Xung quanh tôi là những động từ lặng câm,
như những mái đầu xa lạ,
những động từ,
những động từ đói khát, những động từ trụi trần,
những động từ chính, những động từ câm.
Những động từ không đi kèm với danh từ. Chỉ đơn giản là nó.
Những động từ,
đang sống ở dưới hầm,
sinh ra và hít thở trong hầm sâu,
dưới những tầng gác đè ngập đầu
nhét đầy chủ nghĩa lạc quan.
Mỗi buổi sáng chúng lại đi làm,
trộn xi măng và vác đá,
nhưng khi chúng xây thành phố, không phải là những công trình
mà là tượng đài cho nỗi cô đơn của chính mình.
Khi ra đi, như tới kí ức xa lạ,
bước nhẹ nhàng từ từ này tới từ khác,
và bằng cả ba thời ngữ pháp
những động từ đi tới đồi Golgotha.
Bầu trời trên chúng
như cánh chim trên nghĩa trang,
và trước cánh cửa đóng kín
ai đó đứng gõ hay đóng đinh
vào thời quá khứ,
thời hiện tại,
thời tương lai.
Sẽ không ai đến, không ai gỡ bỏ.
Tiếng búa gõ
thành nhịp điệu vĩnh hằng.
Mặt đất hình hyperbol nằm dưới chúng
như bầu trời ẩn dụ trôi nổi giữa không trung.
1960
Меня окружают молчаливые глаголы,
похожие на чужие головы
глаголы,
голодные глаголы, голые глаголы,
главные глаголы, глухие глаголы.
Глаголы без существительных. Глаголы – просто.
Глаголы,
которые живут в подвалах,
говорят – в подвалах, рождаются – в подвалах
под несколькими этажами
всеобщего оптимизма.
Каждое утро они идут на работу,
раствор мешают и камни таскают,
но, возводя город, возводят не город,
а собственному одиночеству памятник воздвигают.
И уходя, как уходят в чужую память,
мерно ступая от слова к слову,
всеми своими тремя временами
глаголы однажды восходят на Голгофу.
И небо над ними
как птица над погостом,
и, словно стоя
перед запертой дверью,
некто стучит, забивая гвозди
в прошедшее,
в настоящее,
в будущее время.
Никто не придет, и никто не снимет.
Стук молотка
вечным ритмом станет.
Земли гипербол лежит под ними,
как небо метафор плывет над нами!
1960
.