Trang chính » Biên Khảo, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

Bản di chúc 71 chữ

6 bình luận ♦ 2.08.2010

 

 

 

clip_image002

Chân dung Nhất Linh, tranh sơn dầu Nguyễn Gia Trí

“Đời tôi để lịch sử xử”
(Trích thư tuyệt mệnh của nhà văn Nhất Linh)

 

Có lần tôi nhờ một bạn văn tìm giúp bản chụp bức thư tuyệt mệnh của nhà văn Nhất Linh.

“Chi vậy?” người bạn hỏi.

“Umm… Đọc thư ấy trong sách vở báo chí thấy mỗi nơi mỗi khác, chả biết cái nào đúng.”

Người bạn không tìm được nhưng gửi cho tôi cái link để vào một trang web của “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia” có trích đăng thư ấy (gọi là “câu nói nổi tiếng” của nhà văn Nhất Linh). Tôi vào trang web ấy hai lần, đọc được hai nội dung khác nhau chút chút, và cũng… chả biết cái nào đúng.

 

Bản di chúc và những “dị bản”

Ít lâu sau đó tôi tình cờ “gặp” được phóng ảnh bức thư ấy, với thủ bút và chữ ký của tác giả, trong một trang web khác. Tôi không thể biết chắc đấy có phải là bản tôi xem được trên báo chí cách đây gần… năm mươi năm không; tuy nhiên, tôi có được cái vui tìm được lời giải đáp cho điều mà tôi “ngờ vực” từ bao lâu nay (xin nói rõ thêm ở phần sau).

Từ “bản gốc” này, tôi nhận ra những khác biệt so với nội dung bức thư được ghi chép lại trong những bài văn, bài hồi ký viết về nhà văn, nhà hoạt động cách mạng Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam (tác giả có khi là người thân hoặc gần gũi với Nhất Linh). Những khác biệt vô tình hay cố ý, ít hay nhiều, như thêm, bớt một vài chữ hoặc thay đổi câu văn. Các “dị bản” ấy có khá nhiều, người đọc hẳn cũng từng đọc thấy, chỉ xin kể ra một vài:

– “Đời tôi để lịch sử xử”, câu đầu của bản di chúc ấy đã đi vào lịch sử và gắn liền với một cái tên. Nhiều người không nhớ rõ nội dung bản di chúc nhưng vẫn nhớ được và nhớ đúng sáu chữ ấy. Câu ấy, sáu chữ ấy được rất nhiều người thuộc lòng, nhưng không phải là không được/bị sửa đổi hoặc “kéo ra” thành bảy, tám chữ. Có khi hóa thành “Đời tôi để cho lịch sử xử” (thêm chữ “cho” sau chữ “để”), hoặc “Đời tôi, để cho lịch sử xử” (thêm chữ “cho” và thêm dấu phẩy sau “đời tôi” để làm câu văn “mạnh mẽ” hơn, “quyết liệt” hơn), hoặc “Đời tôi lịch sử xử” (thay chữ “để” bằng chữ “có”), hoặc “Đời tôi chỉ có lịch sử xét xử” (thay chữ “để” bằng “chỉ có” và thêm chữ “xét”, ý khẳng định, dứt khoát), hoặc “Ðời tôi để lịch sử phán xét” (thay chữ “xử” bằng “phán xét” cho… chính xác hơn)… vân vân.

– Câu “Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng…” trong bản gốc được đổi thành:

“Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng…” Hoặc:

“Sự bắt bớ và giam cầm các phần tử đối lập Quốc Gia là một tội nặng…” Hoặc:

“Việc đem các đảng đối lập ra xử trị việc làm…” Hoặc:

“Sự việc đem các đảng phái quốc gia đối lập ra xét xử là một trọng tội đối với quốc gia…

– Câu “… sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản” trong bản gốc được đổi thành:

“… chỉ đưa đất nước rơi vào tay Cộng sản”.

– Câu “Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình” trong bản gốc được đổi thành:

Vì thế tôi tự hủy mình”…

Người dễ tính có thể nói “Khác nhau chút chút nhưng thế cũng được, đại để là vậy.”

Vâng, “thế cũng được”, nếu những câu ấy không gọi là “di chúc”, “di bút”, “di ngôn”, và nếu ghi là “đại ý”, “đại để thế này…” Nếu đã ghi là “nguyên văn như sau…” thì nên viết… nguyên văn. Những lời lẽ trong một bản di chúc, lại gọi là “di chúc lịch sử”, cần được ghi lại trung thực, chính xác, nguyên trạng, chứ không thể ghi… đại để, đại khái, đại loại. Cũng không cần phải “biên tập”, “biên chế”, không cần phải sửa sang cho chỉnh đốn hơn, thêm thắt cho đầy đủ hơn, tỉa tót cho gọn ghẽ hơn, gọt dũa cho văn vẻ hơn. Nói chung, cần tôn trọng nguyên tác chứ không thể “phóng tác” hoặc tùy tiện “viết lại” theo… ngẫu hứng.

Người làm công việc sửa đổi hẳn là có thiện ý; tuy nhiên, thiết nghĩ trước khi “biên tập” lại theo ý mình, cũng nên “tham khảo” qua ý kiến của tác giả (một nhà văn nổi tiếng) để tỏ sự tôn trọng. Nếu… không thể tham khảo được, tốt hơn nên… có sao để vậy.

Một di chúc khác được Nhất Linh gửi cho người bạn đời của ông (viết cùng ngày với di chúc trên), đọc được trong một bài hồi ký về cái chết của nhà văn:

“Mình,
Mối tình của đôi ta đẹp đẽ lắm rồi. Mình không còn mong muốn gì hơn nữa.”

Đọc những hàng chữ ấy tôi có chút phân vân. “Mình” là cách xưng hô thân mật giữa vợ chồng, và ở đây có hai chữ “mình”. Liệu “chữ “Mình” thứ hai có cùng một nghĩa với chữ “Mình” thứ nhất, hay có nghĩa “đôi mình”,“chúng mình”, hay người viết… xưng mình là “Mình”? Hiểu cách nào đây? Thật khó mà biết chắc, và không thể võ đoán theo lối “tâm tư nhà văn Nhất Linh”. Thật may, nghi vấn này được giải tỏa khi tôi được xem bản chụp tờ di chúc ấy với bút tích của nhà văn. (1)

“Mình,

Mối tình của đôi ta trong bao năm đẹp đẽ lắm rồi không mong mong ước gì hơn nữa.

Anh

(Chữ ký)

7-7-63”

(Trong thư chỉ có một chữ “Mình”, và có hai chữ “mong” viết liền nhau).

Có thế chứ, một nhà văn bản lãnh với bút pháp thật vững chãi, văn phong thật trong sáng như Nhất Linh thì không thể nào viết những câu cú để người đọc tùy nghi muốn… hiểu sao thì hiểu.

 

Tác phẩm cuối cùng của nhà văn

Tôi có chút ngập ngừng khi người bạn hỏi muốn tìm bản gốc tờ di chúc ấy để làm gì(?). Không chỉ muốn được đọc bản đúng nhất của di chúc, có một lý do khác nữa mà tôi không tiện nói ra với người bạn. Lý do ấy có vẻ hơi kỳ cục, không dính dấp gì đến chuyện tìm tòi, tra cứu tài liệu về văn học, chính trị hay lịch sử chi chi cả. Đơn giản, tôi muốn làm một cái “test” để xem thử cái “bộ nhớ” ngày một hư hao của tôi liệu có còn dùng được hay đã… phế thải. Nếu tôi nhớ không lầm, lần đầu tiên đọc được những hàng chữ của bản di chúc trên báo chí ở trong nước (1963) tôi đã khựng lại một chút vì một chi tiết hơi bất thường: có một lỗi chính tả trong những hàng chữ ấy. Cái chi tiết rất… chi tiết ấy đã khiến tôi, chàng trai mới lớn thuở ấy, phải bần thần. Không thể nào như thế được. Một nhà văn lớn, tác giả những “Đôi bạn”, Bướm trắng” mà tôi hằng ngưỡng phục như một “thần tượng” không có lý nào lại viết… sai chính tả. Tôi đã nghĩ ngợi, suy xét kỹ và đi đến kết luận rằng chỉ có tôi sai, thậm chí, tự điển tiếng Việt… sai, chứ đã là “Nhất Linh” thì không thể sai được.

Thế rồi, qua bao thăng trầm thế sự, bao vật đổi sao dời. Thế rồi, cơn bão của lịch sử đã cuốn phăng đi tất cả, cuốn phăng đi biết bao nhiêu số phận, cuốn phăng đi cả tờ di chúc lịch sử ấy. Sau nhiều năm vật lộn với cuộc sống, năm tháng dần phôi pha, tôi đã gần như quên hẳn tờ di chúc ấy hay bức thư ấy. Thảng hoặc có ai đó nhắc đến, tôi chỉ mang máng nhớ được rằng, hình như trong thư ấy có một… lỗi chính tả, hình như trong thư ấy có hai chữ “trà đạp”, hình như lỗi chính tả ở chữ “trà” ấy. Nếu không phải như thế thì lỗi chính tả ấy phải rơi vào chữ nào khác, hoặc… chẳng có cái lỗi nào cả. Sau một chuỗi những “hình như, có lẽ, chắc là, dường như” ấy, tôi ngờ vực cả chính tôi: liệu tôi có… nhớ lầm, nhìn lầm hay “trông gà hóa cuốc”.

Chuyện nhớ đúng, nhớ lầm ấy xét ra cũng chẳng có gì là quan trọng, và tôi cũng thả “trôi theo dòng đời” cho đến khi đọc được những bài báo, bài hồi ký về nhà văn Nhất Linh những năm gần đây, nhất là những bài có ghi lại nội dung bức thư tuyệt mệnh ấy (có bài ghi là “nguyên văn”). Tôi đọc, không tìm thấy… lỗi chính tả nào. Tôi cũng đọc thấy hai chữ “chà đạp” trong câu cuối của bức thư, “… cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do”. Tuy nhiên, tôi vẫn không từ bỏ ý định đi tìm “bản gốc” để có thể yên tâm mà đi đến kết luận chắc chắn rằng cái “bộ nhớ” của tôi rõ ràng là “có vấn đề”.

Sau cùng, phải cám ơn… ai đây, tôi cũng đã được “gặp” lại “bản gốc” ấy. Bản chụp tờ di chúc ấy đã trả… “tôi về với tôi”, và trong một nghĩa nào đó, nói một cách văn vẻ, đã dắt tôi ngược dòng thời gian để tìm về kỷ niệm. Trong “bản gốc” ấy, tôi gặp lại… chữ “trà” viết tay bằng thủ bút của tác giả. Tôi bồi hồi ngắm nghía con chữ ấy, bồi hồi như gặp lại người thân của một thuở nào xa xưa. Và tôi như gặp lại được tôi, gặp lại tuổi trẻ của tôi, gặp lại chàng trai mới lớn đứng giữa những năm tháng đầy những biến động của lịch sử, không rõ là đã… biết yêu chưa, nhưng đã có những “thần tượng”, và một trong những thần tượng ấy là Nhất Linh. Có điều là những suy nghĩ, cảm xúc của “chàng trai ấy” và của tôi bây giờ có khác nhau khi đọc lại những hàng chữ ấy. Đúng là lỗi chính tả thật, nhưng… có sao đâu. Lỗi ấy là chuyện… thường. Lỗi ấy khá phổ biến do thói quen viết chính tả dựa trên cách phát âm, người Bắc, Trung, Nam gì cũng ít nhiều mắc phải. Chữ “trà” ấy rất “Nhất Linh”. Chữ “trà” ấy cho tôi nhận ra Nhất Linh, nhà văn lớn, nhà hoạt động cách mạng mà tôi hằng ngưỡng phục. (Gần đây tôi đọc được một, hai bài ghi lại đúng nội dung di chúc ấy và vẫn giữ nguyên dạng chính tả ấy).

Cái nhìn ngưỡng mộ của người đời về hoạt động chính trị và sự nghiệp văn học của con người có tầm vóc lớn Nhất Linh vượt lên trên mọi chuyện vặt vãnh. Nhất Linh, ông có viết “Giòng sông Thanh Thủy” hay “Dòng sông Thanh Thủy” thì cũng chẳng ai có ý kiến gì được. Ngay tại đất nước tôi đang sống, một tác phẩm trước khi ấn hành vẫn được các “thầy cò” chuyên nghiệp edit qua các lỗi viết tay, lỗi đánh máy, lỗi chính tả và các lỗi “kỹ thuật” khác. Nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con út của nhà văn Nhất Linh, trong một bài hồi ký, cũng kể về chuyện viết văn của cha ông.

“… Đi xa hơn nữa, để cho viết được nhanh hơn hoặc để khỏi phải bận tâm đến cái mà ông cho là không cần thiết, ông đã bỏ hết những quy luật văn phạm, chính tả thông thường. Công việc sửa lỗi chính tả nhỏ nhặt đó thường là công việc của người khác khi bản thảo được đánh máy trước khi in thành sách.” (2)

Tôi thực tình không rõ, việc để cho người khác sửa chữa những “lỗi chính tả nhỏ nhặt” ấy có áp dụng đối với bản “di chúc lịch sử” của Nhất Linh, một “tác phẩm” không “in thành sách”(?).

Có những tên gọi khác nhau cho những dòng chữ cuối cùng của nhà văn Nhất Linh, có người gọi “di chúc” (có khi gọi “di chúc lịch sử”, “di chúc chính trị”), có người gọi “di ngôn”, “di bút”, “chúc thư”, “thông điệp”, “lời tuyên bố”, “thư tuyệt mệnh”… Nhiều người và cả những người thân của Nhất Linh thường gọi là “di chúc” nên tôi cũng gọi theo cách ấy, mặc dầu theo tôi “thư tuyệt mệnh” là đúng hơn cả. Ngắn, dài gì cũng là cái thư. Người gửi là Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, người nhận được hiểu là công chúng, là đồng bào ruột thịt của tác giả bức thư, là người Việt trong và ngoài nước (và cả người nước ngoài), nói rộng hơn là bất cứ ai nhận được, đọc được, hiểu được bức thư ấy.

Khi gọi là “di chúc”, lại là “di chúc lịch sử” thì tính trung thực càng phải được tôn trọng. Nhà văn Nguyễn Tường Thiết, trong một bài trả lời phỏng vấn đã gọi chính xác di chúc ấy là “Bản di chúc chính trị 71 chữ”.

“Bản di chúc chính trị 71 chữ nói trên của nhà văn Nhất Linh đã được phổ biến rộng rãi và công khai trên khắp mọi báo chí của miền Nam sau khi chế độ của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa miền Nam sụp đổ…” (3)

Có điều, trong hồi ký “Niềm vui chết yểu” viết về những kỷ niệm còn giữ được về người cha thân yêu của mình, ông Nguyễn Tường Thiết cũng lại cho một con số… chính xác:

“Trên một vuông giấy, cha tôi để lại 72 chữ cuối cùng của đời ông…” (4)

Hẳn là ông phải có lý do sao đó để thay đổi, thêm, bớt một con số. Con số nào là “chính xác” và khác nhau như thế nào? Không rõ, chỉ biết là trong một hồi ký khác, ông thuật lại lời người anh của ông kể về những phút cuối của thân phụ mình:

“Tao thấy ông có vẻ mệt, ông ngồi trên ghế, tay run run viết bản thứ hai giống hệt bản thứ nhất. Bản này chữ xấu lắm, nét nguệch ngoạc như những dấu phẩy. Sau đó nhìn kỹ mới thấy hai bản khác nhau một chữ. Bản thứ nhất: ‘Tôi không chịu để ai xử cả’. Bản thứ nhì thì: ‘Tôi không chịu để ai xử tôi cả’. Viết xong ông nói: ‘Tý nữa thì quên, phải viết hai bản thế này nhỡ nó tóm được một thì còn bản kia chứ.’” (5)

(Bản thứ nhất, được ông ghi chú là “đưa cho hãng thông tấn U.P.I. làm photocopy và phổ biến trên báo NewsweekTime”).

Như vậy thì “bản gốc” mà tôi và nhiều người xem được phải là “bản thứ nhì” vì có thêm một chữ “tôi” (sau chữ “xử”) ở trong câu “Tôi không chịu để ai xử tôi cả”. Hình bên dưới lấy được từ một trang web chụp lại “bản thứ nhì” ấy. (6)

 

clip_image004

 

(Bản này không khác với phóng bản “Bức thư tuyệt mệnh của Nhất Linh” trong sách Nhất Linh – Người nghệ sĩ -Người chiến sĩ.) (7)

Ở “bản thứ nhì” này, tôi đếm được cả thảy 71 chữ (không tính các ký tự ngày, tháng, năm và tên người gửi ở cuối bức thư). Như vậy hẳn đây là “bản di chúc chính trị 71 chữ” như ông Nguyễn Tường Thiết đề cập, “đã được phổ biến rộng rãi và công khai trên khắp mọi báo chí của miền Nam” thuở trước.

“Bản thứ nhất” (khác “bản thứ nhì” ở câu “tôi không chịu để ai xử cả”) hiện không rõ ở đâu, hoặc có được phổ biến ở đâu đó mà tôi chưa được xem thấy. Bản ấy phải là bản “70 chữ”, vì thiếu chữ “tôi” so với “bản thứ nhì”. Vậy thì, bản nào là “72 chữ cuối cùng” như nhà văn Nguyễn Tường Thiết nói đến trong bài hồi ký của ông? Tôi không nghĩ là ông hoặc ai đó có thêm một… bản thứ ba. (8)

Sau hết, xin viết ra dưới đây nội dung lời di chúc từ phóng bản tờ di chúc bên trên, rập theo bút tự của tác giả, bút tự mà nhiều người, kể cả những người thân yêu của ông, đều cho là… không dễ đọc chút nào (mong sẽ không là việc làm thừa thãi).

“Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người trà đạp mọi thứ tự do.

7-7-63

Nhất Linh Ng. Tường Tam

(Chữ ký)”

Tôi tin là người đời (đời nay và đời sau) vẫn muốn được đọc nội dung bản di chúc ấy–“tác phẩm” cuối cùng nhà văn Nhất Linh để lại cho đời–đúng y như những gì nhà văn đã viết ra, chứ không phải là bản di chúc đã được hiệu đính (edit). Những thay đổi, ít hay nhiều, cũng đều là thay đổi một chứng liệu mang tính lịch sử.

Bản “di chúc lịch sử” của nhà văn, nhà hoạt động cách mạng Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, cho đến khi xem thấy được bản nào khác, vẫn là bản di chúc 71 chữ.

 

7/2010
(Nhân 47 năm ngày mất của nhà văn Nhất Linh)

________________________

(1) Nhiều tác giả (2004). Nhất Linh – Người nghệ sĩ, Người chiến sĩ. Westminster, CA: Thế Kỷ, tr. 237

(2) Nguyễn Tường Thiết (2006). Nhất Linh cha tôi. Gardena, CA: Văn Mới, tr. 29

(3) Lê Quỳnh Mai. Nhân 45 năm ngày mất của Nhất Linh phỏng vấn nhà văn Nguyễn Tường Thiết. Tạp chí Hợp Lưu số tháng 7 & 8 năm 2008

(4) Nguyễn Tường Thiết (2006), sđd, tr. 32

(5) Nguyễn Tường Thiết (2006), sđd, tr. 46

(6) Hình lấy từ http://virtualarchivist.files.wordpress.com/2009/08/nhatlinhfinalwords1.jpg

(7) Nhiều tác giả (2004), sđd, tr. 126

(8) Một tác giả khác, ông Nguyễn Văn Lục, trong bài “Ý nghĩa về cái chết của Nhất Linh” cũng đề cập đến “72 chữ” này: “…Thực tế, ông đã để lại một thông điệp 72 chữ mà nhiều người có thể lập lại một cách thuộc lòng như: Đời tôi để lịch sử xử.” (trích)

 

 

 

.

bài đã đăng của Lê Hữu


6 Bình luận »

  • Đạm Thủy says:

    Tôi có duyên với các bài viết của tác giả Lê hữu.  Ít khi tôi đọc những bài viết thuần túy phân tích văn chương, vì thì giờ đã trót dành cho những chuyện khác, đi cày, trồng bầu bí, hoa lài, hoa lý, hoa quỳnh, nuôi cá, rồi tin tức khoa học, y học, hay căng thẳng, gây gỗ, và sừng sộ với cái computer khi nó bất đồng chính kiến với mình chẳng hạn. Nhưng năm nay, mấy bài viết lọai này, lại của một tác giả, Lê Hữu cứ thỉnh thỏang gây chú ý đến tôi.
    Đã định viết vài dòng ngay từ hôm trước, nhưng computer của tôi chơi khăm, dấu mất bộ chữ Việt đâu mất. Nhưng, tái ông thất mã, nhờ thế, hôm nay tôi được đọc thêm mấy bài comments rất bổ ích.
    1.    Lỗi chính tả, tính cẩu thả, … theo tôi nghĩ, không phải là tội nặng đối với nhà văn. Nhiều khi đó lại là bản tính của một vài nhà văn độc đáo nữa là khác.  Có điều, độc giả ái mộ một nhà văn vì lý do nào đó, thường “thần tượng hóa” nhân vật được ái mộ, người đó không thể có các nhược điểm của con người. Nói như thế vô tình động chạm nhà văn Lê Hữu một tí. Có lẽ, những nhân vật nổi tíêng thường có những khuyết điểm, nhiều khi còn động trời nũa là khác. “Có tài có tật” là thế. Những chuyện bên lề của các ông/bà ấy rất hấp dẫn, do cách ứng xử của các họ có phần độc đáo hơn người khác. 
    2.    Theo thiển ý cá nhân của kẻ hèn này, nhà văn Nhất Linh để lại sự nghiệp cách mạng qua văn học, chứ không phải là sự nghiệp văn học thuần túy vì văn học. Cho nên ta không nên đem công việc văn học của cụ Nhất Linh bắt nằm trong khuôn mẫu của văn học.
    3.    Còn nói về văn phạm, tôi rất đồng ý với comment của Dế Mèn, không thể tin nhà văn Nhất Linh cố tình “bỏ qua” văn phạm. Nhưng nếu ông có sai văn phạm đi nữa thì cũng là chuyện thường (vì tôi không nỡ “thần tượng người tôi ngưỡng mộ.)  
    Thật ra, khái niệm về lỗi văn phạm rất bao la. Nhưng, sai đối với nguyên tắc nào, sách vỡ nào mới là vấn đề. Khi tiếp xúc với văn minh tây phương, các dịch giả bị lệ thuộc nhiều với văn phạm nước ngòai, nên vô tình đã tạo thành một lọai văn phạm mới. Chỉ có người đọc sách thường xuyên mới quen. Người dân quê … cóc hiểu.  Nhiều khi lỗi văn phạm tạo thành một văn phong đặc thù của tác giả. Thí dụ điệp tự, điệp ý là những lỗi văn phạm. Nhiều văn sĩ đã khéo léo “điệp tự” chủ ý nghe lại hay ra thêm. Còn điệp ý thì khó nói lắm, nhiều ông vô tình vì số lượng viết quá nhiều, không có giờ đọc lại, và không có ai đọc lại dùm, ngoại trừ đọc những ý nghĩ, xem có “động chạm” ai không. Tôi cũng là một trong những người đọc dễ dãi như thế.
    4. Cũng vì dễ dãi, nên đọc suốt bài của nhà văn Lê Hữu, tôi vẫn thấy 71 chữ dù viết với hình thức nào đi nữa, tôi vẫn hiểu giống nhau. Tại sao thế? Đó là vì ngoài 71 chữ đó, người ta ai cũng biết những câu chuyện thời sự khác, không phải 71 chữ mà có thể là 71 nghìn chữ nữa cơ. Chính những sự kiện chung quanh đã làm nên cái context rõ ràng mà 71 chữ di chúc đó, cho dù có viết đậm viết lợt, viết nghiêng viết thẳng đều nói lên một ý chí bất diệt của nhà văn Nguyễn Tường Tam.
    5. Điều tôi rất quí tác giả Lê Hữu là trong mỗi việc, anh đều trân trọng từng chút, lật qua lật lại, nhìn tới nhìn lui, nhắc lên rồi nhẹ nhàng đặt xuống đúng chỗ, không làm sứt mẻ chỗ nào. Thái độ “không thái độ” của tác giả Lê Hữu không phải là vô tình. Dường như đó là một bài học nhẹ nhàng lên tiếng đối với một số bài viết về bản Di Chúc vĩ đại này. Những bài đó kèm theo một phán đoán xanh dờn, đánh thót con tim độc giả, tạo hoang mang lịch sử. Lẽ dĩ nhiên người đọc ai cũng biết, như thế là có ý đồ không đứng đắn.

    Cám ơn tác giả Lê Hữu và tất cả các anh chị viết lời phê.
    Đạm Thủy
    một ngày nắng đẹp.

  • Lê Hữu says:

    Thành thật cám ơn ông Nguyễn Tường Thiết đã cho những điểm bổ túc làm sáng tỏ thêm các chi tiết về bản di chúc của nhà văn Nhất Linh.

    Thưa ông Dế Mèn, đúng là tôi đã không nêu nguồn trích dẫn cho bài hồi ký ấy (do điểm ‘tế nhị’ là phần lớn tác giả các bài hồi ký về Nhất Linh là những người thân thiết hay gần gũi với nhà văn). Những khác biệt nhỏ so với bản gốc ấy tôi cho là chỉ do người viết không nhớ rõ chi tiết. Xin nhận lỗi thiếu sót, và xin ghi xuống một trong những trang web có đăng lại bài hồi ký ấy: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13311&rb=11

    (“Nhớ về Nhất Linh”, BS Nguyễn Hữu Phiếm, trong tuyển tập hồi ký Chân dung Nhất Linh, nhiều tác giả, tập san Văn xuất bản, 6/1966).

    Thưa ông Quế Sơn, rất tiếc là tôi không có được tài liệu mà ông đề cập. Xin thành thật cám ơn ông về những chia sẻ cho bài này.

    Lê Hữu
     

  • nguyễn tường thiết says:

    Rất cảm ơn ông Dế Mèn đã vạch rõ sự lầm lẫn của tôi trong việc xử dụng các từ ngữ “lỗi văn phạm” và “lỗi chính tả”. Xin nói lại cho đúng là Nhất Linh trong khi viết văn, để viết cho nhanh và để khỏi phải bận tâm đến cái mà ông cho là không cần thiết, ông đã bỏ hết những quy luật chính tả thông thường. Ðiều này lâu năm trở thành thói quen và vì vậy có chuyện lỗi chính tả trong tờ di chúc chính trị của ông.

    Nguyễn Tường Thiết

  • Quế Sơn says:

    Tôi rất đồng tình và ngưỡng mộ việc ông Lê Hữu đặt lại vấn đề về di chúc Nhất Linh và xin cám ơn đã giúp độc giả những thế hệ sau này có tư liễu chính xác về Nhất Linh. Tôi cũng rất vui mừng khi trước đây Talawas đăng lại tạp chí Văn số tưởng niệm nhà văn, nhờ đó tôi có được lại bài điếu văn khóc Nhất Linh của nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã thất lạc trước đây. Tôi còn nhớ khi Nhất Linh qua đời vào tháng 7.1963 còn một bài nữa, hình như là của Vũ Hồng Khanh, bắt đầu bằng câu : “Nếu thế nhân, cha khóc con, vợ khóc chồng bằng cốt nhục thâm tình thì. . .” Tôi cố ý tìm lại bài này từ nhiều năm nay nhưng chưa tìm thấy, rất mong ông Lê Hữu và cư dân mạng có được bài này thì xin nhờ Da Màu phổ biến , thành thật cám ơn.

  • Dế Mèn says:

    1)      Tôi nghĩ là ông Nguyễn Tường Thiết lẫn lộn giữa lỗi chính tả và lỗi văn phạm. Viết “trà đạp” là viết sai chính tả (ở chữ “trà”) chứ không phải viết sai văn phạm. Những câu văn ở trong bản di chúc của nhà văn Nhất Linh không có chỗ nào sai văn phạm cả.
    Hơn thế nữa, tôi cũng không tin rằng Nhất Linh đã “bỏ hết những quy luật văn phạm” trong lúc viết văn, như trích đoạn hồi ký của ông Nguyễn Tường Thiết mà ông Lê Hữu đã dẫn ra:
    “…để cho viết được nhanh hơn hoặc để khỏi phải bận tâm đến cái mà ông cho là không cần thiết, ông đã bỏ hết những quy luật văn phạm, chính tả thông thường.”
    Bỏ hết những quy luật về ‘chính tả thông thường’ để ‘viết được nhanh hơn’ thì có thể, thế nhưng đến cả những quy luật về văn phạm (trong nước gọi là ‘ngữ pháp’) mà Nhất Linh cũng…bỏ hết luôn (vì cho là ‘không cần thiết’) thì thật khó mà tin được, nhất là đối với một nhà văn tiếng tăm (tác giả của tập tiểu luận “Viết và đọc tiểu thuyết”), và những áng văn chương của ông từng được sử dụng trong các sách giáo khoa ngày trước như một ‘khuôn mẫu’.

    2)      Tôi cũng đồng ý với ông Lê Hữu, việc “sửa di chúc” của người đã khuất là khó chấp nhận, nhất là việc báo in ở trong nước “tự ý đục bỏ” một câu quan trọng như ông Nguyễn Tường Thiết đã đề cập lại càng khó chấp nhận hơn. 
    Đoạn viết về di chúc của nhà văn Nhất Linh “gửi cho người bạn đời của ông” đã được sửa đổi khác đi ở trong một hồi ký nào đó, không thấy ông Lê Hữu nêu rõ nguồn trích dẫn như ông đã chú thích cho những nguồn khác ở cuối bài.

    Xin góp vài ý như trên.
    Dế Mèn

  • nguyễn tường thiết says:

    Bài viết của ông Lê Hữu rất chính xác. Tôi chỉ xin bổ túc vài điểm:
    1) Nhất Linh có thói quen viết nhanh không để ý đến văn phạm. Ông muốn không bao giờ phải phân vân trong cách dùng giữa tr hay ch, gi hay d, nên chỉ dùng trgi trong tất cả mọi trường hơp. Vì thế mà trong tờ di chúc chính trị ông đã viết sai văn phạm mà chính ông không ý thức (trà đạp thay vì chà đạp).
    2) Năm 1965 khi tôi viết bài Niềm vui chết yểu, tôi đã đếm sai tờ di chúc có 72 chữ (thật ra là 70 hoặc 71 chữ tùy theo bản di chúc thứ nhất hoặc thứ hai, như ông Lê Hữu đã nhận xét). Bản thứ hai 71 chữ là bản lưu do tôi hiện giữ, cũng là bản đã phổ biến rộng rãi sau này.
    3) Tôi đồng ý với ông Lê Hữu là tất cả những khác biệt nhỏ nhặt trong các bản trích dẫn tờ di chúc đều không quan trọng. Tuy nhiên gần đây khi trích dẫn về tờ di chúc ấy các bài báo in trong nước đã cố ý bôi bỏ (hoặc bị kiểm duyệt bỏ) một đoạn quan trọng sau đây trong di chúc: sẽ làm cho nước mất về tay Công Sản. Ðiều này tôi nghĩ là không thể chấp nhận được.

    Nguyễn Tường Thiết

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)