Nhớ về Nguyễn Tiến Đức là tôi chợt nhớ về một vóc dáng chợt đến, chợt đi, chợt ẩn, chợt hiện nhưng luôn để lại cho tôi một sự cảm mến rất đằm thắm. Trong những buổi ra mắt sách, sinh hoạt văn nghệ hay triển lãm tranh ảnh nào đó, tôi lâu lâu lại gặp “chú Đức.” Chú ít nói chuyện hay tiếp xúc với ai, lẳng lặng đến, rồi âm thầm biến đi nhẹ như một cơn gió thu phong. Tuy nhiên mái tóc phiêu lãng hai màu kia chất chứa một khối óc đầy sáng tạo và trái tim đã thôi đập kia, trước đây đã là một dòng suối sinh động rực rỡ những cảm xúc căng ứ, dâng trào.
Lần gặp cuối, tôi thấy chú trong buổi ra mắt sách của nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc vào tháng 4 năm nay (2024). Lần nào cũng vậy, mới thấy chú đó, rồi lại không thấy chú, chỉ có máy hình của tôi là ghi lại được hình ảnh của chú mà thôi. Đó là cái bóng của một nhà văn, một thi sĩ vô cùng thơ mộng trong những bài tụng ca tình yêu, nở rộ như những chùm hoa lửa, những ngọn pháo bông ngày đầu năm mới.
Nói đến thơ ca trong những thi phẩm của Nguyễn Tiến Đức, tôi hình dung ra được một hành trình tụng ca hơi thở của cuộc sống, giấc mơ, cái đẹp và màu sắc lãng mạn của tình yêu. Chú đã tận dụng tinh tuý của ngôn ngữ để vẽ nên những bức tranh trừu tượng trong những áng thơ ca tụng ca tình yêu. “Em” trong thơ của chú là cái cớ, cái cần thiết, cái khởi đầu của cảm xúc và đôi khi cũng là cái kết của tiếng sóng nghe như là nhục cảm.
anh tựa vào bóng tối của tuyệt lộ
quay về phương em
anh tìm thấy
những đoá cỏ may trắng tinh diệu
nở giữa những ngón chân em
dấu chân để lại trên đồi tử thảo
anh tìm thấy
môi em thơm mùi dãi trẻ thơ
đang tụng niệm tràn trề chuỗi kinh hoa nụ
… anh tìm thấy
sóng thân em biển ngầm
… anh tìm thấy
bờ cát nhớ. trên lưng em lặng bóng tối
… anh tìm thấy
niềm hoan lạc. không biên cương
trong những độc thoại từ môi em…
Thơ ca tình yêu phải chăng là nơi mà người làm thơ giải thoát những khổ đau hay hoan lạc để rồi cho chúng lên men và thăng hoa. Chú đã tuôn những xúc cảm, kỷ niệm và mê đắm của mình vào đấy để chúng lóng lánh những hình dung từ của tranh siêu thực.
phía bên kia ngón chân em đọng cát biển
óng ánh dưới ánh sáng mặt trời
anh thấy hồn biển lưu vong
làm sao anh có thể
tìm được chiếc hộp đen
tận cùng đáy biển huyễn hoặc
ghi âm vọng của những cội nguồn đau khổ
anh có dấu son môi em
để lại trên miệng ly làm vệt bình minh lạ
chợt anh rất thích tiếng cười của em
vui như tiếng phong linh cụng gió
anh thấy vòm tóc em cúi xuống thân anh
thành am cỏ thiền huyễn hoặc
Bài tình ca cho “em” có lúc là những lời thầm thì chất chứa, vướng vất khói lửa, thuốc súng, mùa tanh của thép, của một quá khứ chiến tranh mà chú đã kinh qua. Sống trên mảnh đất bao nhiêu năm súng đạn gầm thét, máu và nước mắt đổ xuống tan hoang dấy lên, ký ức ai không hằn sâu những vết chém của bom đạn.
Anh để tiếng hát em
Ngân dọc dòng sông lửa
Dòng sông em từng gom
Những đóa hoa tro
Cài lên mái tóc nâu sém
Dòng sông của thành phố bỏ lại
Anh và em rất yêu
Dòng sông một thời
Soi những đường bay đêm
Của bầy vạc tan tác
Dòng sông một thời
Soi những ánh mắt kinh hoàng
Của đàn bà và trẻ thơ
Dòng sông một thời
Mưa chuyển máu về
Từ khắp trận địa
Anh để tiếng hát em
Ngân tiếng nấc giữa những con ngựa chiến
Bọc thây lính trẻ hai miền nam bắc
Nằm chết không lời
Trong sườn đau ký ức
Vương mùi tử cúc phai
Lẫn mùi thép rỉ của vũ khí
Anh để tiếng hát em
Ngân lời thánh ca buốt
Trong hành trình của kiếp nguời cô đơn
Ngực em mang cây thập giá
Anh làm riêng cho em
Bằng cành gai hồng
Nhọn như đinh đóng mình Chúa
Anh cắt trong vườn của Mẹ
Trút hết lá từ cuối thu
Anh để tiếng hát em
Ngân bản ai ca Biển Đông
Vọng tiếng kinh cầu
Lẫn tiếng khóc từ một thánh đường
Dựng bằng những thân tàu nát
Chìm dưới lòng biển sâu
Anh để tiếng hát em
Ngân bản tình ca buồn
Anh ngồi trong quán cà phê một mình
Nhìn mặt trời hình răng cưa
Nhảy từ ô vuông này tới ô vuông kia
Trong trò chơi có tên Hot Spot
Với những con số trên màn ảnh
Chưa một lần anh trúng
Chỉ nhớ em vô cùng.
Để kết thúc bài nói chuyện này, tôi mời quý vị nghe một bài thơ tình Nguyễn Tiến Đức viết cho Kimberly Phan Tố Hương, là người tình cũng là người vợ đã đồng hành cùng chú suốt quãng đường đời. Bài thơ mang tên:
Mùa gọi hồn cỏ mục
Mỗi bài thơ tình là một ân sủng cuối cùng của Thượng Đế
Viết cho Kim Berly
Anh giành mỏm đá biển
của con chim cát đơn độc
ngồi chờ sóng mắt em
từ một chân trời mất hút
bầu trời là một phiến đá xám
mà khuôn mặt em
nỗi ám ảnh cuối cùng
là một con bướm trắng dễ vỡ
đậu trên đó
anh hôn em
trong cơn sáng tạo hoang ảo
và như thế
anh đã mạ những lớp lửa khát
lên môi em
hai dấu tích hồng bỏ phế
anh thay gió heo may
bằng lốc nhạc jazz dấy êm
viết bằng những hợp âm nhục cảm
anh nghe với em giữa trũng khuya
anh phóng sinh những sợi tóc em
vừa cắt trước gương
vào hương lá úa tình cờ ngoài phòng tắm
như bầy chim sẻ choáng váng
vừa được phóng sinh khỏi nan lồng
vào đất trời mở lối
bàn tay anh sưởi ấm em
những đêm cuối thu
buổi sáng đi làm tay anh lạnh cóng
anh không có thói quen đeo găng tay
anh cũng không có thói quen
nhớ những con số
nhưng anh có thể nhớ vị trí
của chiếc sẹo trắng trên lưng em
dưới lớp vải jean rất dày
anh cũng có thể nhớ
thời anh chia từng điếu thuốc lá Kent
với em và tập diêm có lời ghi ngộ nghĩnh
“nếu lạc đà biết bay thì
không bao giờ anh đứng với em
dưới một tàng cây!”
trong ngẫu hứng
anh gieo triệu hạt thi ca tinh nguyên
trong em
mùa gọi hồn cỏ mục
từ đó mọc cây nhân sinh
nở đóa hoa da phả mùi cám dỗ
cùng với bài thơ tình của anh
những ân sủng cuối cùng của thượng đế.
Trịnh Thanh Thủy