡ mà có được một đứa con trai thì chịu phê bình em cũng cam lòng. Dè đâu lại lòi ra thêm một thị mẹt nữa! Sai chính sách, trật đường lối, em còn mặt mũi nào mà lãnh đạo ai nữa!”

Của đáng tội, chị Ba cũng rất quan tâm tới người khác. Thấy tôi có cô bạn gái khi làm xa, mỗi lần về nhà đều ghé tôi chơi, hễ vắng cô ít lâu là chị Ba lại hỏi:

“Dũng à, sao người yêu của mầy lâu rồi không thấy tới chơi?”

Tôi thẹn đỏ mặt:

“Dì Ba kỳ quá! Trong này không ai xài chữ ‘người yêu’ hết, ngoại trừ trong sách báo mà thôi.”

Chị Ba tỉnh bơ hỏi tiếp:

“Sao? Chừng nào tụi bây mới xây dựng với nhau đây? Tao coi con nhỏ đó cũng nết na hiền lành đó chớ.”

Tôi làm bộ thở dài:

“Xây với dựng gì hả dì? Dì thấy đó, cháu thất nghiệp, làm nhà báo, báo đời ba má cháu. Thanh niên mà vậy thì nhục lắm, sung sướng nỗi gì mà còn nghĩ tới chuyện vợ con nữa.”

Chị Ba nghiêm trang giảng giải:

“Thằng Dũng mầy suy nghĩ vậy là sai rồi. Dì đồng ý là gia đình cháu có nhiều cái kẹt, nhưng đâu phải vì vậy mà mầy không chịu lấy vợ! Theo tao thì mầy cứ lấy vợ đi, rồi tự nhiên mầy sẽ tháo vát ra mà lo nuôi vợ nuôi con hà!”

Tôi nhăn mũi:

“Tháo vát? Ờ, mà phải, có vợ rồi chắc cháu sẽ phải ‘tháo’ đồ ở nhà ra mà ‘vác’ ra chợ trời bán kiếm tiền quá!”

Chị Ba cười hắc hắc. Được một cái là chị không hay mếch lòng, mặc dù mỗi người trong nhà tôi đều rình có dịp là nói xỏ nói xiên nhà nước với chị. Nói cho cùng, chúng tôi cũng thừa hiểu rằng chị Ba cũng chỉ là nạn nhân của cộng sản mà thôi. Có khác với chúng tôi chăng là ở chỗ chị không ý thức được thân phận tôi đòi của mình, cứ cung cúc phục vụ chúng nên được nhà nước ưu đãi. Vợ chồng chị có hẳn một bác sĩ riêng. Hễ họ hơi se mình là khỏi phải đi đâu, cứ ở nhà chờ là bác sĩ sẽ tới. Thật khó có thể tưởng tượng được, giữa một xã hội lầm than như vầy mà vẫn có những kẻ được hưởng những đặc quyền kiểu đó. Tối tối, nhà ai cũng tắt điện tối om, trong khi nhà chị Ba vẫn sáng trưng như ban ngày. Nhưng chị Ba không lấy điều đó làm tự hào. Phải công nhận rằng chị ăn nói, suy nghĩ theo một kiểu rập khuôn, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Chị biết nhà tôi đã nộp hồ sơ xin giấy xuất cảnh để qua đoàn tụ với chị tôi bên Mỹ. Lẽ ra, cũng như bao nhiêu người cộng sản khác, chị phải ganh ghét mới đúng. Đằng này, chị lại cho chuyện đó là hợp lý, rằng gia đình tôi là “nguỵ” nên không cách nào khác hơn là phải ra đi. Điều đó là hoàn toàn “lô-gích”, phù hợp với “quy luật phát triển của sự việc”, chị Ba thường bảo vậy.

Chị nói với hai anh em tôi:

“Thằng Dũng, thằng Hùng rán kiếm chuyện gì đó làm đỡ trong khi chờ đợi giấy tờ. Đừng có dại dột nghe lời kẻ xấu xúi bậy đi vượt biên, lỡ bị tụi nó bắt thì khổ.”

“Tụi nó” ở đây là chị với chồng chị chớ ai trồng khoai đất này nữa?!! Vô tình mà chị lại đứng về phía chúng tôi để nói điều đó. Dường như trong thâm tâm, chị cũng nhận thấy rằng gia đình tôi là như vậy đó, không thể nào và không bao giờ sống mãi với cộng sản được, hay có sống chung thì cũng là cảnh đồng sàng dị mộng mà thôi. Cũng như vợ chồng nhà chị, không có con đường nào khác hơn là cứ con đường cách mạng rộng thênh thang tám… tấc mà thẳng tiến! Phía chúng tôi thì hầu như không khi nào dám tuyên truyền cho chị nghe về đời sống sung sướng trước “giải phóng”, mà chỉ lựa lời nhẹ nhàng chỉ trích xã hội đương thời. Chị Ba thì lại không hề có một lời nào phê bình lối sống “tiểu tư sản” nhàn nhã của nhà tôi, vì có lẽ chính chị cũng thấy nói ra thì khó nghe quá chăng?

Nhà chị Ba cũng nuôi heo như hầu hết những gia đình cán bộ khác, để góp phần “cải thiện” bữa ăn, chị phân bua như vậy. Tới kỳ bán heo, chị chạy qua nhà tôi, kể lể:

“Bữa nay cả nhà em mới được ‘ăn tươi’ một bữa bác à! Tội nghiệp, mấy đứa nhỏ nhà em tụi nó thèm miếng thịt miếng cá lắm.”

Tụi tôi lén rỉ tai nhau:

“Chết cha! Vậy thì chừng nào bả ‘nuốt sống’ đây không biết!”

Tức cười một điều là chị Ba không chịu bán heo cho nhà nước theo giá “thoả thuận” mà lại xé rào đem bán cho lái heo tư nhân. Chuyện này chị cũng không giấu má tôi. Kể xong, chị thở dài:

“Em cũng biết như vậy là sai, nhưng bác nghĩ coi, nếu mình bán heo với giá chính thức để lấy tiền mua đồ ăn giá chợ đen thì làm sao chịu cho thấu?”

Chị Ba cũng thảo ăn lắm, có miếng ngon gì chị cũng thường hay chia xẻ với nhà tôi. Chị Hiền than thở:

“Ăn miếng ăn của Việt cộng sao khó nuốt quá trời!”

Ba tôi điềm đạm nói:

“Không lẽ người ta đã cho, mình lại không nhận coi sao được. Thôi thì mình cứ sống với nhau bằng tình người là hay hơn hết. Rồi mình có món gì thì đáp lễ lại cho vui vẻ đôi đàng. Chị Ba có cảm tình với nhà mình thật đó, chớ nghĩ cho cùng, chơi với mình chị ta có lợi gì đâu? Bây giờ ai có phận nấy, mình không thể thành cộng sản, mà họ cũng không thể nào thành tư sản được. Sống thuận thảo, tôn trọng lẫn nhau được như vầy cũng là quý lắm rồi. Mình có muốn chống đối họ cũng chẳng đi đến đâu.”

Thằng Hùng lầu bầu:

“Nhưng con không muốn thoả hiệp với cộng sản!”

Tôi nạt nó:

“Có ai bắt mầy vô chung chính phủ với họ đâu mà thoả hiệp với không thoả hiệp! Mầy cũng thấy đó, bả có muốn qua nhà mình thì bả qua chớ nhà mình có ai qua nhà bả làm chi đâu.”

Nói vậy chứ tôi cũng có dịp qua nhà chị Ba một lần rồi. Đâu như lần đó cái lavabo của nhà chị bị nghẹt, sửa hoài không được, chị bèn ngó qua cửa sổ, kêu tôi:

“Dũng, mầy qua coi giùm tao cái la-xơ-bô làm sao mà nó nghẹt cứng ngắc hà!”

Tôi miễn cưỡng khoác vội cái áo lên người, bước qua nhà chị. Nhà là nhà của ba tôi, đất là của ông ngoại tôi cho, mà giờ đây tôi lại rụt rè bước vào như tá điền vào nhà chánh tổng xin khất nợ vậy. Ở bên nhà tôi, bốn năm người sống tùm húm với nhau trong hai gian phòng chật chội đầy những đồ đạc; còn bên này, phòng nào ra phòng nấy, nền lát gạch bông, đủ thứ tiện nghi. Hèn chi hồi xưa tụi Mỹ thích quá, ba tôi đòi lại hoài mà họ không muốn trả. Ngày xưa, ngôi nhà cao ráo, sạch sẽ là thế, mà ngày nay nó nhớp nhúa kinh khủng. Vách tường lam nham đầy những vết tay bẩn của lũ nhỏ, mấy cánh cửa bằng gỗ quý đánh vernis đều xỉn đen một vòng quanh lỗ khoá.

Bước vào buồng tắm, tôi suýt té xỉu vì quang cảnh ngoạn mục bên trong. Ôi thôi, dây dọc dây ngang chị Ba giăng từ bên này qua bên kia, phơi đầy quần áo đủ màu, rực rỡ như cảnh đoàn xiếc nhân dân trung ương! Cái “la-xơ-bô” của chị Ba đóng một lớp ghét dầy cả tấc. Cái gương soi mặt lốm đốm những vết nổ của lớp thuỷ tráng phía sau. Nhìn vào đó, tôi thấy một gương mặt thẫn thờ, lồi lõm méo mó. Tôi thở dài, loay hoay sửa cái bồn rửa mặt. Xong xuôi, tôi chắp tay sau lưng, lững thững đi dọc theo hành lang, ghé mắt nhìn vào gian phòng có cửa sổ thông qua nhà tôi. Khi xưa, lúc nhà đang xây, ba tôi đã tuyên bố là căn phòng này sẽ dành cho tôi. Bây giờ, nó ra làm sao rồi? Ở không hết, chị Ba lấy phòng này này làm nơi chứa “chất đốt”, nói nôm na là củi, để xen lẫn với đủ thứ đồ lặt vặt, màng nhện giăng tứ phía. Tôi lại thở dài, lầm lũi đi về nhà, quên cả chào chị Ba. Trời nắng chang chang mà sao lòng tôi thấy lạnh lẽo quá chừng.

“Nhà bếp” của gia đình tôi là một lối đi hẹp chạy dài theo vách nhà tôi với vách nhà chị Ba, bề ngang chỉ đủ một người đi lọt. Anh em tôi kiếm ba thứ vải dù, ni-lông bậy bạ che phía trên cho đỡ phần nào mưa nắng. Bên nhà chị Ba còn có một cái cửa sổ khác trổ sang “nhà bếp” bên tôi, là nơi mà thỉnh thoảng chị Ba lại hé cánh cửa ra giấm giúi cho má tôi miếng thịt nạc hay con cá tươi, và cũng là chỗ mà bà đưa qua đáp lễ chén chè, miếng bánh. Có hôm, chợt nhìn qua khe cửa, thấy má tôi đang đứng lúi húi nấu ăn, mồ hôi mồ kê chảy ròng ròng giữa một vùng khói khét lẹt, chị Ba tặc lưỡi:

“Bác cũng cực quá há! Nhà bên đó vườn tược rộng rãi vậy mà không có được một cái nhà bếp.”

Giọng chị đượm vẻ thông cảm và hết sức chân thành. Trong lòng tôi có một cảm xúc lẫn lộn, buồn vui khó tả. Trước hết, đó là sự mủi lòng, xen với một cảm giác dễ chịu khi được người khác hiểu được nỗi khó khăn của mình. Nhưng bên cạnh đó là lòng tự ái nổi lên. Phải, không tự ái sao được khi người tỏ ra thương hại đó, nói xin lỗi, lại là một bà Việt cộng ngày xưa đi ở đợ để nằm vùng, hồi đó xin xách dép chưa chắc mình đã cho. Tôi nghĩ thầm: “Chắc bà cũng thừa hiểu, sở dĩ nhà tôi chịu cảnh như vầy cũng là do cái đảng… cướp của bà đó chớ không ai vào đây đâu! Vậy mà bây giờ…” Tôi quay mặt đi, nén tiếng thở dài, cố nhớ tới lời ba tôi khuyên: “Mình cứ sống với nhau bằng tình người là hay hơn hết.”

Má tôi cũng lấy làm cảm động trước những nghĩa cử của chị Ba. Bà thường nói:

“Vợ chồng đó ăn ở cũng tốt bụng. Để khi nào ‘có gì’ tao sẽ cho họ chạy qua nhà mình núp.”

“Có gì”, theo má tôi, nghĩa là một ngày nào đó quân đội Cộng Hoà sẽ trở lại. Má tôi rất tin tưởng sẽ có ngày đó.

Thằng Hùng, kẻ chống cộng quyết liệt, lại được dịp cằn nhằn:

“Như vậy là má chứa chấp cộng sản chớ gì?”

Má tôi cười:

“Mầy ngu lắm! Má cho họ trốn trong nhà mình để rồi từ từ dụ họ trở về với chánh nghĩa quốc gia mấy hồi!”

Thế nhưng chuyện đời thì chẳng ai biết trước được. Không ngờ có một dịp thằng Hùng lại phải mang ơn kẻ thù không đội trời chung của nó. Số là nhân có một “tuy-dô” vượt biên của người quen chỉ dành cho một người, ba má tôi cho Hùng đi chuyến đó. Địa điểm vượt biên là ở Cam Ranh, nơi có căn cứ quân sự của Mỹ ngày xưa, cách Nha Trang khoảng 60 cây số về hướng nam. Rủi thay, thằng Hùng chưa đi tới đâu cả mà đã bị bắt ngay trên chuyến xe đò đi Cam Ranh. Công an chận xe lại, xét bất ngờ và tóm ngay cu cậu cùng một số người đi chung xe vì dáng điệu khả nghi và lý do vào Cam Ranh không rõ ràng. Trong lúc gia đình tôi ở nhà đang nín thở, hồi hộp chờ đợi tin tức, không biết Hùng đi tới đâu, thì ngày hôm sau, chị Ba hớt hơ hớt hãi chạy qua báo tin dữ:

“Bác ơi, làm sao mà thằng Hùng lại bị bắt trong một nhóm toan tính vượt biên gần Cam Ranh vậy?”

Má tôi rụng rời tay chân, hỏi lại:

“Chị nói sao? Có thật vậy không? Mà làm sao chị biết được?”

Chị Ba nói một thôi một hồi:

“Thì chồng em phụ trách chuyện vượt biên mà. Thằng Hùng nó khai tên tuổi, địa chỉ, nhân viên công an báo cáo với chồng em, ổng mới ngã ngửa ra khi biết đó là thằng Hùng nhà mình!”

“Thằng Hùng nhà mình”, chị Ba nói mấy chữ đó nghe sao mà cảm động đến vậy. Tối hôm đó, ba tôi dẹp tự ái, cắn răng bước qua nhà chị Ba, xin được nói chuyện với chồng chị. Đây là lần đầu tiên ba tôi gặp tận mặt tay công an sừng sỏ này. Ngày xưa, dù gì ông cũng là sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà, bây giờ lỡ bước sa cơ phải đành chịu lép vế. “Anh Ba” (mặc dù chúng tôi chưa bao giờ gặp ông để xưng hô như thế) tỏ ra rất thông cảm và hứa với ba tôi sẽ “giải quyết vụ này”. Hai ngày sau, quả nhiên, thằng Hùng được thả ra, thất thểu trở về nhà, trông đến tội nghiệp. Một thời gian dài sau đó, nó đâm ra ít nói hơn trước, mặt mũi lúc nào cũng có vẻ trầm ngâm. Chắc nó nghĩ phải mang ơn “kẻ địch” thì đúng là còn miệng ăn mà hết miệng nói.

Về phần má tôi, bà tỏ ra thân mật hơn với chị Ba sau vụ đó, nhưng tất nhiên là vẫn luôn giữ kẽ. Trong lúc chuyện trò với chị hàng xóm bất đắc dĩ này, má tôi chỉ toàn nói những câu đưa đẩy cho vui mà thôi. Trong sự giao thiệp với chị Ba, nói chung, cả nhà tôi ai cũng ở vào thế thủ, trong khi chị Ba càng ngày càng tham dự sâu hơn vào sinh hoạt của gia đình chúng tôi. Mỗi lần nhà tôi nhận được giấy báo vô Tân Sơn Nhất lãnh quà do chị lớn của tôi bên Mỹ gởi về (chị đi theo chồng qua diện đoàn tụ gia đình), chị Ba cũng vui lây. Thấy nhà đã nhận được giấy rồi mà mãi chưa có ai đi Sài Gòn, chị sốt ruột nhắc:

“Ủa sao thằng Dũng thằng Hùng đâu mà không không đứa nào chịu đi lãnh đồ cho rồi?”

Thế là thằng Hùng được dịp tả oán:

“Đâu có dễ như vậy hả dì? Kỳ này chị cháu ở bên Mỹ mới đổi địa chỉ nên phải chỉnh lại trong sổ lãnh hàng. Tụi cháu đi lên đi xuống hải quan mấy ngày nay mà vẫn chưa xong. Đó là tụi nó đã hút của cháu hết hai gói ba số 5 rồi!”

Chị Ba khoát tay, ra vẻ chán nản:

“Ờ, tao cũng phải công nhận là bây giờ nhiều chỗ làm ăn còn quan liêu, cửa quyền ghê lắm!”

Chưa đã, thằng Hùng còn đế thêm:

“Tiêu cực nữa chớ dì!”

Được nghe chính Việt cộng tố Việt cộng, tụi tôi cũng hả hê lắm. Kỳ đó lãnh đồ xong, má tôi tặng chị Ba cái vòng mã não màu huyết dụ. Chị mừng hết lớn, săm soi cái vòng hoài. Mà cũng dễ hiểu, chắc từ nhỏ tới giờ, chị có khi nào được đeo những thứ đó đâu.

Chị Ba khoái đồ Mỹ, rõ ràng như vậy. Nhưng có lẽ chị vẫn ghét Mỹ, ghét những người muốn trốn đi Mỹ. Bây giờ, biết tôi đã vượt biên qua trại tỵ nạn rồi, không biết chị có còn qua nhà tôi chơi nữa không?

Trần C. Trí

bài đã đăng của Trần C. Trí