Trang chính » Biên Khảo, Da Màu và Bạn, Nhận Định Email bài này

ngày xuân, đọc thơ trần mộng tú

3 bình luận ♦ 17.02.2010

 

 

 

clip_image002

(Holiday heart lights, James Jordan)

 

 

Tôi thắp lòng tôi bông hoa nến
gửi người một đóa tháng Giêng xuân
(“Bão gió tháng Giêng”, Trần Mộng Tú)

 Rời thư viện thành phố với tập thơ trên tay, tôi ghé vào quán nước quen. Người bạn chờ sẵn nơi đó, bên chiếc bàn nhỏ ở một góc khuất. Chúng tôi có cái hẹn để đi đến một nơi khác, gặp những người bạn khác. “Sách gì vậy?” anh ta hỏi khi tôi vừa ngồi xuống. “Thơ,” tôi trả lời. “Thơ? Ở đâu ra vậy?” người bạn hỏi tiếp, giọng ngạc nhiên, làm như… chưa từng nghe nói đến “thơ” bao giờ vậy. “Ở trong thư viện,” tôi nói. Xem chừng anh ta vẫn chưa hiểu rõ lắm, tôi bèn phải kể sơ qua cuộc hội luận về sinh hoạt chữ nghĩa của những người Việt cầm bút ở hải ngoại–trong số có tác giả tập thơ–gọi là “Chiều Văn Chương Việt Nam” tại Seattle Central Library.

Người bạn lật lật qua ít trang thơ, ngừng ở một trang, đọc ít câu thơ, mỉm cười. Xong, đẩy bài thơ về phía tôi. Tôi cúi xuống, đọc, mỉm cười.

 Hãy ngừng lại để cho em thở
thở một hơi dài
rồi tiếp tục yêu… (Work Zone Ahead / Give ‘Em a Break)

Câu thơ ấy, bài thơ ấy, nằm trong tập thơ Trần Mộng Tú, Ngọn nến muộn màng.

Ngừng lại cho em thở cái đã (anh làm em ngộp thở mất!), rồi hãy tiếp tục yêu. Tình yêu trong thơ Trần Mộng Tú hối hả, cuồng nhiệt đến vậy sao? Thực ra, đây chỉ là lối “chơi chữ” (chữ “them” tiếng Mỹ viết tắt tựa như chữ “em” tiếng Việt), chỉ là một chút đùa nghịch với chữ nghĩa, đùa nghịch với thơ, vẫn thấy trong thơ chị. Một bài thơ khác, cũng với lối “đùa nghịch” như vậy:

Ông Trời hôn lên trái cam
đặt tên cho trái cam là Sunkist
Anh hôn em
anh gọi tên em là Tình Yêu…
(Trái Cam Và Tình Yêu)

Dạo sau này tôi ít có đọc thơ và cũng ít đọc trọn tập thơ nào. Dường như những bài thơ hay ngày càng ít đi. Tôi cũng ít bận tâm chuyện thơ mới thơ cũ, thơ thanh thơ tục. Chỉ có thơ hay hoặc không hay. Một bài thơ hay không bao giờ cũ, như cái đẹp còn ở lại mãi với ta.

Thường, tôi đọc thơ rất chậm. Thơ không thể nào đọc nhanh được, tôi cho là vậy. Thơ không thể đọc vội vã, gấp gáp, đọc lướt qua như đọc các mẩu tin chính trong tờ báo hàng ngày. Thật khó mà đọc thơ và thưởng thức thơ theo lối ấy! Tôi nghĩ những người làm thơ chắc cũng không ai muốn thơ mình được đọc theo lối ấy. Tôi cũng không thể đọc một lúc, đọc liền một mạch suốt tập thơ. Tôi đọc mỗi ngày một ít, có ngày một, hai bài thơ, có ngày chỉ… vài câu thơ. Tôi đọc như là “nhấm nháp” thơ, như là nhấm nháp từng ngụm trà, từng ngụm café, từng mẩu bánh…, để kéo dài thêm ra cái thú thưởng thức thơ thật chậm rãi, thật từ tốn. Thơ đọc theo cách ấy có vẻ dễ “ngấm” hơn, có vẻ “ngon” hơn, và có vẻ… “thơ” hơn. Ðọc thơ, tôi cũng không đọc thầm. Tôi đọc thành tiếng, khe khẽ. Tôi nghe “tiếng thơ”. Tôi “đọc” thơ và “nghe” thơ.

Tôi gần như đã đọc thơ Trần Mộng Tú theo cách ấy.

Tình yêu, những khuôn mặt

“Nhà thơ của tình yêu”, nhiều người vẫn quen gọi Trần Mộng Tú như thế. Tôi nghĩ có đúng, nhưng chưa đủ. Cách gọi ấy không nói được gì nhiều về thơ chị, và cũng không làm người ta dễ dàng “nhận” ra chị trong số khá đông những “nhà thơ của tình yêu”. Trần Mộng Tú không chỉ viết về tình yêu, chị viết về cuộc sống muôn màu muôn vẻ, trong đó có tình yêu, và tình yêu trong thơ chị cũng… muôn màu muôn vẻ. Thơ chị vẽ ra những khuôn mặt khác nhau của tình yêu; có điều, dẫu là khuôn mặt nào, người ta vẫn nhận ra thơ Trần Mộng Tú, vẫn nghe ra lời mời gọi thật quyến rũ của tình yêu.

Có khi thật sôi nổi, thật nồng nàn như tình đầu, như “một thời để yêu…”

Sợi tóc mỏng của một thời mơ mộng
của một thời tình lạc giữa chiêm bao
của một thời xô vỡ cả trăng sao
biển căng ngực và núi rền tiếng th
ở… (Sợi Tóc)

Có khi thật đằm thắm, thật dịu dàng như tình cuối, như “một lần là trăm năm…”:

Cho em hôn lên những sợi tóc bạc của anh
để em đổi trăm năm cho một ngày hạnh phúc…
(Thornbird)

Có khi thật háo hức, thật giục giã, như “yêu nhau đi, chiều hôm tối rồi”, như phải gấp gáp, phải vội vàng lên để mà chạy đua với chiếc kim thời khắc của tình yêu:

Hãy yêu nhau ngay bây giờ
đừng đợi ngày mai
vuốt tóc trắng rồi ước gì ta trẻ lại … Yêu đi anh!
nụ hôn em còn nồng
ly rượu còn đầy
mặt trời còn đỏ… (Rượu Còn Đầy, Mặt Trời Còn Đỏ) 

 Tình mong manh như giọt sương mai trên cành lá biếc:

Ôi tình yêu như giọt sương buổi sáng
làm sao em giữ được đến buổi chiều… (Thời Gian Và Tình Yêu), hoặc

Anh đến như buổi sáng
mang theo giọt bình minh
giọt rơi trên phiến lá
giọt rơi xuống truyện tình… (Câu Hỏi) 

Tình bâng khuâng như nỗi nhớ, tình xa xăm như tiếng vọng:

Tôi xa người như xa mùa xuân
ngực tôi còn đọng chút hương trầm
Mảnh trời trong mắt còn xanh biếc
người đã mơ hồ như vọng âm

Tôi xa người như xa cơn mưa
tóc tôi còn ướt đến bây giờ
Nhớ tôi người có châm điếu thuốc
nhớ tôi người có đi trong mưa
… (Cả Một Dòng Sông Ðứng Lại Chờ) 

Người là mùa xuân hay người là cơn mưa? Nhớ người hay nhớ hơi thuốc ấm? Nhớ người hay nhớ những cơn mưa? Mưa rơi ngoài trời hay mưa trong lòng người? Giọt mưa rơi hay giọt nước mắt rơi?…  

Tình ngất ngây, bàng hoàng, hay tình là nỗi xót xa:

Em đứng nghiêng cho anh nhìn sóng lượn
đêm mầu xanh hay biển tóc em xanh… 

Em cúi xuống cho anh hôn lên gáy
kỷ niệm gầy như những chiếc xương vai… (Ngọn Nến Muộn Màng) 

Tôi yêu những cái “như”, những lối ví von đầy hình tượng như thế trong thơ Trần Mộng Tú. “Gầy như những chiếc xương vai”; “gầy như nhánh cúc”; “hiền như hoa cúc” (Tháng Mười Hoa Cúc); “hiền như một miếng khoai” (Ðiểm Tâm); “mềm như tuyết mỏng” (Trái Ðất Không Nghe Em); “trong như ly nước lọc” (Ðiểm Tâm)… “Gầy” như không thể nào gầy hơn; “hiền” như không thể nào hiền bằng; “mềm” như vậy là mềm quá chừng; “trong” như thế là trong quá sức…

Tình là nỗi tiếc nuối, là những mùa xuân phai:

Em ngồi xuống đêm không còn trẻ nữa
cánh chim bay tha hết cọng thời gian
Trên vai anh em gửi đời cát lở
tình thắp cho em ngọn nến muộn màng…

Vì sao lại muộn màng? Vì sao là tình muộn? Vì đêm vui đã tàn, vì ngày vui qua mau, vì cánh chim đã bay mất? Thời gian như vết chim bay.

Nỗi muộn màng của người bắt hụt chuyến tàu. Hình ảnh con tầu và sân ga thường vẽ ra cảnh tượng buồn bã của một cuộc chia tay. Chia tay với con tầu, hay chia tay với sân ga, cũng là chia tay với một mối tình. Mối tình nào, tiếng còi tầu nào còn đeo đuổi nhà thơ mãi đến tận bây giờ …

Nói cho anh chuyến tầu nào em lỡ
sân ga nào còn giữ lệ em rơi… (Ngọn Nến Muộn Màng)

Ngọn nến mong manh như tình yêu thật mong manh. Ánh nến lung linh, chập chờn tựa như hạnh phúc vừa có thật lại vừa không có thật. Những ngọn nến nào đã được thắp sáng hay thổi tắt? Những ngọn nến của hy vọng và tuyệt vọng.

Những ngọn nến đứng lặng câm hay chỉ thoáng lay động, như tình yêu thầm lặng, như nỗi buồn dấu kín. Buồn nào hơn những giọt lệ nến chảy thầm trong đêm. Buồn nào hơn những ngọn nến “khóc lẻ loi một mình”: 

Em vẫn khóc một mình
dấu quanh những giọt lệ
dưới những ngón tay gầy
chàng biết đâu chia sẻ… (Trái Ðất Không Nghe Em)

Những ngọn nến mang vẻ đẹp huyền ảo tựa hồ những bông hoa hạnh phúc mà ta chỉ có thể ngắm nhìn từ xa chứ không sao lại gần được.

Trong những trang thơ Trần Mộng Tú, ta còn gặp những ngọn nến khác, những ngọn nến rưng rưng của nhớ thương, tưởng tiếc. Những ngọn nến ấy bao giờ cũng thắp lên trong nỗi muộn màng cho những người còn sống và cho những người đã khuất, đã từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác. Những ngọn nến hắt hiu, leo lét. Những ngọn nến như có một linh hồn.

Nỗi buồn trong tình yêu và trong thơ Trần Mộng Tú không sướt mướt, không sầu thảm, chỉ rưng rưng như những hàng nến trắng rưng rưng.

Thơ tỏ tình với cuộc sống

Thơ Trần Mộng Tú còn gợi cho tôi điều gì khác. Ðó là những chuyến xe bus buổi sáng dẫn tôi vào thành phố, đến trường học, đến sở làm. Ðó là những chuyến xe bus buổi chiều đưa tôi ra khỏi thành phố, về lại nhà hay đi đến một nơi nào đó. Những chuyến bus của những năm đầu định cư tại thành phố có lắm xe bus này. Trên những chuyến xe bus đi và về ấy, trong lúc lơ đãng đưa mắt lướt qua những tranh ảnh vui mắt, những hàng chữ quảng cáo sản phẩm đủ loại dọc hai bên lòng xe, có đôi lúc tôi gặp… thơ. Thường là những bài thơ ngăn ngắn, có khi rất ngắn, chỉ vài ba câu. Thơ về mọi đề tài, mọi sinh hoạt của đời sống. Thơ của những tác giả quen tên hoặc không tên tuổi, và cả những vần thơ thật trong sáng, thật hồn nhiên của một cô học trò nhỏ… Thật thú vị khi “bắt” được một bài thơ hay, một câu thơ hay. Ðọc thơ trên xe bus thấy rõ thơ toát ra từ cuộc sống, thấy cuộc sống mỗi ngày ở quanh ta đầy chất thơ. Cuộc sống như trở nên dễ chịu hơn, thi vị hơn, và tất nhiên, cũng đẹp thêm lên một chút.

Ðọc Trần Mộng Tú dễ có cảm giác tương tự. Ở đâu cũng ra thơ, ở đâu cũng là thơ.

Bây giờ là tháng Mười
em như hoa cúc nhỏ
Sao anh không là gió
thổi mùa thu vào em… (Tháng Mười Hoa Cúc), hoặc

Anh không là chiếc lá
sao hiểu được mùa thu
Anh không là ngọn núi
sao hiểu được sương mù… (Thu Khúc), hoặc

Tôi co mình trong gió
đứng lên ngó gầm cầu
ôm trái tim homeless
không biết đi về đâu… (Chim Bồ Câu Và Trái Tim Homeless), hoặc

Khi chúng tôi gặp nhau
chàng cúi xuống hôn tôi
cả hai cùng khóc
nước mắt chàng nhuộm vàng

thân thể tôi
tôi bật gọi tên chàng
Trăng ơi!… (Gọi Tên)

Nhiều lắm, những câu thơ như thế, những câu thơ tỏ tình với cuộc sống. Theo chân Trần Mộng Tú, bước xuống cuộc đời, ta gặp thơ mỗi ngày. Thơ ở cạnh ta, ở trong mỗi con người mỗi sự vật, ở trong những sinh hoạt thường ngày. Thơ quanh quẩn đâu đây, thơ không ở đâu xa. Thơ sẵn đâu đó, tưởng cứ xòe tay ra là nắm bắt được thơ ngay, tưởng có thể chia nhau mỗi người một mẩu thơ. Mỗi người đến và đi đều có mang thơ theo.

Anh có miếng thơ nào
dấu ở trong túi áo
hãy lấy bỏ ra đây
bẻ cho em một mẩu… (Miếng Thơ)

Thơ ở cùng khắp, mọi nơi, mọi lúc. Thơ ở trong nhà, thơ ra ngoài vườn:

Ôi khu vườn tuổi nhỏ
nắng thơm như nụ hôn
những chùm hoa trứng cá
nở trắng một góc hồn… (Dấu Chân Vườn Cũ)

Thơ ngoài đường phố, thơ trên xa lộ:

Những vệt phấn mơ hồ trên xa lộ
mỗi ngã ra là một ngã phân vân… (Thơ Trên Xa Lộ)

Thơ từ núi đồi thơ ra sông biển. Thơ đến từ thời tiết, mùa màng. Thơ đến từ những cơn mưa, cơn bão rớt thổi về thành phố.

Trời cuối năm bão ghé vào thành phố
tôi cuối năm buồn ghé nỗi tôi thầm… (Trời Cuối Năm Ở Issaquah)

Thơ gần gũi, kề cận. Thơ len cả vào… phòng tắm:

Nước chảy trên hai bờ vai nhỏ
nghe mòn quá khứ dưới làn da… (Ngày Ðã Qua Biền Biệt)

Thơ rón rén đi vào phòng ngủ:

Buổi sáng
thức dậy chàng hỏi
em ngủ ngon không
anh ngáy to quá
họ lăn vào nhau
con chim hót ngoài cửa sổ
ngày bắt đầu… (Cũng Có Hôm Như Thế)

Thơ nhẹ nhàng đến bên giường bệnh:

Thôi thì là một giọt sương
chiều tan sáng đọng chẳng vương bận gì… (Thơ Và Bệnh)

Trần Mộng Tú không “làm thơ”, làm như thơ sẵn đâu đó từ trong máu trong tim chị, làm như mạch thơ chị lúc nào cũng lai láng, tứ thơ chị lúc nào cũng dạt dào. “Tôi không làm thơ, thơ làm tôi”, nói như chị. Dòng thi hứng trong chị bắt nguồn từ bất kỳ một cảm xúc, một rung động, một câu chuyện, một đề tài nào. Thơ từ những đồ vật, sự vật tầm thường: một đôi giày cũ, một viên gạch vỡ, một tấm bảng chỉ đường, một đàn bò, một cánh đồng cỏ non, một chuyến bay, một bữa điểm tâm, một buổi làm vườn, một chiếc lá thu, một cành thông gãy, một người mù qua đường, một cây đàn cũ kỹ ai đó bỏ quên nơi góc phố… vân vân và vân vân. Những giác quan của người thơ thật tinh tế, thật bén nhạy.

Những vật nhỏ nhoi, những chuyện thường ngày, nhưng rất sống, rất thực, vì đấy là cuộc sống. Thơ như nhịp đập của trái tim, như hơi thở của cuộc sống. Thơ Trần Mộng Tú, vì thế, đầy sức sống.

Lời tỏ tình của bông cúc vàng

Hồn em giờ rất lạ
một chiếc bình đầy anh
(Hồn Em Giờ Rất Lạ)

Chiếc bình chứa ấy cũng rót ra những câu thơ “rất lạ”. Thơ Trần Mộng Tú lúc nào cũng mới, dường như chị không thích sự lập lại và luôn muốn khám phá, muốn tìm kiếm những đổi thay. Trần Mộng Tú là vậy, phía sau sự bình dị của đời thường là những nhạy bén trong sáng tạo chữ nghĩa và ý tưởng. Những sáng tạo đôi lúc ánh lên một vẻ tinh nghịch.

Tôi nhớ bắt đầu làm quen với thơ chị khi “bắt” được những câu lục bát trên trang báo nào.

Tôi vào chùa, thắp nén nhang
Phật ngồi yên lặng, liễu bàng hoàng xanh

Tôi vào chùa, tâm phân vân
tiếng chuông vỡ giữa thực, không đôi bờ… (Thực, Không Ðôi Bờ)

Những câu thơ đọc lên nghe “bàng hoàng”, nghe như có âm vang “tiếng chuông” ngân nga trong đầu… Những câu lục bát thật bất ngờ, thật thú vị như thế có thể tìm thấy rải rác đâu đó trong những trang thơ Trần Mộng Tú.  

Em đi đuôi mắt ngậm ngùi
rừng phân ưu đứng, lá ngồi tịnh tâm

Em đi sông gọi tiếng thầm
lục bình chia nhánh, đá trầm mình đau 

 Em đi trời xuống thật sâu
mây chia trong tóc, gió nhầu trên vai… (Xóa Bình Minh)

Tôi chưa nghe ai nói thế bao giờ, “mây chia trong tóc, gió nhầu trên vai”. Không riêng gì lục bát, nguồn thi hứng với ngôn ngữ thơ rất “mới” ấy còn chảy tới những dòng thơ nào khác nữa. Thơ ngũ ngôn chẳng hạn, vừa lạ, vừa rất… Trần Mộng Tú: 

ai có cầm chai rượu
xin rót hộ vào đêm
những giọt mưa say khướt… (Thèm Khóc Như Thèm Mưa), hoặc

Anh trốn vào trong em
len qua từng tĩnh mạch
theo máu ghé vào tim
em, chao đi một nhịp

 Cái nhịp “chao đi” ấy là gì, nếu không phải là nhịp đập cuống quýt của tình yêu. Chưa hết:

 Anh hòa tan trong máu
như suối chia muôn nơi
dòng nào lạc qua phổi
cho em thở bồi hồi… (Hồn Em Giờ Rất Lạ)

Nhịp thở “bồi hồi” ấy là gì, nếu không phải là hơi thở rạo rực của tình yêu. Vẫn chưa hết:

Anh ném vào lò sưởi
những viên hạt dẻ tròn
trái tim em nhóm lửa
mùa đông bén trong hồn

 Hai bàn tay em đỏ
môi em hương nhựa thông
cổ em thơm mùi khói
cánh tay em củi trầm… (Mùa Ðông)

Thơ Trần Mộng Tú bao gồm mọi thể loại, mọi đề tài, tựa như chị muốn ôm hết cuộc sống vào lòng vậy. Ở bất kỳ thể thơ nào, những người yêu thơ chị cũng nhận ra được chất thơ Trần Mộng Tú, cũng nhận ra được cái mới, cái lạ, cái đẹp trong thơ chị.

Vườn tôi gầy quá hoa không nở
tóc người thức giấc giữa đêm xuân
bão gió thổi trăng không rằm nữanghiêng tai nghe lá gọi chỗ nằm… (Bão Gió Tháng Giêng), hoặc

Em dấu em ở trong hạt gạo
nằm rất ngoan giữa những chân nhang
đợi tiếng giầy anh chạm bực cửa
về chia nhau một thế kỷ tàn… (Nhìn Nhau Rất Xa)

Những cách định nghĩa tình yêu còn “lạ” hơn nữa.

Ngực em chỉ là căn nhà cho mướn
tình yêu là khách trọ của trái tim… (Ðừng Hỏi Em), hoặc

 Tình yêu như vết bớt trên lưng… (Thế Kỷ), hoặc

Tình như chăn hẹp không vừa ấm tôi… (Mưa Seattle)

clip_image004

Sau hết, đọc lại một lần nữa, một đoạn trong “bài thơ hoa cúc”, hay bài “thơ tình tháng Mười” ấy, để thấy được, để nghe ra cái hương vị ngọt ngào, cái dịu dàng đầy nữ tính xen lẫn chút mơ mộng của tình yêu trong thơ Trần Mộng Tú, và để nghe tiếng thơ chị như lời thì thầm, như lời tỏ tình thầm kín của… bông cúc vàng.

 Bây giờ là tháng Mười
em hiền như hoa cúc
Sao anh không là đất
cho em ngả vào lòng

 Bây giờ là tháng Mười
em gầy như nhánh cúc
Sao anh không là mưa
cúi hôn từng cánh lá

 Bây giờ là tháng Mười
em mong manh như cúc
Sao anh không là nắng
ôm em ấm một ngày… (Tháng Mười Hoa Cúc)

* * *

Tôi nhớ, buổi chiều ở thư viện, buổi chiều hội luận về thơ, văn, về sinh hoạt văn học nghệ thuật của người Việt ở hải ngoại với những dãy ghế chật kín người. Những sinh hoạt như thế không có nhiều ở thành phố này. Khởi đầu là giới thiệu tác giả tác phẩm, rồi những chia sẻ kinh nghiệm viết văn, những trao đổi ý kiến, những tranh luận, đôi lúc khá sôi nổi… Cho đến một lúc, người ta nghe giọng đọc thơ dịu dàng của Trần Mộng Tú cất lên, và rồi tất cả bỗng dưng lắng xuống. Và không gian, thời gian như đọng lại. “Chiều Văn Chương Việt Nam” bắt đầu từ đó.

Tôi nhớ, không khí lúc ấy yên lặng quá. Không còn thứ tiếng động nào khác ngoài “tiếng thơ” ấy. Mọi người đã tạm ngưng những câu chuyện, chăm chú lắng nghe thơ. Tôi cũng chăm chú lắng nghe thơ. Thơ nói về những ngọn nến, về những ngọn lửa nhỏ được thắp lên đâu đó trong tình yêu, trong cuộc sống. Chỉ là những ngọn nến, chỉ là những ngọn lửa nhỏ thôi, nhưng cũng đủ tỏa ra chút ánh sáng, tỏa ra chút hơi ấm của tình người, và cuộc sống nhờ vậy vẫn còn đáng yêu, đáng sống. Ngọn lửa nhỏ đã cháy lên, những câu thơ đã cháy lên. Mọi người dường như đã quên hết mọi chuyện, quên cả buổi chiều đang trôi qua chầm chậm bên ngoài… Chỉ còn lại thơ và thơ. Thật kỳ lạ, thơ như đem lại cảm giác ấm áp và dễ chịu, như đem mọi người lại gần với nhau, trong một không gian rất “thơ”.

Trần Mộng Tú, chị đã lấy “miếng thơ” nào “dấu ở trong túi áo” ra, và bẻ ra, chia cho mỗi người một mẩu. Bằng những mẩu thơ ấy, và bằng giọng đọc thong thả, dịu dàng ấy, chị cũng đã thắp lên ngọn nến lung linh cho buổi “chiều văn chương” của người Việt.

Những ngọn nến ở trong thơ sau cùng đã được thắp lên và tỏa sáng. Những ngọn nến mang đến tin vui.

 Tôi thắp lòng tôi bông hoa nến
gửi người một đóa tháng Giêng xuân

Lê Hữu

* Thơ trong bài trích từ các thi tập “Ngọn nến muộn màng” (Thư Hương xuất bản, 2005) và “Thơ tuyển bốn mươi năm” (Tác giả xuất bản, 2009) của Trần Mộng Tú

bài đã đăng của Lê Hữu


3 Bình luận »

  • Lương Thư Trung says:

    Kính chào BBT/Da Màu,
    Nhơn đọc bài viết này của ông Lê Hữu bàn về “tình yêu và cuộc sống” qua thơ của thi sĩ Trần Mộng Tú, có nhắc đến “Lời tỏ tình của hoa cúc”, tôi xin mạo muội copy bài viết dưới đây, cũng bàn về hoa cúc của một người già qua những suy tư về trới đất và con người, như một góp nhặt chút tình văn thơ trong vườn thơ ngày ba ngày Tết.
    Trân trọng.
    ——————————-

    Lương Thư Trung
     
    Ba ngày Tết, đọc thơ  “Cúc Trùng Dương” của Nguyễn Hải Thệ (1)
                                                                                       
                                                                       “Ly hạ trùng dương cúc
                                                                        Chi đầu thục khí oanh”
                                                                                           Thiền sư Viên Chiếu
                                                                        “Cúc trùng dương dưới dậu,
                                                                          Oanh thục khí đầu cành”
                                                                                               Lê Mạnh Thát dịch(*)
                                              
     
    Nguyễn Hải Thệ còn có bút hiệu Ngy Do Thái và “Cúc Trùng Dương” là thi phẩm thứ hai của anh, sau tập “Ảo ảnh”. “Trùng dương” còn được gọi là “trùng cửu”, một điển tích khác. Đó là “ngày mùng chin tháng chin âm lịch (số chin là số dương, nên “trùng cửu” còn gọi là “trung dương”). Tục truyền, “Hoàn Cảnh, người huyện Nhữ Nam, đời Hậu Hán (25-220) theo học với Phí Trường Phòng. Ngày kia Phí Trường Phòng nói với Hoàn Cảnh : Ngày mùng chin tháng chín tới đây, nhà của ngươi phải tai nạn. Ngày đó ngươi nên đem cả nhà, tay đeo túi đỏ đựng hột thù du ( một thứ tiêu) lánh lên núi, uống rượu bông cúc đến tối mới về, họa may có thể tránh khỏi. Hoàn Cảnh nghe lời làm y theo. Tối trở về thấy gà vịt trâu chó trong nhà đều chết hết. Vì tích trên, nên đến tiết trùng cửu, người ta bỏ nhà, tạm lên núi, lánh nạn. Sau này thành thói quen. Ngày nay tiết trùng cửu dành riêng cho tao nhân mặc khách lên núi uống rượu làm thơ.”(2)
     
    Qua sự tích lên núi uống rượu bông cúc vào tiết “trùng dương”, người đọc có thể nhận ra toàn tập thơ  124 trang là những suy sư về dòng đời; dòng đời riêng của mình và dòng đời chung của tha nhân nơi này, nơi kia mà tác giả có lần bắt gặp giữa dòng sông đời trôi miên man bất tận… Còn lên núi ở đây, theo ý riêng của tác giả là lên “Núi Rồng”, tức là cái làng “Long Sơn”, Tân Châu, quê quán chôn nhau cắt rốn lúc mới chào đời và cho tới ngày nay, Tết này, tác giả tròn “thất thập”; để rồi qua bao năm dâu bể đổi dời mà vẫn sống nơi làng quê thân yêu ấy. Nhìn một cách khái quát về nơi chốn và hoàn cảnh như vậy, giúp người đọc sẽ dễ cảm thông hoàn cảnh  những vần thơ của Nguyễn Hải Thệ tuôn tràn và từ đó tâm hồn của mỗi người đọc thơ anh dễ hòa nhịp cùng dòng cảm hứng của tác giả qua mỗi câu thơ nghe như bình dị mà chan chứa bao điều suy nghĩ  thâm thúy vô cùng.
     
    Bài thơ “Cúc hoa”, tác giả ghi sáng tác vào dịp “Tết Trùng cửu, Bính Tuất 2006”, là một ví dụ điển hình về  điển tích “trùng cửu”, “trùng dương” mà chúng tôi vừa dẫn là chủ đích của tác giả :
     
    “Lành thay. Bông cúc vàng yên phận
    Phe  phẩy phơi lòng hoa cuối sân
    Gìn vàng. Giữ ngọc. Đợi trùng dương
    Niêm phong. Khép nhụy. Chờ thu tới
    Trong gió heo may đùa mát rượi
    Phất phơ hương mỏng đoá vô thường.”
     
    (Cúc hoa, trang 113)
     

     
    Vào tập, với bài thơ “Vô ngôn”, tức là “Không, Ta đâu có nói gì đâu”, tác giả cho người đọc thấy được cái nhìn của tác giả về cuộc đời, về con người, tuy không mới, cũng chỉ là “hạt cát”, nhưng câu thơ mang nặng nỗi trăn trở, băn khoăn :
     
    “Chớp mắt. Thương hồ. Người bạc tóc
    Lòng. Lao chao. Sóng đánh xô bờ
    Bạn ta. Nào. cụng chơi vài cốc
    Nhớ hột-bụi-nào-ta-kiếp-xưa?”
     
    (Vô ngôn, trang 7)
     
    Để rồi, theo mạch suy tư giữa làng cũ Long Sơn, chốn quê nhà và con rạch Cái Vừng  rì rào chảy qua làng, tác giả cho chúng ta thấy trời đất bao la, “nhật nguyệt trùng trùng”, nhưng hóa công đâu có từ nan ai trong thân phận “hạt cát” mong manh giữa biển đời “lô xô lượn sóng”:
     
    “Nhật nguyệt trùng trùng. Trong hạt cát.
    Gian nan. Sương gió. Đâu riêng ai
    Ôm mộng biển. Rừng thiêng lửa tắt
    Xuân còn. Xuân hết. Hỏi …cành mai.”
     
    (Vô ngôn, trang 9)
     
    Đôi lúc nhà thơ nhớ bạn nơi xứ xa và rồi tác giả đề thơ tặng bạn phương xa, thi nhân ngồi nơi Long Sơn mà uống trà một mình, vắng bạn, kể cũng hiu hắt tuổi già :
     
    “Chong đèn. Ngồi giữa nhà. Thò túi
    Không tiền: không rượu. Vậy thay trà.
    Bạn bây giờ ở phương trời xa
    Một mình. Một bóng ta hiu quạnh.
     
    Đã biết. Tuổi già như cánh nhạn
    Bay qua đáy suối chiều hoang vu
    Chờn vờn chiếc bóng trong sương mù
    Tàn giấc mơ hoa. Tàn mộng ảo”
     
    (….)
     
    Bạn xa. Đời vắng người tâm sự
    Sông. Núi. Mây. Trùng dương. Bạt ngàn
    Bưng chung trà. Mùi nhớ chứa chan
    Gió động. Hương hoàng lan lãng đãng…”
     
    (Trà tối, trang 10)
     
    Thơ Nguyễn Hải Thệ trong “Cúc Trùng Dương” phần lớn tác giả sáng tác vào những ngày tháng 9 âm lịch, những ngày mùa Thu hiu hắt lá vàng, rất hợp với tiết “trùng cửu”, “trùng dương” bên chung rượu vàng bông cúc. Chẳng hạn như bài thơ “Tiếng huyền cầm”, tháng 9 năm Bính Tuất (2006), là cả một cõi “hồn già nghi ngút khói hoàng hôn”:
     
    “Tuổi già. Nghĩ cũng …dở. Mà …hay
    Mắt lem nhem. tự soi không rõ mặt
    Chẳng xuân hồng. Cũng chẳng thu không.
     
    Toàn đất dày đặc. Trời hư vô
    Sắc tướng. Chân không. Đồng một thể
    Giọt sương đêm rơi im như thế
    Hồn già nghi ngút khói hoàng hôn…”
     
    (Tiếng huyền cầm, trang 120)
     
    Hoặc bài “Rượu cúc vàng”, cũng sáng tác vào tháng 9 năm Kỷ Dậu, 2005 :
    Với niềm cảm thông bằng hữu còn phiêu bạt nơi xứ người, vốn không về gặp lại nhau chẳng phải vì lòng quên cố hương  mà vì dòng đời cuốn trôi những mảnh đời xa quê vời vợi, làm cho kẻ ở và người đi lòng dặn lòng tình tri kỷ không dễ dầu phai lạt :
     
    “Thu vòi vọi. Nhạn bay đầu gậy
    Cúc trùng dương óng ả chân rào
    Mùa gió chướng. Đàn chim cánh mỏi
    Quê nhà mờ mịt . Đồng xưa đâu?
     
    Bạn nghiêng bình. dốc chiều tà vào cốc
    Rược cúc vàng long lanh bóng ai
    Ai cạn giọt buồn vàng hạnh phúc
    Đậm đà vị thống khổ bi ai?
     
    (….)
     
    Xiêm rộng tà huy bay vấn vương
    Em Tân Châu về cởi áo sương mù
    Bạn ta mấy đứa còn phiêu bạt
    Có phải đâu quên tình cố hương.”
     
    ( Rượu cúc vàng, trang 124
    Mồng 5 tháng 9, Kỷ Dậu 2005)
     
    Những chữ dùng rất khéo như “vòi vọi”, “đồng xưa”, “dốc chiều tà vào cốc”, “long lanh bóng ai”, “cố hương”, gợi cho người đọc xa xứ một thoáng nhớ về chốn cũ mà bồi hồi … Rải rác khắp 124 trang thơ, Nguyễn Hải Thệ mang đến cho người đọc một nhân sinh quan dù không lạ nhưng với cách dùng những chữ vừa khéo léo, vừa có thần hồn như vậy làm cho tứ thơ của anh rất gần với thực tế cuộc đời. Những bài thơ “Vô thường”, “Mừng tuổi sáu mươi bảy” , “Tuổi già”, “Mộng Hồ Điệp”, “Người tới: ta về”  và còn nhiều nữa những vần thơ mang mang hồn hư ảo cuộn tròn trong đời thật của kiếp nhân sinh. Như trong bài “Vô thường”, tác giả sáng tác từ những ngày xa xưa vào một đêm trăng rằm tháng 9 năm Ất Tỵ, 1965, khi có dịp dừng chân nơi phố thị Cần Thơ, với một dáng dấp của loài Quỳnh hương nào đó giữa cõi tiên và trần tục, nhưng sao nghe như chỉ còn trăng và hoa trong huyễn mộng trùng trùng :
     
    “Trăng nhìn hoa vàng và giai nhân
    Đời hoa nào mà không phai tàn?
    Mây hòa trong trăng trôi trùng trùng
    Nàng Vân hôn tay mình. Rưng rưng…”
     
    (Vô thường, trang 38)
     
     
     
    Hoặc như bài thơ “Mừng tuổi sáu mươi bảy”, giữa đêm khuya thanh vắng,  bên bình trà nóng, tác giả tự mời mình chén trà giữa cảnh “trăng sáng, trời trong, sông yên tĩnh”, kể đã là lâng lâng cái bóng “hoàng hôn cổ độ” cũng đã tới nơi bến vắng đò chiều rồi :
     
    “Chân mỏi. Thôi về trên bến đợi
    Chiều nhân gian. Tịch mịch. Thu không
    Chuyện đời. Mắt ngó. Tuồng mây nổi
    Nước mãi ngàn năm tuôn biển Đông.
     
    Ngày về . Thu bóng đời ta lại
    Chẳng nhớ quên… Ai xa núi sông
    Làng cũ. Thôn xưa. Tình cố lý
    Hoàng hôn cổ độ. Sương mênh mông.
     
    Sông rất sâu. Đò ngang tắt chuyến
    Mây bay đi. Bỏ lại trăng già
    Con bướm vàng mùa hoa lỗi hẹn
    Người vô tình xé nát tim ta.”
     
    (Mừng tuổi sáu mươi bảy, trang 40)
     
    Đêm nào rồi cũng qua; bếp lửa nồng nàn nào rồi cũng lạnh; hồn êm êm nào rồi cũng có lúc bâng khuâng. Có còn chăng là “hồn già” và “bụi cỏ”, thầm nhủ lòng, thôi ta tự mừng tuổi ta giữa đêm thinh lặng với sương khuya lành lạnh  như ngàn ‘lệ ngọc” long lanh:
     
    “Khói nhẹ. Bếp tàn. Ta lặng ngắt
    Bầu trời sao nhấp nhánh. Lung linh
    Nửa đêm. Trăng Cái Vừng vằng vặc
    Sông cũ ngàn năm nguyên hữu tình
     
    Không còn ai. trời đất thinh thinh
    Nhấm tách trà sen. Mừng tuổi mình
    Sương đọng bóng cành ngàn lệ ngọc
    Hồn già. Trong bụi cỏ. Mần thinh…”
     
    (Mừng tuổi sáu mươi bảy, trang 41)
     

     
    Trong thi tập “Cúc Trùng Dương” của Nguyễn Hải Thệ, những hình ảnh “hạc vàng”, “cúc vàng”, “trăng vàng”, “áo lụa vàng”, “bướm vàng” luôn có mặt, những hình ảnh tượng trưng cho cảnh giới nào khác ở một nơi bồng lai tiên cảnh nào đó, như một nét rất riêng trong thơ của tác giả:
     
    “Tuổi già. Quạnh quẽ. Chỉ còn trà
    Lặng lẽ bên đời. Ta với ta
    Thấy cúc vàng. Con bướm lượn
    Bâng khuâng… Hồ điệp mộng hoàng hoa?
     
    (…)
     
    Ta với cúc vàng đâu khác nhau
    Như sương. Như huyễn ảnh. Phù du
    Vô tư hoàng cúc bung phong nhụy
    Lão hạc ai hoài mối cảm thu…”
     
    (Cúc vàng, trang 84)
     
    Bởi lẽ mộng mị nào mà không như “ảo”, như “huyễn”, nên loài bướm mơ hoa vàng cũng là ảo ảnh phù du một kiếp đời ngắn ngủi:
     
    “Hồ điệp nào không như ảnh. Như huyễn?
    Mộng nào chẳng như khói. Như sương?
    Kiếp phù du sống giả. Vô thường
    Ai biết được:
    bướm hoá mình? Hay mình hoá bướm?”
     
    (Mộng Hồ Điệp, trang 76)
     
    Dường như thi sĩ nào khi tứ thơ lung linh, ý thơ bay bổng, thì màu vàng là màu gần với hồn thơ hơn những sắc màu nào khác. Chẳng hạn, thi sĩ Hoa Văn đã cho ta những sắc màu huyền diệu ấy trong bài thơ “Tìm đâu bóng vàng” với hai câu kết:
     
    “Ngôn từ hóa kiếp mai sau
    Lòng không nhớ cội tìm đâu bóng vàng.”(3)
     
    Ở một bài khác, “Mùa Xuân và em”, Hoa Văn cũng có những hình ảnh cúc vàng nở hoa vào ngày Tết xa nhà :
     
    “Xuân về rồi đó, Em ta nhỉ
    Hoa cúc thi nhau hé nụ vàng
    Ăn Tết nơi này sầu muốn chết,
    Nỗi sầu xa xứ cứ mênh mang!” (4)
     
    Hoặc như :
     
    “Không đợi không chờ xuân vẫn đến
    Xuân vàng tâm sự cũng vàng theo
    Ngồi đây mà xót đời mưa bụi
    Gió hắt hiu qua lối cỏ chiều…”(5)
     
     
     
     
    Với vài vần thơ vừa trích để thấy cái hồn của thi nhân dù bên nhà hay bên này, khi tuổi đời già dặn với bao bận sang mùa cũng là lúc hồn thơ đã chin muồi thì màu vàng là sắc màu rất hạp với tâm hồn của nhiều thi sĩ; và Nguyễn Hải Thệ cũng không ra ngoài cái cảm về màu vàng phiêu lãng vừa vương giả, vừa man mác buồn bóng lá thu phai ấy.
     
    Cúc Trùng Dương” dù chỉ mỏng với 124 trang thơ, nhưng là một kho ý tưởng về cuộc đời, về cỏ cây vạn vật và con người. Với tuổi đời già dặn, với hồn thơ lâng lâng, với tứ thơ thâm trầm mà gần gũi, Nguyễn Hải Thệ đã khéo léo nói lên được ý nghĩa của đời sống hôm qua, hôm nay và mai sau. Dù nó là mộng ảo, ngắn ngủi, phù du đó, nhưng tác giả cũng cho ta thấy được cái tình cảm của  nhà thơ khi trở về vời thực tại đời sống nơi làng Long Sơn với con sông Cái Vừng miên man trôi chảy giữa bao mùa nắng mưa cùng nhân thế, bất tận…:
     
    Với cái tuổi đời không còn trẻ, và những ngày giáp Tết gió bấc về se se lạnh mà ngồi bên chung trà nóng buổi sáng sớm, khi sương mai còn đọng trên lá trên cành mà đọc “Cúc Trùng Dương “ của Nguyễn Hải Thệ, tôi nghĩ là mình có một mùa Xuân thật ý nghĩa. Bởi tôi cảm được thơ anh vừa u mặc mà gần với tuổi già của mình, vừa mang tính triết lý cao xa mà không ra ngoài những biến đổi của trời đất và dòng đời. Thơ anh chính là cuộc đời mà anh đã trải qua và bắt gặp nơi mình, nơi người, nên dù đời người là phù du, huyễn mộng nhưng suy cho cùng, theo anh, đời vẫn mãi mãi đẹp và đáng sống biết dường nào khi anh hạ bút đề những câu thơ chan chứa cái tình tri âm, bằng hữu:
     
    “Trà sen nào chẳng đượm tình bằng hữu?
    Trúc gió nào chẳng phải tiếng tri âm?
    (Trà sen, trang 20)
     
    Thơ Nguyễn Hải Thệ trong “Cúc Trùng Dương” rất khó đọc, bởi tác giả gởi gắm nhiều nỗi niềm rất kín đáo qua nhiều điển tích xưa; nhưng nếu ai chịu khó đọc những bài thơ với những câu thơ làm ra không lấy gì dễ dàng này, tôi nghĩ thơ anh sẽ ở lại với người đọc lâu hơn, bền bĩ hơn và làm tâm hồn ta dễ gần với tác giả hơn qua những cảm thông và đồng điệu cùng chung trà , chén rượu vào lúc chiều Xuân, Tết về mà nghe rất ấm tình tri âm, tri kỷ…
     
    Houston, viết tháng Giêng năm 2009; đọc lại và bổ khuyết ngày 10-02- 2010, nhằm ngày 27 tháng Chạp, Tết Canh Dần
     
     
    Phụ chú:
    (*) Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản TpHCM, liên doanh Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Việt Nam, năm 2001,Tập 2, trang 647.
    (1) Tất cả các câu thơ dẫn trong bài viết, được trích từ bản thảo thi phẩm “Cúc Trùng Dương” của Nguyễn Hải Thệ, dày 124 trang, gồm 54 bài thơ, do tác giả gởi tặng năm 2007.
    (2) Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển  của giáo sư Trịnh Vân Thanh, quyển II, do Ban Tu Thư Siêng Học xuất bản năm 1966, Sài Gòn, trang 14) .
    (3),(4),(5) Trích thi phẩm “Thơ và Thời Gian” của thi sĩ Hoa Văn, do nhà xuất bản Thăng Long (Hoa Kỳ) ấn hành, năm 2002, trang 39 và 114
    Ngoài ra, các ảnh hoa minh họa, do tác giả bài viết này chụp trong vườn hoa sau nhà.
     
     
     
     

  • phan ngọc says:

    Bài của Lê Hữu tình cảm lôi cuốn, lời góp ý của Một Bạn Đọc quả xác đáng, bậc thầy, trên Da màu tôi chưa gặp lời bình thơ, nay gọi là phản hồi, nào hay như thế. Thơ Trần Mộng Tú là điểm cuối của dòng thơ trữ tình cổ điển.  Điểm sáng cuối cùng.
    Đa tạ ba vị.

    Phan Ngọc.

  • Một bạn đọc says:

    Thưa tác giả Lê Hữu,
    và nữ sĩ Trần Mộng Tú,

    Mở đầu và kết thúc bài này, tác giả dẫn hai câu thơ của thi sĩ Trần Mộng Tú:

    “Tôi thắp lòng tôi bông hoa nến
    gửi người một đóa tháng Giêng xuân


     Tui rất sợ đèn cày mà thi sĩ cùng giới chữ nghĩa thường gọi là “nến”, nên tui hổng dám nhận “một đóa tháng Giêng xuân” của nữ sĩ Trần Mộng Tú gởi tặng đâu. Tui rất sợ những “bông hoa nến” dữ lắm! 
     
    Ngoài ra, tui có thắc mắc này nữa, xin tác giả Lê Hữu và thi sĩ Trần Mộng Tú vui giải thích giùm, khi nào thì gọi là  “bông” và khi nào thì gọi là “hoa”?

    Còn đoạn thơ dưới đây:
    “Bây giờ là tháng Mười
    em hiền như hoa cúc
    Sao anh không là đất
    cho em ngả vào lòng

    Bây giờ là tháng Mười
    em gầy như nhánh cúc
    Sao anh không là mưa
    cúi hôn từng cánh lá

    Bây giờ là tháng Mười
    em mong manh như cúc
    Sao anh không là nắng
    ôm em ấm một ngày…” (Tháng Mười Hoa Cúc)

    Xin thưa, “em hiền như hoa cúc “ thì có thể hiểu được nhưng hơi giống “em hiền như ma sơ”, nhưng
    Sao anh không là đất
    cho em ngả vào lòng”

    thì tiêu đời vì cúc mà ngã vào lòng đất là cúc đả tàn rồi vậy!

    Còn “em gầy như nhánh cúc” thì chưa chắc vì nói tới “gầy” thướng người ta ưa ví với cái loại cây nào cao cao như trúc với tre ít ai ví với cúc vì cúc không cao lắm, mà không cao thì ít thấy cái dáng “gấy”. Và “em mong manh như cúc “, có lẽ cũng hơi cưỡng lời, cưỡng ý vì cúc thường nở rộ và um tùm nhứt là cúc đại đóa thì bông lớn lắm chứ không “mong manh” như thi sĩ diễn tả.

    Còn “sợi tóc mỏng” thì tui chịu, vì mới nghe lần đầu:

    Sợi tóc mỏng của một thời mơ mộng
    của một thời tình lạc giữa chiêm bao
    của một thời xô vỡ cả trăng sao
    biển căng ngực và núi rền tiếng th
    ở… “(Sợi Tóc)

    Nếu nữ sĩ dùng chữ “sợi tóc mượt” có lẽ đắc ý hơn “mỏng” vì tóc  dáng hình sợi, hình ống, nên khó hình dung được nó “mỏng” và “mỏng” như thế nào dù là thơ với hồn thơ  nữ sĩ lâng lâng bất tận…. Vả lại, trong từ điển có chữ “tóc mượt” chỉ tóc mềm và láng mướt, mịn màng…

    Sau cùng, xin tác giả và nữ sĩ Trần Mộng Tú có thể được xin điều chỉnh lại giùm mấy chữ “giấu” với nghĩa “cất kín một nơi” trong các câu thơ trích dẫn trong bài thay vì “dấu” (“vết để lại của một vật không còn) cho các câu thơ tròn ý hơn.

    Xin trân trọng và cảm ơn một bài viết đầy tình cảm.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)