Trang chính » Bàn tròn, Ngôn ngữ Email bài này

Ngôn ngữ ngậm ngùi – phần 2

14 bình luận ♦ 21.10.2009

AnLac An lạc, thư pháp KTS Thanh Sơn

“Tiếng nước tôi,
bốn ngàn năm ròng rã buồn vui”

(Tình ca, Phạm Duy)

2. Tiếng Việt ngoài nước

Những con số thống kê gần đây cho biết hiện có khoảng ba triệu người Việt sống ở ngoài nước. Hơn một nửa số này định cư tại Hoa Kỳ, nhiều nhất là ở Orange County, San Jose (Calif.), Houston (Texas). Các quốc gia khác có đông người Việt là Pháp, Úc, Canada, Campuchia…

Người Việt định cư ở nước ngoài có thể tạm phân ra làm hai đối tượng:

(1) Người Việt rời khỏi đất nước khi đã trưởng thành, thông thạo tiếng Việt, tạm gọi: đối tượng A.

(2) Người Việt sinh ra hoặc trưởng thành ở nước ngoài, không thạo tiếng Việt, tạm gọi: đối tượng B.

2.1. Quê hương trong nét bút

Đối tượng A hầu hết là người Việt sinh trưởng trong Nam và rời đất nước sau năm 1975 (vào cuối năm 1974, chỉ có khoảng 26 ngàn người Việt tại Hoa Kỳ 2). Vốn liếng tiếng Việt của nhóm này là “tiếng Việt cũ” (nếu ra đi năm 1975 hoặc không lâu sau đó), hoặc trộn chung “tiếng Việt cũ” và “tiếng Việt mới” (nếu sống khá lâu ở trong nước sau năm 1975).

Nhiều “người di tản buồn” đã ra đi gần như trắng tay, và “chúng ta đi mang theo quê hương” không hẳn là mang theo hình ảnh “con sông xưa, thành phố cũ” mà còn mang theo chút vốn liếng Việt ngữ, là tiếng nói và chữ viết của người Việt. Số vốn dự trữ ấy mang ra nước ngoài ít được sử dụng, cũng không đầu tư vào đâu được để sinh lợi, càng để lâu càng thêm hao hụt.

Phần thì hao mòn dần do ít được sử dụng, phần thì phải “hội nhập” 1 vào dòng chính là ngôn ngữ của người bản xứ, tiếng Việt ít nhiều chịu ảnh hưởng của tiếng nước ngoài. Về cấu trúc ngôn ngữ chẳng hạn, người Việt ngoài nước nói “Xin vui lòng để lại lời nhắn của bạn sau tiếng ‘beep’” (Please leave your message after the beep) chứ không nói “Xin vui lòng nhắn lại sau tiếng ‘beep’” như người Việt trong nước. Về việc chen tiếng bản xứ khi nói hay viết chẳng hạn, do thói quen, hoặc để tỏ ra thông thạo tiếng nước ngoài (dù chỉ là “giao lưu” 1 giữa người Việt với nhau) là thói tật khá phổ biến. Về những cách “nói chữ” chẳng hạn, như: “làm ở trường học” (mà không nói là “giáo viên”) có nghĩa là quét dọn, làm vệ sinh các phòng ốc của trường học; “làm ở nhà hàng”, “ở khách sạn”, “ở bệnh viện”… thường có nghĩa là làm công việc rửa chén bát, hầu bàn hay quét dọn phòng; “làm ở tòa báo” có nghĩa là đi bỏ báo… vân vân, phát xuất từ mặc cảm cho rằng những công việc lao động tay chân ấy được “đánh giá thấp” 1 trong xã hội.

Trong khi đó, sinh hoạt chữ nghĩa ở nước ngoài là bức tranh khá ảm đạm. Một trong những cách để có được cái nhìn này là bước vào tiệm sách của người Việt. Khách yêu chữ nghĩa lác đác, thảng hoặc một, hai người cầm hờ hững trên tay cuốn sách, tờ báo, liếc sơ qua rồi lặng lẽ bỏ xuống. Một tiệm sách quen thuộc trong khu thương xá Phước Lộc Thọ của người Việt ở Calif. năm rồi đã phải ngậm ngùi đóng cửa vì không cầm cự được lâu hơn. Ngoài ít tờ nhật báo phát hành tại các thành phố đông người Việt, hầu hết báo chí là “báo chợ” (báo phát không ở các chợ và cơ sở thương mại của người Việt, sống nhờ vào thân chủ quảng cáo). Các tạp chí chuyên về “văn học nghệ thuật” lần lượt đình bản vì người đọc (lớn tuổi) lần lượt rơi rụng như những cánh… lá vàng rơi. “Báo nói” (các chương trình truyền thanh, truyền hình) và “báo điện tử” (online) đánh bạt “báo giấy”, “báo in” (các từ ngữ “mới” của người Việt ngoài nước). “Báo điện tử” cũng phải hay, phải hấp dẫn, phải có những sáng kiến độc đáo mới “hút” và giữ được người đọc. Nếu không, người đọc chỉ click một cái là nhảy sang đọc “báo” khác.

Những người còn sử dụng tiếng Việt ở nước ngoài, không chỉ nghe, nói, đọc thôi, mà còn có nhu cầu viết nữa. Viết như một thôi thúc. Viết để giải tỏa, để gửi gấm nỗi lòng mình trên trang giấy (hay trên… màn hình computer). Viết để tìm gặp lại chữ nghĩa tiếng Việt. Viết để đi tìm “quê hương trong nét bút”. Người Việt lớn tuổi ở ngoài nước ngày càng có xu hướng viết nhiều hơn là đọc. Những trang chữ viết ra được in ấn, đóng thành sách. “Sách ngày nay được in ra tràn lan, phần lớn do nhu cầu của người viết chứ không do nhu cầu của người đọc,” nhà văn Nguyễn Mộng Giác nêu nhận xét không mấy vui. “Tình trạng lão hóa trong sinh hoạt văn học” của người Việt hải ngoại, cách nói khá bi quan của ông, trước hết đến từ “tình trạng lão hóa trong ngôn ngữ”. Những ai còn chịu khó đọc, viết (và cả nói) tiếng Việt hầu hết ở độ tuổi đang bước vào buổi hoàng hôn của đời người. Sứ mạng “tử thủ” ngôn ngữ của người Việt được đặt lên vai những “người lính già xa quê hương”. Gọi là “lính già”, vì giả sử một người rời khỏi đất nước năm 1975 ở vào độ tuổi đôi mươi (tương đối rành tiếng Việt) thì bây giờ anh/cô ta cũng đã trên 50 rồi. Những buổi “ra mắt sách”, thành phần khách tham dự hầu hết là những vị cao niên, trông giống như cuộc họp mặt của một “hội người già”.

Tháng trước tôi được một bạn văn gửi cho bộ sách có nội dung giáo dục, cổ xúy việc “gìn vàng giữ ngọc” nền tảng luân lý, đạo đức truyền thống của người Việt. Sách giá trị, biên soạn công phu, nhưng không thấy ghi giá bán. Hỏi ra, được biết một nhóm người tâm huyết bỏ nhiều thì giờ và công sức xúm nhau thực hiện, chỉ để biếu không những ai có nhu cầu. Cầm cuốn sách trên tay như cầm một nỗi chua xót, ngậm ngùi.

Người Việt ngoài nước không chỉ thèm viết mà còn thèm có người đọc mình. Trong những cố gắng cuối cùng để đi tìm người đọc, những người viết ở nước ngoài gần đây đã có lúc “cắn bút” trông vời về “hậu phương bao la” là khối lượng nhiều triệu độc giả ở trong nước. Có vẻ như là sự lựa chọn cuối cùng sau khi đã vô phương. Có vẻ những toan tính ấy cũng không đơn giản chút nào, chưa kể được xem là một “phương án” khá “nhạy cảm”. Trong lúc chưa rõ liệu người đọc trong nước có sẵn sàng đón nhận để cầm lên tay cuốn sách của một tác giả bỏ nhà bỏ cửa biền biệt bao năm, đã phải chịu sự dò xét và “đánh giá” của một “bộ phận” 1 không nhỏ người Việt ngoài nước. “Thân phận người Việt cầm bút ở nước ngoài” đôi lúc ngán ngẩm vì nỗi phân vân ngại ngùng như kẻ đứng giữa “ngã ba đường tình”, đi thì dở, ở cũng không xong.

Giữ cho “tiếng mẹ đẻ” không bị mất đi đã là khó và đáng được “biểu dương” 1 đối với người Việt ngoài nước, nói chi đến chuyện làm đẹp làm giàu thêm tiếng Việt. Các trường Việt ngữ mở ra ở hải ngoại hầu như đều cùng một mục tiêu là “bảo tồn và phát huy” ngôn ngữ và văn hóa Việt, và hầu như chỉ đạt được một nửa mục tiêu này, nghĩa là chỉ có “bảo tồn” chứ “phát huy” thì chưa được rõ nét lắm.

Trong khi đó, việc “bảo tồn và phát huy” ngôn ngữ của… người bản xứ, mặc dù không thấy ai hô hào, cổ động, có vẻ được chú tâm hơn. Tại những cộng đồng người Việt nói tiếng Anh, ta vẫn nghe những tiếng Việt “mới” như: “OK”, “Wow!”, chat, “bai” (bye”), “xeo” (sale), “đao” (down), “điu” (deal), “dzóp” (job), “lin” (clean) “làm ‘neo’” (nail), “không ‘guớc’” (work), “đai-ật” (diet), “ấp-lai” (apply), “lai-xần” (license), “ken-xồ” (cancel), “wíc-kèn” (weekend), “sóp-pìng” (shopping), “phân-đìng” (funding)… vân vân. Những từ ngữ mới này có làm “giàu” thêm kho tàng tiếng Việt không thì… không chắc lắm, và chỉ người Việt nói người Việt hiểu với nhau thôi. Nếu phải đặt tên, có thể gọi là từ ngữ “Mỹ-Việt” (như cách gọi từ ngữ “Hán-Việt”), là tiếng Mỹ đọc theo âm Việt.

2.2. “Chỉ sợ đàn con quên Việt ngữ”

Đối tượng B, người Việt trưởng thành ở nước ngoài, có thể được xem là đối tượng quyết định về tương lai của tiếng Việt ngoài nước.

Trẻ em nước ngoài học tiếng Việt là học từ bố mẹ, thầy cô (nếu theo học các trường Việt ngữ). Học chữ nào là biết chữ ấy chứ không có ý kiến gì về “tiếng Việt cũ”, “tiếng Việt mới”. Vốn liếng khiêm tốn về Việt ngữ không đủ và không giúp các em ham thích đọc sách báo tiếng Việt hoặc tìm đến các chương trình truyền thanh, truyền hình của người Việt. Hơn thế nữa, học là học vậy chứ ít có cơ hội thực hành, hầu hết chỉ để nói chuyện với bố mẹ và những người Việt lớn tuổi không rành tiếng bản xứ. “Tiếng Việt” của các em là thứ tiếng lơ lớ, cưng cứng, nghe… từa tựa như tiếng Việt, và thường chỉ nói được ít câu ngăn ngắn.

Khi mà thế hệ thông thạo tiếng Việt mai một, ngôn ngữ ấy được thế hệ tiếp nối đặt đúng vào vị trí khiêm tốn của một sinh ngữ phụ, lâu lâu có dịp mang ra sử dụng để… không quên mình là người bản xứ gốc Việt. Hoạt cảnh các cô thí sinh hoa hậu đứng trên sân khấu phát biểu cảm tưởng bằng tiếng Việt để trả lời câu hỏi trắc nghiệm kiến thức hoặc khả năng ứng xử là một ví dụ. Các cô thường chỉ bập bẹ ít câu tiếng Việt bằng giọng đơ đớ, rồi sau đó cười cười “Em xin phép được nói tiếng Anh, vì tiếng Việt em không… rành.”

Chuyện “tiếng Việt em không rành” và chuyện giới trẻ người Mỹ gốc Việt sử dụng tiếng bản xứ là ngôn ngữ chính cũng là điều tự nhiên và dễ hiểu: các đối tượng và các môi trường chính như bạn bè, trường học, nơi làm việc và mọi quan hệ giao tiếp hầu như đều sử dụng tiếng bản xứ. Giới trẻ, ngoài một số sinh sống trong cộng đồng có đông người Việt, thường tỏ ra miễn cưỡng, kém thoải mái và không có “cảm giác ngôn ngữ” khi sử dụng tiếng Việt (không cảm thấy tiếng Việt là “tiếng mẹ đẻ” hay “tiếng nước tôi” như thế hệ bố mẹ mình). Các em cũng hiếm khi bước chân vào tiệm sách tiếng Việt, và nếu có thường xuyên lui tới thư viện cũng chỉ để tham khảo tài liệu bằng tiếng nước ngoài (thường là Anh, Pháp hoặc tiếng bản xứ). Thú tiêu khiển và sinh hoạt thường ngày của các em là sách báo, phim ảnh, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng bản xứ, các hoạt động văn nghệ, thể thao và giải trí có màu sắc văn hóa nước ngoài. Nghe một bài hát tiếng Việt chẳng hạn, các em ít thấy hứng thú vì không hiểu bài hát nói gì, hoặc có hiểu thì cũng ít thấy rung cảm, cũng vì không có “cảm giác ngôn ngữ”.

Nói cho ngay, giới trẻ ngoài nước đôi lúc cũng tạo được thành tích về chữ nghĩa làm “vẻ vang dân Việt”, chẳng hạn “ra mắt” được những tác phẩm giá trị, gây tiếng vang rộng lớn, nói về bản sắc và nếp sống văn hóa của người Việt, hoặc kể về cuộc hành trình lịch sử đầy cam go của người Mỹ gốc Việt để có mặt trên quê hương mới này. Chỉ có điều, những tác phẩm được dư luận người bản xứ “đánh giá cao” và được giải thưởng này nọ ấy đều viết bằng… tiếng bản xứ.

Khi mà tiếng Việt chỉ đóng vai phụ mờ nhạt chứ không được thế hệ người Việt trưởng thành ở nước ngoài chọn làm “công cụ truyền đạt ý tưởng và giao tiếp”, tiếng Việt nếu không theo “ngày tháng tàn phai” thì cũng khó mà sống mạnh, sống hùng được.

“Chỉ sợ đàn con quên Việt ngữ / Đừng lo lũ trẻ kém Anh văn”, lời nhắn nhủ đầy tâm huyết ấy của cụ Bảo Vân Bùi Văn Bảo–một nhà giáo lão thành khả kính, đã qua đời–dường như ít được các bậc phụ huynh lưu tâm. “Quên Việt ngữ” thì “đàn con” chẳng quên đâu, có điều lắm lúc chính bố mẹ các em cũng không hiểu được… tiếng Việt của các em.

Ngoài những em có may mắn được gia đình chăm sóc kỹ và chịu khó học hỏi tiếng mẹ đẻ, vốn liếng và trình độ Việt ngữ của các em có khi không hơn kém bao nhiêu mấy anh chàng người Mỹ thỉnh thoảng biểu diễn ít câu tiếng Việt để giúp vui những bạn bè người Việt. Khi phải nói một câu tiếng Việt, các em thường phải làm công việc “chuyển ngữ” từ tiếng bản xứ (ngôn ngữ chính của các em) sang tiếng Việt ở trong đầu mình, xong rồi mới phát ra (tương tự người Việt lớn tuổi học tiếng nước ngoài). “Bố con không nhà. Con không biết khi nào thì nó về,” một em người Mỹ gốc Việt trả lời điện thoại như thế. Hoặc, “Em rất thần tượng ca sĩ L.T.” (thay vì “Ca sĩ L.T. là thần tượng của em”). “Thần tượng” vốn là danh từ nay biến thành động từ (cách này không lạ, vẫn gặp ở tiếng Mỹ), có thể xem như một từ ngữ “mới” được giới trẻ ở ngoài nước phát minh. Những “phát minh” này không nhiều lắm nên cũng không làm giàu thêm được bao nhiêu kho tàng tiếng Việt.

Với những phát minh và lối sử dụng tiếng Việt như trên của thế hệ người Việt hôm nay, có lẽ cũng không khó lắm để đoán trước được tương lai vận mệnh của tiếng Việt ở hải ngoại. Đôi lúc tôi tự hỏi, khi những bà mẹ trẻ sinh con ở nước ngoài, liệu tiếng Việt của con mình có còn gọi là “tiếng mẹ đẻ”?

3. Tiếng Việt đi đâu, về đâu?

Dân số phát triển thì ngôn ngữ cũng phát triển theo. Ngôn ngữ nào được số đông người dân trong nước sử dụng được xem là ngôn ngữ chính thống, tựa như “người ta đi mãi trên một lối thì thành ra con đường” (đường tốt, xấu thế nào là chuyện khác).

Tiếng Việt đi về đâu? Câu hỏi này có vẻ đặt ra cho người Việt ngoài nước nhiều hơn, vì đối với người Việt trong nước thì tiếng Việt “vẫn đi bên cạnh cuộc đời”, vẫn đi bên cạnh mọi sinh hoạt bình thường của trên 85 triệu dân. Những sinh hoạt “không bình thường” của ngôn ngữ, nếu có cũng không nhiều, như là dạng chữ nghĩa khá đặc biệt của một “bộ phận” giới trẻ, gọi là “ngôn ngữ teen” (hay “ngôn ngữ chat”, hay “ngôn ngữ online”) bây giờ, chẳng hạn:

iu an wa’ choj` lun!” (Tạm dịch: “yêu anh quá trời luôn!”).

Hum nEj ngoj` pun` hok BiT’ lem` j`, sheo ngj~ DeN’ an nhiu` lem’ lem’, choj` ui!” (Tạm dịch: “Hôm nay ngồi buồn không biết làm gì, sao nghĩ đến anh nhiều lắm lắm, trời ơi!”).

Dạng chữ gọi là “tiếng Việt xì-tin” này không phải là ai cũng biết “giải mã” để đọc được, hiểu được. Bên cạnh đó, có những sinh hoạt chữ nghĩa lành mạnh hơn, như nghệ thuật “thư pháp” chẳng hạn. Nhà thơ Vũ Đình Liên, nếu còn tại thế, dạo bước trên những hè phố đông người, hẳn ông sẽ ngạc nhiên và rất vui trông thấy những “ông đồ ‘trẻ’” đang “hoa tay thảo những nét / như phượng múa rồng bay”. Trên các tranh thư pháp ấy là những “Tiếng Việt còn, nước Việt còn”, “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”… Thư pháp chắt lọc những “chất ngọc” trong kho tàng tiếng Việt, từ những “lời vàng” đến những tục ngữ, ca dao, những áng thi ca của người Việt.

3.1. “Tiếng Việt cũ” đi về đâu?

Câu hỏi “‘Tiếng Việt cũ’ đi về đâu?” đôi lúc vẫn được đặt ra cho người Việt miền Nam thuở trước đang sống ở trong nước hay ngoài nước.

Dù muốn dù không, đối tượng sử dụng “tiếng Việt cũ” trong nước không có cách nào khác hơn là phải tự điều chỉnh để thích nghi và “hội nhập ngôn ngữ” với “tiếng Việt mới”. Nói gì thì nói, “tiếng Việt mới” rõ ràng là thắng thế, đẩy lùi “tiếng Việt cũ” với đa số tuyệt đối áp đảo của “đại bộ phận” 1… hơn 85 triệu người sử dụng tiếng Việt ở trong nước. Hiện trạng này vừa là “thực tế” vừa là “thực thể”, không còn phải bàn cãi. Mọi cố gắng để “bảo tồn” hay làm sống lại “tiếng Việt cũ” đều có vẻ là những cố gắng “vô ích và tuyệt vọng”.

Đối với những người Việt yêu chữ nghĩa của miền Nam thuở trước thì cái đẹp của “tiếng Việt cũ” chỉ còn là cái đẹp “vang bóng một thời”, tựa như cái đẹp ngàn năm văn vật của Hà Nội cũ, của “ánh đèn giăng mắc muôn nơi / áo mầu tung gió chơi vơi” (“Hướng về Hà Nội”, nhạc Hoàng Dương), nay chỉ còn rớt lại nỗi luyến tiếc ngậm ngùi.

Chỉ riêng chuyện văn chương chữ nghĩa, như những ca sĩ “cũ” chỉ hát cho lớp thính giả “cũ” nghe, những tác giả “thành danh” ở miền Nam thuở trước, nếu không thích ứng được thời đại mới, không hội nhập được “tiếng Việt mới”, không thay đổi cách viết, gồm cả thay đổi ngôn ngữ và “tư duy” 1 mới, sẽ chỉ còn được một ít độc giả “cũ” rơi rớt lại, hoặc… không còn độc giả.

“Những người viết mới”, ngày trước ta có “cụm từ” ấy thì ngày nay cũng có một đối tượng độc giả mới gọi là “những người đọc mới” mà những người viết “cũ” không thể không quan tâm nếu muốn những gì mình viết ra còn có người đọc. Những cây bút trào phúng của miền Nam thuở trước chẳng hạn, nếu không đổi cách viết, nếu vẫn dùng những “thuật ngữ” trào phúng cũ (như “sức mấy”, “chịu chơi”, “bỏ đi tám”, “đầm giao chỉ”, “tuyệt cú mèo”…) mà không chịu cập nhật bằng những thuật ngữ mang tính thời sự và hiện đại, sẽ không còn “ăn khách” nữa vì “những người đọc mới” sẽ không hiểu và không thấy khôi hài. Ví dụ nói “chuyện dài nhân dân tự vệ” hoặc “chuyện muôn đời lục quân Việt Nam” thì không ai hiểu gì cả, nhưng nói “chuyện thường ngày ở huyện” thì nhiều người hiểu được.

Điều an ủi là các từ ngữ “tiếng Việt cũ” thế nào cũng còn tìm thấy được trong các bộ tự điển tiếng Việt về sau này, với chú thích là… “từ cũ” hay “từ cổ”. Dù sao, việc “tử thủ” ngôn ngữ “tiếng Việt cũ” của những “người lính già” cũng là hành động dũng cảm đáng ca ngợi, và ít ra cũng đã “can trường trong chiến bại” (mượn cái tựa sách của cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại). Nói là nói vậy, thực tế đây không phải là chuyện “ai thắng ai”, mà là chuyện tiếng Việt rồi sẽ phải đi đến thống nhất cách nào đó.

Đành ngậm ngùi cho “tiếng Việt cũ” từng làm nên văn hóa miền Nam Việt Nam một thời, nay chìm dần trong lãng quên. Kết luận này có thể làm một số người không vui, thậm chí không “nhất trí”, nhưng biết làm sao hơn.

3.2. Hố thẳm của ngôn ngữ

“Hố thẳm” ở đây không mang ý nghĩa tương tự “hố thẳm của tư tưởng” như một tựa sách của nhà văn Phạm Công Thiện, cũng không mang ý nghĩa bí ẩn, mầu nhiệm nào của ngôn ngữ, mà là hố sâu của chia cách.

Tôi có cô em họ rất “dị ứng” với hai chữ “thân thương”. Mỗi lần xem chương trình ca nhạc DVD, thấy ca sĩ nào đó phát ngôn “T.L. rất trân quý sự ủng hộ của quý khán thính giả thân thương dành cho T.L.” là cô ấy bực mình, bấm remote control rượt cô ca sĩ ấy “chạy như tên bắn” để nghe ca sĩ tiếp theo hát. Khi tôi hỏi vì sao cô lại ghét bỏ hai chữ ấy đến thế thì cô không giải thích rõ, chỉ nói, “Tại sao mình có những chữ ‘thân yêu’, ‘quý trọng’, ‘yêu dấu’ rất là hay, rất là tình cảm mà không chịu dùng, lại dùng chi ba cái chữ ‘thân thương’, ‘trân quý’, ‘dấu ái’, nghe… dễ quạu.”

Những người khác có thể bị dị ứng bởi những chữ khác như “bức xúc”, “báo cáo”, “đột xuất”, “sự cố”… Những tình cảm yêu, ghét này không có duyên cớ chính đáng, thế nhưng đánh đổ chúng không dễ dàng chút nào.

Tôi thì không yêu không ghét mà chỉ thấy những chữ ấy… vui vui, và thỉnh thoảng tôi có đưa những từ ngữ ấy vào sinh hoạt thường ngày:

“‘Nhất trí’ hai tay hai chân, giá nào cũng chơi!”

“‘Báo cáo’ là vụ này không có tôi à nghen.”

“Làm gì có chuyện bồ bịch, chỉ là ‘giao lưu tình cảm’ thế thôi.”

“Có chuyện gì ‘bức xúc’ mà mặt mũi nặng chịch vậy?”

“Cô em này trông ‘chất lượng’ quá cỡ!”

Nghe những cách nói ấy thì ai cũng hiểu là… diễu.

Công bằng mà nói, bên mình có những từ ngữ “khe khẽ”, “nhẹ nhàng”, “êm ả”, “gần gũi”, “lạ lùng”… (từ ngữ láy, một chữ có nghĩa, chữ kia chỉ là đệm vào cho xuôi tai chứ chẳng có nghĩa gì cả) thì cũng phải cho người ta có “khẽ khàng”, “im ả”, “yên ắng”, “gần gụi”, “lạ lẫm”… chứ. Bắt người ta phải giống mình thì kể cũng hơi… khó tính. Những từ ngữ ấy, theo tôi, làm phong phú thêm ngôn ngữ và làm “dày” thêm bộ tự điển tiếng Việt.

Sự chia cách trong ngôn ngữ không giống như những cách ngăn có giới tuyến, mà là những rào cản vô hình, bàng bạc trong đời sống, trong nếp suy nghĩ, trong thái độ, cử chỉ và trong cung cách đối xử với nhau, khiến con người không càm thấy “gần” nhau được. Cùng một màu da, cùng chung tiếng nói, cùng một chữ viết, nhưng lại “bất đồng ngôn ngữ”. Nghe thì có vẻ mâu thuẫn, nhưng lại là chuyện thường tình khi mà mâu thuẫn là một trong những nét “đặc trưng” 1 của người Việt.

Ngôn ngữ là dụng cụ, ta vẫn nghe vậy. Cũng là thanh gươm ấy, có người múa lên những đường kiếm đẹp mắt, tuyệt chiêu, có người múa may vụng về, quờ quạng. Nhưng nếu tước bỏ thanh gươm ấy đi, hoặc không còn giấy, bút để viết lách, hoặc con người câm và điếc cả thì liệu ngôn ngữ có ý nghĩa gì? Miệng lưỡi không còn thốt ra tiếng nói, tai không còn nghe những lời yêu hay ghét, liệu người ta có còn “dị ứng” vì những chữ nghĩa nghe chướng tai, có còn bắt bẻ vì chữ này dùng sai, chữ kia dùng đúng? Ngôn ngữ khi ấy là gì? Là câm lặng như bức tranh không lời nhưng nhiều… ý? Là nói bằng ánh mắt, là “những con mắt người tình / ấm như lời hỏi han”, hay “những con mắt thù hận / cho ta đời lạnh căm” (“Những con mắt trần gian”, nhạc Trịnh Công Sơn)? Là nói bằng trái tim, như những kẻ yêu nhau ngồi bên nhau cả buổi, không nói năng câu gì mà… nói rất nhiều?

Những chuyện hay dở, đúng sai, phải trái ấy kết cục không đi đến đâu cả. Rõ ràng chữ nghĩa chỉ là sản phẩm con người, chỉ là do con người “chế” ra. Vậy mà con người đôi lúc “đánh giá cao” ngôn ngữ, thậm chí mang “bệnh sùng bái” ngôn ngữ, sùng bái vật mà mình nặn ra, khiến ngôn ngữ “lên đời” 1, khiến trở nên “phức tạp”. Ngôn ngữ cần phải thoát ra ngoài, vượt lên trên những tranh chấp, phe phái, những định kiến, thiên kiến, những yêu và ghét. Cần phải trả ngôn ngữ về với ngôn ngữ, về đúng vị trí và chức năng của nó, như nó đã từng.

Trong số những ý kiến về chuyện người Việt cần thống nhất việc sử dụng tiếng Việt có đề nghị xúc tiến thành lập một “hàn lâm viện” ngôn ngữ. Mặc dù mọi người hoàn toàn nhất trí “trên nguyên tắc” về đề nghị này, chuyện “hàn lâm viện tiếng Việt” đến nay vẫn chỉ là nói… cho vui và “huề vốn”, tựa như cách nói “Chuyện ấy sau này lịch sử sẽ phán xét”. (Lịch sử nào? Viết bởi “sử gia” của “bên” nào? Liệu có tin được tính khách quan, trung thực của người chép sử khi mà gần đây người ta đã phải lật lại những trang sử Việt từ ngàn xưa, và đặt ra những nghi vấn về tính xác thực sau khi “phát hiện” được những sử liệu khá bất ngờ, đến phải ngỡ ngàng).

Riêng tôi chỉ dám đưa ra một đề nghị nhỏ: các nhà ngôn ngữ học và biên soạn từ điển ở cả trong và ngoài nước cùng ngồi lại làm việc để soạn ra một bộ từ điển tiếng Việt thống nhất (về chính tả, tự loại, giải nghĩa từ ngữ, các mẫu câu thông dụng…). Tất nhiên trong “quá trình” biên soạn, hai bên thoải mái trao đổi ý kiến, kể cả “tranh cãi” 1 về ý nghĩa và cách dùng một từ ngữ. Riêng việc ấy thôi cũng không dễ thực hiện và e rằng cũng chỉ là chuyện… nghe qua rồi bỏ.

Mới đây, một nguồn tin cho biết, “dự án thử nghiệm dạy Việt ngữ cho người Việt Nam ở nước ngoài” của Bộ Ngoại Giao và Bộ Giáo Dục trong nước đang được xúc tiến bước đầu tại thành phố của một tiểu bang Hoa Kỳ có khá đông người Việt. Chuyện này xem ra có vẻ “nhạy cảm” và khá “phức tạp”. Cộng đồng người Việt lên tiếng nhiều về vụ này nhưng hầu như vẫn chưa thống nhất được ý kiến, nhận định cũng như chưa có phản ứng và “phương án” 1 chính thức nào để ứng phó với tình hình. Có vẻ như “hai bên” đều bối rối, và ngấm ngầm dò xét lẫn nhau. Có vẻ những diễn biến sắp tới sẽ như một hoạt cảnh dở khóc dở cười.

Phía thực hiện dự án này, về mục tiêu thì khá tốt, gọi là đáp ứng yêu cầu của “bà con có nguyện vọng được học tập để củng cố thêm tiếng Việt”, tuy không rõ phương thức tiến hành ra sao, nội dung tài liệu giáo khoa, giáo trình giáo án thế nào (đối với các môn học khá “nhạy cảm” như môn Lịch Sử chẳng hạn). Hơn thế nữa, biết dạy dỗ làm sao đây với một đối tượng học sinh người Mỹ gốc Việt, nói rặc tiếng… Mỹ. Rồi vừa dạy lại vừa phải lo đối phó với các “đồng nghiệp” không mấy dễ chịu trong cộng đồng người Việt. Mọi chuyện coi bộ không đơn giản chút nào.

Phía cộng đồng người Việt, đặc biệt là các giới chức trong ngành giáo dục, có vẻ còn dè dặt wait and see, vẫn án binh bất động trong lúc căng mắt theo dõi chặt chẽ từng bước tiến của đối phương, xem tình hình diễn biến thế nào để có hướng “xử lý” 1 thích ứng. Không thấy có những phản ứng gay gắt kiểu “chống văn hóa vận” hoặc tố giác đối phương có “ý đồ” 1 này nọ… Người Mỹ gốc Việt cảm thấy lúng túng để đi tới quyết định dứt khoát như thế nào đó. Hoặc tỏ thiện chí “hợp tác”, ngồi xuống uống café và làm việc chung với những người cùng một đường, chung một hướng; hoặc tỏ thái độ bất hợp tác, lạnh lùng ngoảnh mặt quay lưng, thậm chí xuất chiêu bằng những hành động phản kháng tích cực như xuống đường, biểu tình, vận động tẩy chay, ngăn chận việc hợp tác của các gia đình người Việt, như đã từng. (Liệu phương thức “cổ điển” ấy có mang lại hiệu quả hay chỉ gây “phản cảm”, chỉ tạo thêm những phân hóa trong lòng cộng đồng người Việt). Người ta cũng chờ đợi để xem thử phản ứng của trên 80 trung tâm Việt ngữ ở Nam Calif.–nơi tập trung đông đảo người Việt nhất ở hải ngoại–sẽ như thế nào trước sự “cạnh tranh nghề nghiệp” và gây “nhiễu” của “dự án thử nghiệm” đến từ trong nước này.

Chưa hết, một cái “khó” nữa là làm thế nào để giải đáp “có sức thuyết phục” những câu hỏi “tại sao” của người bản xứ (luôn khuyến khích người Mỹ gốc Việt bảo tồn ngôn ngữ và bản sắc văn hóa truyền thống). Tại sao lại chống đối việc người Việt trong nước lặn lội qua Mỹ để dạy ngôn ngữ và văn hóa cho người Mỹ gốc Việt? Tại sao cùng một mục đích, một việc làm mà lại đối chọi nhau? Tại sao cùng một dân tộc mà lại… “khác biệt ngôn ngữ”.

Người ta nói với nhau những lời lẽ êm dịu ngọt ngào hoặc đắng cay chua xót, hoặc… gầm gừ, văng tục chửi thề cũng bằng thứ ngôn ngữ ấy. Người ta nói để lấp bằng hoặc để đào rộng thêm những miệng hố cách ngăn cũng bằng thứ ngôn ngữ ấy.

Ôi ngôn ngữ thực ra là gì, có quyền năng gì mà, nói như nhà phê bình Đặng Tiến, làm cho con người gần nhau và cũng khiến cho con người xa nhau!

3.3. “Nằm trong tiếng nói yêu thương”

Ngôn ngữ thường được hiểu là tiếng nói và chữ viết (chưa kể điệu bộ, cử chỉ…), tuy nhiên tiếng nói có vẻ được nói đến nhiều hơn. Thứ nhất, tiếng nói (âm thanh phát ra từ miệng người) có trước, chữ viết (ký hiệu ngữ âm) đến sau; thứ hai, lời nói là “đầu mối sự giao tiếp giữa người nọ với người kia” 3, nói như học giả Lê Văn Siêu. Ông cũng định nghĩa, “Nói là cái cách dùng những lời như những phương tiện để diễn tình và ý của mình, trong cuộc sống… Cuộc sống xã hội càng phức tạp, sự giao tiếp càng cần tinh tế để nhận xét tình ý của người và biểu lộ tình ý của mình, thì những cách để diễn tình ý ấy lại càng nhiều.” 3 Dẫn chứng về “những cách để diễn tình ý ấy”, ông kể ra vanh vách đến cả trăm kiểu “lời ăn tiếng nói” của người Việt (phân ra làm ba nhóm chính: nói lời, nói tiếng, nói điều), có thể được gọi là những “chiêu thức” tinh diệu của môn võ “nói”. Những chiêu thức ấy thiên biến vạn hóa “nhiều cho đến vô tận”. 3

Đọc những trang sách diễn giải về các chiêu thức ấy của học giả Lê Văn Siêu, tôi “phát hiện” 1 một điều: người Việt mình… nói nhiều quá, có lẽ trên thế giới không có dân tộc nào “nói” nhiều đến thế. Ai cũng muốn nói, không ai muốn nghe, nên chẳng ai nghe ai, nên chẳng ai hiểu ai. Liệu đấy có phải là một trong những nguyên nhân dẫn đến “bất đồng ngôn ngữ” (dẫu cùng chung tiếng nói)?

(Những người đóng vai MC không chuyên nghiệp thường tỏ ra lúng túng và đau khổ không biết làm cách nào để thu hồi cái microphone từ tay một diễn giả “đột xuất” 1 nhảy lên sân khấu nói tràng giang đại hải bất kể “quý khán thính giả” bên dưới có muốn nghe hay không. Những diễn giả quyết tâm “tử thủ” cái microphone như vậy có khá nhiều trong cuộc sống quanh ta).

Bao nhiêu “chiêu thức” biến hóa ảo diệu ấy là bấy nhiêu kiểu cách nói năng của người Việt. Nói gần nói xa, nói ngắn nói dài, nói hay nói dở, nói văn vẻ nói vụng về…, nói gì thì nói cũng chỉ toát lên một ý. “Bắt” được cái ý đó là “hiểu” được đối tượng. Thế nhưng, ngôn ngữ đã có những lúc trở nên thừa thãi, vô tích sự, khi mà con người không còn muốn nghe, không còn muốn đọc nhau nữa. “Dụng cụ ngôn ngữ” đành xếp xó.

Có phải ngôn ngữ sau cùng không là gì cả? Tiếng thông reo vi vu, tiếng suối chảy róc rách, tiếng sóng vỗ rì rào, những thanh âm ấy thực ra là gì? Có phải là “ngôn” đâu, cũng làm gì có “ngữ”. Vậy mà nghe chúng, ta nghe hồn mình lắng xuống, nghe lòng mình dịu lại, và muốn quên, quên hết. Những thanh âm ấy nghe như tiếng nhạc, và âm nhạc cũng là thứ ngôn ngữ thân thuộc của người Việt. Từ đời thuở nào người ta đã từng nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ ấy.

Một ngày kia tôi chạm tay vào đất / Một ngày kia tôi sẽ hiểu lòng tôi / Một ngày kia tôi sẽ đến bên Người / Để cất tiếng chào, ‘Việt Nam ơi!’

Những câu ấy được “chuyển ngữ” từ lời của bài hát “Bonjour Vietnam”. Bài hát ấy, giọng hát mềm mại ấy cất lên ở trong nước, đã rất được tán thưởng. Nhiều người Việt không hiểu được tiếng Pháp, chỉ nghe giai điệu ngọt ngào, chỉ nghe giọng hát êm dịu của cô ca sĩ và những tiếng “Việt Nam” ngân lên ở cuối bài hát cũng đủ nghe xúc động. Nỗi xúc động ấy cũng đến từ mối “đồng cảm” dành cho cô gái người Bỉ gốc Việt sống bao nhiêu năm ở nước ngoài vẫn giữ mãi trong tim tình yêu quê hương.

Phạm Quỳnh Anh, cô gái ấy không nói được tiếng Việt, nhưng có sao đâu, cô đã “nói” bằng giai điệu của bài hát ấy. Và thứ ngôn ngữ ấy cũng đã làm cho bao người nghe cô phải ứa nước mắt.

“Giá mà cô ấy hát bằng tiếng Việt thì tuyệt quá!” một người bạn tôi nói thế. Tôi hiểu, đối với người yêu tiếng Việt và yêu những bài hát của người Việt, nghe bài hát ấy cũng tương tự như xem phim nói về đất nước Việt Nam do người nước ngoài thực hiện. (Tác giả bài hát “Bonjour Vietnam” là ca nhạc sĩ Marc Lavoine, người Pháp). Cũng là tình yêu quê hương, cũng là nỗi niềm hoài hương, nghe người Việt nói với người Việt vẫn “thấm” hơn là nghe người nước ngoài nói hộ “tiếng lòng”.

Quê hương ơi! / Bóng đa ôm đàn em bé / nắng trưa im lìm trong lá… Quê hương ơi! / Tóc sương mẹ già yêu dấu / tiếng ru nỗi niềm thơ ấu / cánh tay êm tựa mái đầu… (“Tình hoài hương”, nhạc Phạm Duy)

Nhiều lắm những bài hát tả tình tả cảnh về lòng yêu quê hương. Có một cách bày tỏ lòng yêu quê hương khác mà người ta không phải nhắc đến hai chữ “quê hương” (không phải nói “Quê hương ơi!…” hay “Quê hương là…” thế này thế kia), mà nghe “rất quê hương”. Người ta chỉ nói về lòng yêu tiếng Việt.

Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời

Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi

Hồn thiêng đất nước cũng ngồi bên con…

(“Nằm trong tiếng nói”, thơ Huy Cận)

Những câu thơ ấy bất giác gợi cho người ta nhớ đến câu hát quen thuộc, với chút ngỡ ngàng. Tiếng thơ, tiếng nhạc sao như không hẹn mà gặp, sao như cùng chung tiếng nói, sao như cùng chung tiếng lòng!

Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời… / Tiếng nước tôi, tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi…” Ngày xưa người ta từng hát câu ấy, ở ngoài nước người ta từng hát câu ấy, và bây giờ, ở trong nước người ta cũng hát câu ấy. Câu hát, bài hát của người nhạc sĩ từng bị “dị ứng” trong những năm dài chiến tranh, sau cùng đã nghe cất lên trên đất nước không còn chiến tranh.

Nghe Đ.T., một ca sĩ trẻ ở trong nước, hát say mê bài “Tình ca” 4 ấy với giọng thiết tha, nồng nàn, người ta không khỏi có chút nghĩ ngợi. Khi mà mọi người Việt, trong nước ngoài nước, đều hát chung một câu hát, một bài hát; hơn thế nữa, cùng chia sẻ những cảm xúc về một bài hát, dường như người ta cảm thấy dễ chịu hơn, gần gũi hơn. Cùng chia sẻ mối đồng cảm, hiểu theo nghĩa nào đó, là chia sẻ cách nghĩ cách nhìn, là chia sẻ những mối ưu tư, những nỗi niềm trăn trở.

Bao giờ cho đến bao giờ, những con người cùng chung tiếng nói, cùng một chữ viết không còn nữa những “bất đồng ngôn ngữ”, để cho ngôn ngữ không phải… ngậm ngùi.

lê hữu

————————–

1 Từ ngữ phổ biến ở trong nước

2 Đỗ Tăng Bí, Dòng nhập cư vào Hoa Kỳ của người Việt Nam, Nhật báo Người Việt, Calif. 16/3/2005

3 Lê Văn Siêu, Nói nghĩa là gì? Tạp chí Văn, Đặc san Nghiên cứu và Phê bình văn học, Saigon, tập 1/1967, tr. 12-13 (tài liệu của văn hữu Lại Quảng Nam do tòa soạn tạp chí Da màu chuyển)

4 Đức Tuấn hát Tình ca Phạm Duy, http://www.youtube.com/watch?v=rd9hCqhvodk

* Mấy lời của người viết:

Do đây là bài viết riêng cho DaMàu, xin mạn phép nói thêm ít lời.

Chuyện ngôn ngữ nói cả ngày; hơn thế nữa, nói ngày này sang ngày khác vẫn không… hết chuyện. Xin tạm dừng nơi đây. “Tiếng Việt trong và ngoài nước” là đề tài khá phức tạp, và “nhạy cảm” nữa, tuy nhiên người viết không ngại đề cập vì cho rằng đây là một trong những đề tài thiết thân trong đời sống, trong mọi sinh hoạt của người Việt cả trong lẫn ngoài nước. Đối với một chuyên đề khá “rộng” thì đây chỉ là một bản sơ thảo, không trình bày hết được mọi ngóc ngách và góc cạnh của ngôn ngữ. Các suy nghĩ và nhận định trong bài là chủ quan, và vì “sơ thảo” nên khó mà tránh được những “sơ xuất”, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp giúp cho đề tài được soi sáng hơn, có được cái nhìn đúng đắn hơn, phần nào mang lại những lợi ích thiết thực.
Trân trọng.

bài đã đăng của Lê Hữu


14 Bình luận »

  • actionminded says:

    Chị Phương Hiếu,
    Theo thiển ý của tôi, trước khi quyết định uống thuốc, chị cần phải tin “thầy thuốc” cũng như “công dụng” của thuốc trong một thời gian thử thách nào đó – trong trường hợp “ngôn ngữ  ngậm ngùi” này theo tôi phải mất ít nhất vài năm vì sự nghi kỵ về ngôn ngữ đã hằn in rất lâu trong tâm khảm nhiều người Việt nên không thể thay đổi một sớm một chiều. “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng”, thuốc chưa kịp ngấm mà chị đã hoài nghi, đã bị chao đảo bởi dư luận, thì làm sao biết được có công hiệu hay không. Thú thật tôi cũng đã thử phương thuốc này và cũng bị những ‘bầm dập” như  chị vừa trải qua nhưng tôi “kiên trì” nên nay đã đắc đạo. Rõ ràng tôi đã mất một số bạn nhưng ngược lại tôi cũng lại có thêm những bạn mới lý thú hơn nhiều.
    Chúc chị cố gắng thử lâu thêm một chút nữa hoặc quay về vị trí cũ một cách an toàn.
     

  • Tran Vinh says:

    Về trường hợp ‘bức xúc’ của chị Phương Hiếu tôi không dám vấn kế chi cả, chỉ xin nêu nhận xét là ngôn ngữ có làm cho con người xa nhau thật, và sự chia cách ấy không dễ gì xóa nhòa được một sớm một chiều (phải đến thế hệ con cháu thì may ra).
    Bản thân tôi không bị dị ứng với các từ ‘mới’ được tác giả kể ra trong bài, nhưng với các từ như ‘giải phóng’, ‘cách mạng’, ‘ngụy’…thì không riêng gì tôi mà nhiều người trong Nam dị ứng thật. Mức độ dị ứng cũng khác nhau, có người khó chịu, nhăn mặt nhíu mày như chị PH nói, có người nổi quạu, sừng sộ, gây hấn… Đây là tình trạng có thật và phổ biến, tôi không muốn đi sâu thêm vì ngại ít nhiều dính dấp đến ‘chính chị chính em’ là điều tôi muốn tránh, gây phức tạp và kém vui.  Chỉ xin kết luận là căn bệnh dị ứng tiếng Việt vẫn như một vết thương khá nhức nhối sau chiến tranh, đến nay vẫn chưa lành, đúng như cách nói của ông Lê Hữu, ‘ngôn ngữ ngậm ngùi’.

  • Phương Hiếu says:

    ‘Báo cáo’ chị P.T.Thanh và anh Lê Hữu, sau gần một tháng tự điều trị bằng phương thuốc ‘dĩ độc trị độc’ mà hai vị mách cho, bệnh dị ứng ngôn ngữ của tôi có ‘chuyển biến tốt’ thật. Tuy nhiên, lại xảy ra ‘sự cố’ khiến tôi rất ‘bức xúc’. Chuyện như thế này:
    Thứ nhất: Trong tuần lễ đầu của ‘quá trình’ điều trị, gia đình tôi tỏ ra rất thông cảm, nhờ thế tôi ‘tranh thủ’ xử dụng được khá nhiều ‘từ’ ấy trong mọi ‘tình huống’ giao tiếp. Cũng thấy vui vui. Tuy nhiên, sang đến tuần lễ thứ hai, căn bệnh dị ứng vừa mới thuyên giảm thì đến lượt những người quanh tôi lại bị dị ứng vì…tôi.  Xin kể một ví dụ: Tuần trước tôi dự tiệc sinh nhật một chị bạn, thấy chủ nhà bày ra chiếc bánh lớn và đẹp, tôi buột miệng nói: “Wow! Chiếc bánh sinh nhật hoành tráng quá!”  Thế là bao nhiêu cặp mắt dồn về phía tôi với cái nhìn khang khác, không mấy thiện cảm. Một người hỏi ‘kháy’ tôi: “Chị nói ‘hoành tráng’ nghĩa là sao?”  Tôi trả lời: “Là cực kỳ ấn tượng.” Tôi lại nhận được thêm những cái nhìn dò xét, khó chịu. Có người nhăn mặt, nhíu mày (chắc họ cho là tôi ‘chuyển hệ’ hay ‘chao đảo lập trường’). Cô bạn đi cùng với tôi nói: “Chị ấy nói đùa đấy”, nhưng mọi người vẫn nhìn tôi với vẻ nghi ngại. Lần lần, tôi cảm thấy như mọi người không muốn gần tôi nữa.
    Thứ hai: Do phải thực hành nhiều lần các ‘từ’ ấy, tôi đâm ra…quen miệng, và thốt ra những từ ấy rất tự nhiên khiến đôi lúc chính tôi cũng không hiểu là tôi nói chơi hay nói thật, nghĩa là tôi…ngờ vực cả chính tôi nữa. Tôi rất bức xúc, xin lỗi,… rất bối rối, không biết phải xử lý thế nào. Người bạn trai tôi nói rằng: “Như vậy là em bị ‘tẩu hỏa nhập ma’ rồi, chỉ vì nghe mấy người đó xúi dại xúi khôn.”  Tôi rất hoang mang nên lại phải vấn kế chị Thanh, anh LH và các anh chị.
    Xin cám ơn trước.

  • Lê Thiên says:

    Trong “Ngôn ngữ ngậm ngùi – Phần 2” Lê Hữu viết:
    “Dù muốn dù không, đối tượng sử dụng ‘tiếng Việt cũ’ trong nước không có cách nào khác hơn là phải tự điều chỉnh để thích nghi và ‘hội nhập ngôn ngữ’ với ‘tiếng Việt mới’. Nói gì thì nói, ‘tiếng Việt mới’ rõ ràng là thắng thế, đẩy lùi ‘tiếng Việt cũ’ với đa số tuyệt đối áp đảo của ‘đại bộ phận’ 1… hơn 85 triệu người sử dụng tiếng Việt ở trong nước. Hiện trạng này vừa là ‘thực tế’ vừa là ‘thực thể’, không còn phải bàn cãi. Mọi cố gắng để ‘bảo tồn’ hay làm sống lại ‘tiếng Việt cũ’ đều có vẻ là những cố gắng ‘vô ích và tuyệt vọng’.
    Đối với những người Việt yêu chữ nghĩa của miền Nam thuở trước thì cái đẹp của ‘tiếng Việt cũ’ chỉ còn là cái đẹp ‘vang bóng một thời’”… (Hết trích)
    Xin phép cho tôi “phát biểu” không “nhất trí” với tác giả Lê Hữu ở chỗ này. Tôi chưa nhận ra được cái “hiện trạng vừa là ‘thực tế’ vừa là ‘thực thể’ mà tác giả đã chỉ ra. Bởi vì “bản thân” tôi chưa phân định được tiếng Việt nào “mới”, tiếng Việt nào là “cũ”, mà chỉ có một số từ ngữ bị kẻ thắng loại trừ ra khỏi ngôn ngữ thường ngày của phía bại trận, và mang một số từ ngữ khác (mà kẻ thắng đã từng xử dụng lâu đời trong “vùng lãnh thổ” của họ) mà thay thế vào. Tất nhiên, kẻ thua cảm thấy “ngậm ngùi” vì bị xô vào vòng dây kẻm gai và bị tước đi cái cơ hội sử dụng những từ ngữ mà mình đã quen thuộc. Vì vậy mà xảy ra hiện tượng “thắng thế”, “đẩy lùi” và “áp đặt” của phía bên này, và sự “bực bội” “dồn nén” sinh ra “yêu nên tốt, ghét nên xấu” của phía bên kia, chứ không phải là sự “thắng thế, đẩy lùi ‘tiếng Việt cũ’ với đa số tuyệt đối áp đảo của “đại bộ phận” 1… hơn 85 triệu người sử dụng tiếng Việt ở trong nước.”
    Sự “xích lại gần nhau” phải “phát xuất” từ thiện tâm, thiện chí của cả hai bên chứ không thể phía bên bên thắng luôn luôn là đúng, kẻ bại trận là sai để cho người thắng “cố chấp” phủ nhận “sạch trơn” bất kỳ cái gì là của kẻ bại trận. Và ngược lại, phía bên bại cũng sẽ không “ngoan cố” loại trừ những cái gì là “tối ưu” của bên kẻ thắng. Điều “cốt yếu” là báo chí phải đóng vai trò “vô tư” và “độc lập”, đừng làm “công cụ” tuyên truyền “tung hê” phía bên này mà “triệt hạ” phía thua, “triệt tiêu” cái hay hay nét “duyên dáng” của phía bên kia, đặc biệt trong ngôn ngữ. Vì ngôn ngữ là kết quả của quá trình “giao lưu” giữa con người với con người. Từ ngữ vô tội! Nếu đừng “tung hê” nó thì cũng chớ nên “buộc tội” nó, đánh đổ nó cho bỏ ghét. Thời gian sẽ làm “lu mờ” lần và cuối cùng sẽ “đào thải” những gì không hợp tình, hợp lý, những gì mà lỗ tai công luận không chấp nhận được nữa.
    Cho nên chẳng những tôi “thống nhất” mà còn “hồ hởi phấn khởi hoan nghênh” “tu duy” sau đây của tác giả Lê Hữu:
    “Ngôn ngữ cần phải thoát ra ngoài, vượt lên trên những tranh chấp, phe phái, những định kiến, thiên kiến, những yêu và ghét. Cần phải trả ngôn ngữ về với ngôn ngữ, về đúng vị trí và chức năng của nó, như nó đã từng.
    Sự chia cách trong ngôn ngữ không giống như những cách ngăn có giới tuyến, mà là những rào cản vô hình, bàng bạc trong đời sống, trong nếp suy nghĩ, trong thái độ, cử chỉ và trong cung cách đối xử với nhau, khiến con người không càm thấy ‘gần’ nhau được. Cùng một màu da, cùng chung tiếng nói, cùng một chữ viết, nhưng lại “bất đồng ngôn ngữ”.
    Đều suy nghĩ cuối cùng của tôi là: Với một người đã một thời bị xô ngã liên tục, xin thôi đừng tìm cách xô ngã họ thêm nữa! Tội nghiệp lắm! Đối với một tâm lý bị dồn nén, bị trầm cảm, hãy góp tay làm dịu tình trạng thay vì làm cho nó nên trầm trọng hơn

  • Phạm Thị Thanh says:

    Xin phép” động viên” chị Phương Hiếu  nhé.” Phưong án” “dĩ độc trị độc” mà anh Lê Hữu đề nghị cũng có vẻ hợp lý đấy. Chị thử áp dụng xem sao  .  Giống như tôi đã làm và đang làm. Tuy nhiên, nếu dùng thái quá mà  nội công không  vững, nghĩa là  thiếu “chất lượng” ngôn ngữ , thì sẽ …bất cập mất thôi.Rồi bạn bè, người quen biét sẽ không còn hiểu mình  muốn nói gì nữa. Đâm ra “gậy ông lại đập lưng ông”. Thôi thì, thỉnh thoảng xài để diễu chơi.
    Anh Lê Hữu có nghĩ là câu của anh viết “ngôn ngữ không làm nên con người” là không mấy  chính xác không? Ngôn ngữ phân biệt các dân tộc, các miền đất nước, các thời kỳ lịch sử, các nền văn hóa. Bởi vậy mới có vấn đề “bất đồng ngôn ngữ”, yêu thương, ghét bỏ, thù hận nhau cũng vì…ngôn ngữ: “Còn nhiều… anh ơi”!

  • Lê Hữu says:

    Xin cám ơn trước chị Phạm Thị Thanh, nếu có dịp “liên hệ” với ca sĩ Lệ Thanh, xin chị “báo cáo” giúp là “tuyệt đại đa số thính giả nghe đài” thuở trước, trong đó có tôi, “rất ấn tượng” với giọng hát nũng nịu của cô.
    Nhất trí với chị là trong tính từ kép tiếng Việt, đôi khi chữ sau bổ túc cho chữ trước, như các ví dụ chị đã dẫn ra. Xin kể thêm vài từ: siêng năng (“siêng” thì “năng” nổ), kỳ dị (“kỳ” thì “dị” ứng), nóng bức (“nóng” thì “bức” xúc).

    Thưa chị Phương Hiếu, rất tiếc là tôi không có chút kiến thức y học nào để giúp được chị. Nhiều lắm chỉ dám chia sẻ với chị chút kinh nghiệm bản thân mà tôi từng áp dụng, và kết quả tương đối khả quan.
    Phương thức này tạm gọi là “dĩ độc trị độc”; hay nói cách khác, là một cách chủng ngừa virus “dị ứng ngôn ngữ”. Nói đơn giản, đối với những từ nào gây dị ứng cho ta, hãy mạnh dạn tiếp cận chúng, tập thói quen sử dụng chúng thường xuyên, và biến chúng thành những từ…“diễu”, vừa làm dịu bớt cảm giác khó chịu, vừa làm giàu thêm các “thuật ngữ” khôi hài. Ví dụ:
    – Cho đổi lại tô nhỏ đi. Tô phở “hoành tráng” quá, làm sao ăn hết nổi!
    – Tối qua “phát hiện” em đi với kép mới, anh chàng “bức xúc” quá, chơi nguyên một chai Whisky.
    Một “phương pháp trị liệu” đôi khi có hiệu quả với người này mà không với người khác. Trong “quá trình” điều trị, nếu có xảy ra “sự cố” phản tác dụng nào, xin hiểu giúp là hoàn toàn ngoài ý muốn của tôi.
    Xin chúc chị may mắn!

    Lê Hữu

  • Phương Hiếu says:

    Cám ơn ông Lê Hữu về lời chúc mau lành bệnh dị ứng ngôn ngữ. Nếu ông cho được toa thuốc nào đặc trị chứng bệnh ấy thì lại càng cám ơn.
    Ông có thể bỏ bớt chữ ‘anh’ trước tên tôi.

  • Phạm Thị Thanh says:

    Cám ơn anh Lê Hữu câu chúc “bảo an”. Để đáp lễ, cũng xin chúc anh “thân an” (thân tâm an lạc).
    Thế ra anh cũng là một trong vô số người “rất thần tượng” cô Lệ Thanh. Nếu có dịp nói chuyện với cô, tôi sẽ “báo cáo”cho cô biết nhé.
    Trong tĩnh từ kép tiếng Việt, đôi khi câu sau bổ túc cho câu đầu, chẳng hạn: giàu sang(giàu thì sang), nghèo khổ(nghèo thì khổ), vui chơi(vui thì chơi), buòn ngủ(buồn thì ngủ). Và còn nữa…v.v…

  • Lê Hữu says:

     
    Cám ơn chị Phạm Thị Thanh đã giới thiệu một bài viết về tiếng Việt trong nước. Về “bài của tác giả Vô danh”, tôi không nghĩ những “từ đặc biệt” ở trong bài là thông dụng. Theo thiển ý, đấy chỉ là chuyện “tiếu lâm” về việc “sáng tạo ngôn ngữ” ở trong nước mà tác giả muốn “mua vui” cho độc giả.
    Nói hơi ngoài lề một chút, cám ơn chị đã giới thiệu trang web “tiếng hát Lệ Thanh”. Tôi “rất thần tượng” ca sĩ ấy.
    Xin chúc chị luôn “bảo an”! (“bảo trọng” và “an lạc”, bắt chước lối “sáng tạo ngôn ngữ” trong câu chuyện tiếu lâm của chị).
     
    Câu “ghét người thì…ta ở với ai” của anh/chị Phương Hiếu làm tôi nhớ câu hát trong bài tâm ca khá phổ biến giữa thập niên 60’s, “giết người đi thì ta ở với ai”. Vâng, tôi cũng “nhất trí” với anh/chị, “nếu ghét người xử dụng các từ này thì chẳng lẽ ghét…cả nước?” Tôi không nghĩ mình có được trái tim quá lớn để yêu/ghét… nhiều người đến như thế.  Xin chúc bệnh “dị ứng” của anh/chị sớm có chuyển biến tốt!
    Trân trọng.

  • Phương Hiếu says:

    Chuyện người miền Nam dị ứng với các từ ngoài Bắc du nhập vào trong Nam sau năm 1975 là chuyện phổ biến. Không riêng gì cô em của tác giả, tôi biết nhiều người khác cũng tỏ ra khó chịu với hai chữ ‘thân thương’ ấy. Tôi thì không dùng chữ ấy nhưng cũng không ghét lắm, nói đúng hơn, tôi dị ứng với những chữ khác hơn, như: khâu, bức xúc, phát hiện, ấn tượng, hoành tráng. Cứ nghe ai nói những từ này là tôi mất thiện cảm, cũng như từng mất thiện cảm với những ai đến nay vẫn còn nói ‘trước giải phóng’, ‘sau giải phóng’, ‘học tập cải tạo’….
    Tôi đồng ý với các anh chuyện dị ứng hay mất thiện cảm ấy một phần do ‘ghét nhau ghét cả đường đi lối về’, một phần do cái ‘tâm lý phản kháng của người thua cuộc’, nhất là đối với những từ mà ai cũng thấy là dùng sai, như cụm từ ‘học tập cải tạo”.
    Ghi nhận một điều, ai ghét thì ghét, những từ kể trên vẫn được dùng rộng rãi, nhất là ở trong nước, và nếu ghét người xử dụng các từ này thì chẳng lẽ ghét…cả nước? Ghét người thì…ta ở với ai? Điều nghịch lý ở chỗ đấy, không biết các anh chị khác nghĩ sao?

  • Phạm Thị Thanh says:

    Rất cám ơn bài viết của anh Lê Hữu.Cách đây ít lâu tôi cũng có đươc đọc một bài viết quá khích hơn, về lối dùng tiếng Việt trong nước. Vậy đâu là …mỹ ngữ (ngôn ngữ đẹp)?

    Đây là bài viết của Chu Đậu : « Nỗi buồn tiếng Việt của người dân ở trong nước »

    http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=p%2bQy67mH1Lnfx2NCbJ6OAg%3d%3d

    Và một bài của tác giả Vô danh, xin các anh chị nào có thể khẳng định lối dùng ngôn ngữ này là thông dụng ở trong nước hay là chuyện « phịa »?

    Ngôn ngữ ” Giao hợp “

    Ngày đầu tiên về cơ quan, sếp tôi tuyên bố hùng hồn với nhân viên:
    – Đây là giai đoạn đổi mới, chúng ta cần có ý thức tiết kiệm thời gian, vận dụng từ chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu. Đặc biệt, các bản báo cáo trình lên cho tôi phải “cụ tỉ” và “cô súc”!
    Thấy mọi người ngơ ngác, hoang mang, sếp đập bàn cái rầm:
    – Thời buổi này mà kém suy luận quá, này nhé “cụ tỉ” là nói tắt của hai cụm từ cụ thể và tỉ mỉ, “cô súc” có nghĩa là cô đọng và súc tích, thế thôi.

    À, bây giờ thì mọi người đã hiểu. Ai cũng gật gù như mấy cô cậu trong đoạn quảng cáo thuốc tẩy giun. Như vậy, với sếp thì những chuyện xảy ra đã lâu, thuộc dĩ vãng quá khứ thì phải gọi là dĩ khứ.

    Rồi một hôm được phân công đi giao lưu với đơn vị bạn thì chúng tôi thật sự kinh hoàng khi nghe sếp lệnh:

    – Các cô cậu đi “giao hợp” với người ta thật chặt chẽ vào, bên cạnh đó cũng phải điều kinh cho tốt.

    Một số chị em đỏ mặt lí nhí hỏi lại liền bị sếp quát:

    – Cấm nghĩ bậy! Tôi muốn nói ngắn gọn là “giao hợp” là giao lưu và hợp tác, nó cũng tương tự như “giao phối” thôi, còn “điều kinh” là điều tra kinh nghiệm làm ăn của họ. Không lo làm ăn, toàn lo nghĩ bậy!

    Phải thú nhận là một thời gian khá dài chúng tôi mới quen cách dùng từ quái chiêu của sếp, cũng nhờ chịu khó cùng nhau suy luận mà chúng tôi đỡ phải khốn khổ. Ví dụ, một lần đi cơ sở, sếp bảo chúng tôi cố gắng
    “phát tài để đầu lâu”, cả công ty xúm vào suy luận mới hiểu ý sếp muốn rằng chúng tôi cố gắng phát hiện tài năng để có hướng đầu tư lâu dài.
    Rõ khổ!

    Với nguy cơ dịch tả vẫn đang phát, cho đến nay trong cơ quan tôi chưa có ai phải nhập viện vì bệnh ấy nên sếp có lời khen chúng tôi đã “động phòng” rất tốt. Đã nhiều lần “đúc kinh”, chúng tôi hiểu ngay rằng đấy là sếp khen tập thể nhân viên trong cơ quan đã biết “chủ động phòng tránh” dịch rất tốt.

    Năm sắp hết, Tết sắp đến rồi. Tết này dẫn theo các nhóc đến thăm sếp để chúc Tết, chắc tôi cũng phải có một chút “sáng tạo ngôn ngữ” khi giới thiệu với sếp rằng các con tôi đứa nào cũng “ngoan cố”. Thế nào chúng nó cũng được sếp lì xì vì ngoan ngoãn và cố gắng!

    ________________________________________

  • Lê Hữu says:

    Xin cám ơn chị Bao Tự đã cho những ý kiến rất chân tình!
    Đề tài về “ngôn ngữ” không mới thưa chị, từng có nhiều vị lên tiếng trước đây, tôi chỉ mạo muội góp thêm chút tiếng nói về phần mình, và tôi không cho là “việc to tát” gì như chị nghĩ.
    Thưa chị, trong bài tôi không hề có ý “chê trách các cháu không lo trau dồi tiếng ‘mẹ đẻ’”, mà chỉ trình bày một thực trạng. Và tôi cũng có nói thêm là “chuyện giới trẻ người Mỹ gốc Việt sử dụng tiếng bản xứ là ngôn ngữ chính cũng là điều tự nhiên và dễ hiểu…”
    Những chữ “từ cũ”, “từ cổ”, chỉ là cách nói vui, có hơi cường điệu một chút. Tương tự, những chữ đặt trong ngoặc kép như “tử thủ”, “người lính già” (không có lính tráng gì ở đây cả)… cũng là cách nói vui thôi (rải rác đôi ba chỗ trong bài). Trong đoạn này, ý tôi chỉ là: những từ ngữ nào ít được sử dụng sẽ lần lần mai một đi, như một quy luật tự nhiên về ngôn ngữ.
    Tính tôi vốn thích cái gì vui vui; tuy nhiên, nếu cách nói vui ấy có làm chị hoặc những vị khác hiểu lầm thì hoàn toàn do lỗi nơi tôi, xin được “rút kinh nghiệm”.
    Về những góp ý khác của chị, xin được lĩnh ý.
    Chị Bao Tự quá khiêm tốn, những đóng góp ý kiến của chị rất quý. Tôi từng được học hỏi nhiều nơi các vị nữ lưu, nên xin phép không “nhất trí” với chị là “chuyện triều đình to tát, quan trọng xin dành cho quý ông”.
    Lê Hữu

  • Bao Tự says:

    Thưa ông Lê Hữu,

    Tôi không hoan nghênh, không khen ông hết lời không phải vì không nhận ra thiện chí cũng như việc to tát ông đang làm, giản dị chỉ vì tránh cái việc vô duyên khen phò mã tốt áo. Những suy nghĩ tủn mủn, vụn vặt sau đây chỉ là những suy nghĩ của một người tầm thường trước rất nhiều vấn đề được ông nói đến trong bài viết.

    Việc các em, cháu sinh ra, lớn lên ở hải ngoại nói tiếng Việt lơ lớ ngọng nghịu, chữ nghĩa ngô nghê, hay không thoải mái khi nói tiếng Việt của cô gái trong cuộc thi hoa hậu kia là điều tự nhiên, không có gì phải xấu hổ. Nếu các cháu đi học cuối tuần ở các trường Việt ngữ mà nói được một câu: “Xin vui lòng để lại lời nhắn của bạn sau tiếng ‘beep'” thay vì phải đơn giản, sáng sủa và dễ hiểu như: “Xin vui lòng nhắn lại sau tiếng ‘beep'” đã đáng khích lệ lắm rồi. Phần đông các cháu không xuất sắc để có thể hiểu hai nền văn hóa cũng như thông thạo hai, ba ngôn ngữ như các đàn anh/chị, những người chủ trương hay cộng tác trong các trang mạng tiếng Việt ở nước ngoài như Talawas, Tiền Vệ, Da Màu, Đàn Chim Việt v.v…Phần khác cũng do phụ huynh chỉ khuyên con em hãy ‘tắm trong dòng sông mình đang đứng’ đã, hay hội nhập để tồn tại. Có bất công không khi chê trách các cháu không lo trau dồi tiếng ‘mẹ đẻ’ để chẳng dùng vào việc gì?

    Đi xa hơn một chút để nói đến tiếng Việt cũ, mới. Phải chăng tất cả người dân trong nước nay đã nói tiếng Việt “mới” , hay có nơi dùng cả hai? Tôi e rằng họ nói tiếng Việt của họ, dĩ nhiên không loại trừ ảnh hưởng của báo, đài, hay các cuộc học tập. Phải chăng những người có tuổi, ở miền Nam trước kia vô tư, thoải mái với tiếng Việt “mới” hay là cũng như những người không hút thuốc lá, sợ mùi thuốc lá mà vẫn phải ngồi chịu trận, thở ra hít vào cái mùi quái ác kia giữa đám nghiền?

    Việc ông nói đến thói tật “nói chữ” ở hải ngoại vì mặc cảm như đi làm ở trường học, nhà hàng, bệnh viện… là có, nhưng không phải tất cả. Không mắc mớ gì phải kê khai lý lịch chỉ vì vài câu hỏi xã giao. Dù là bạn sơ giao cũng chẳng cần phải nói rõ đi chùi cầu tiêu, rửa chén, thu gom rác. Việc đó đã có chỗ dùng khi đi xin việc. Mà có phải chỉ là tật của người Việt hải ngoại? Tôi cho rằng đây là “văn hóa Việt” .
    Giả sử tôi và ông tình cờ ngồi gần nhau trong một chuyến bay, biết mình là người Việt, sau những câu hỏi ‘thăm dò’: Ông ở đâu, thành phố, tiểu bang nào, sang Mỹ bao lâu… đến khi ‘bạo dạn’ hỏi ông làm gì, được ông cho biết: ‘viết lách lăng nhăng’… Câu trả lời này cũng chứa nhiều ý nghĩa, mục đích, chẳng hạn vì khiêm nhượng thật hay vì gợi ý tò mò để tôi hỏi tới và khi biết ông là người nghiên cứu ngôn ngữ thì thật hân hạnh và câu chuyện lại nổ như bắp rang. Nó cũng còn có nghĩa “chặn” trước để khi tôi biết được ông cũng chỉ là người viết lách lăng nhăng thật chứ chả phải nhà nọ, nhà kia, nhưng ít ra cũng làm ông đỡ ngượng.
    Những câu nói tránh né kia có thể chấp nhận được vì chẳng lươn lẹo gì, cũng chẳng gây hại cho ai.

    Ngôn ngữ là sản phẩm của xã hội cũng như những sản phẩm khác như thức ăn, đồ dùng… xử dụng hay từ chối hoặc chê bai là chuyện thường chẳng có gì là kỳ thị. Đồ ăn VN như tôm cá dư chất kháng sinh, đồ chơi cho trẻ em của TQ nhiễm độc chì, người tiêu dùng tẩy chay, lên án là đúng, không phải là kỳ thị.
    Không thích, không ưa một chế độ xã hội nào đó, không muốn dùng sản phẩm của xã hội ấy cũng là chuyện thường.

    Tôi không thích nói: “điều hoà kinh nguyệt” thay cho phá thai, “quan hệ nam nữ không trong sáng” thay cho gian dâm, ngoại tình. Tôi không a dua cùng báo, đài nhà nước mô tả chuyện hối lộ mà phải nói tránh đi là “quà cáp trên mức tình cảm”. Tôi từ chối không dùng ngôn ngữ của nhà nước CS: “lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá CM, nhân dân” đối với những người dân chỉ vì “kiến nghị”, góp ý với chính quyền. Tôi thấy nhục khi không nói rõ Hải Quân TQ bắn giết, cướp đoạt tài sản của ngư phủ VN bằng ngôn ngữ Việt “mới” tàu lạ, nước lạ… Đó chẳng phải là tiếng Việt cũ, mới gì cả mà là thứ ngôn ngữ lừa phỉnh, giả mạo, chạy tội và đầy mặc cảm.

    Nếu “nâng quan điểm” không ưa, không thích một vài sản phẩm nào đó thành kỳ thị thì có lẽ mấy nhà phê bình phải bỏ nghề trước tiên. Chẳng phải là khi cho ý kiến về một cuốn sách, một tác phẩm nghệ thuật nào đó đã chẳng hàm ý chê khen, mặc dù khéo léo gợi ý: “độc giả xem qua rồi quên đi” hay “bạn nên có quyển sách này trong tủ sách gia đình”.
    Không chừng những “kiến nghị” tôi gửi đến ông đây, nếu ông và độc giả phản bác dữ quá thì coi chừng bị ghép vào tội kỳ thị.

    Ông Lê Hữu có bi quan quá hay là thiếu khách quan khi cho rằng tiếng Việt “cũ”, người miền Nam dùng trước 1975 rồi ra may mắn lắm chỉ còn trong tự điển với những lời chú thích “từ cũ” hay “từ cổ”. Có lẽ 20 năm văn học miền Nam sẽ chẳng còn dấu vết gì qua đại nạn “thư phần”. Điều này để độc giả tự trả lời. Không “người lính già” nào cần “tử thủ” tiếng Việt “cũ” để được tiếng là “can trường trong chiến bại”. Họ chỉ không lo “bò trắng răng” như ông thôi.

    Nghị quyết 36 của đảng CSVN muốn đưa người ra hải ngoại dạy dỗ con em chúng tôi chưa biết thành ý của họ ra sao, tôi cũng chưa thấy động tĩnh gì. Vì “nghĩa lớn”, xin ông giúp một tay xem sao?

    Những điều tủn mủn, vụn vặt, thậm chí “xuyên tạc” ý ông, thiện chí của ông đây, tôi cho là những viên gạch xấu, mẻ hồ chưa trộn kỹ nếu tránh, bỏ được thì tốt cho cả độ bền lẫn vẻ thẩm mỹ của “tòa lâu đài ngôn ngữ” ông đang xây.

    Việc vá trời cần bà Nữ Oa, (chúng) tôi xin làm phận gái góa, chuyện triều đình to tát, quan trọng xin dành cho quý ông.

    Trân trọng.

  • My Khanh says:

    Bài viết rất công phu, rất hay. Cám ơn sự đóng góp của tác giả.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)