Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, , Tư Liệu, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Trò chuyện với bạn về Trần Phong Giao

3 bình luận ♦ 19.10.2009

LTS: Từ bài viết Trần Phong Giao và những người viết trẻ của nhà văn Trần Hoài Thư và Tủ sách của Trần Phong Giao của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng trên Da Màu gần đây, chúng tôi nhận được thêm một số hình ảnh và tư liệu liên quan đến vị thư ký tòa soạn nổi tiếng của tạp chí Văn (Sài Gòn) do nhà thơ Chu Ngạn Thư cung cấp. Dưới đây là phần ký của nhà thơ Lưu Vân về một số hồi ức mà tác giả có về tổng thư ký tòa soạn Văn Trần Phong Giao.

BBT Da Màu xin chân thành cám ơn quý tác giả Chu Ngạn Thư và Lưu Vân đã làm phong phú thêm chuyên mục “Văn Học Nam Việt Nam 1954-1975” của Da Màu.

Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, khi tôi đang theo học trường Sư Phạm Sài gòn thì miền Nam có rất nhiều đảng phái chính trị và nhiều phong trào với những xu hướng và mục đích chính trị khác nhau. Và có lẽ cũng từ thực tế đó, miền Nam có rất nhiều nhật báo và tạp chí. Ngoài những tạp chí được coi là có giấy phép, là các tuần báo hay bán tuần báo, nguyệt san hay bán nguyệt san thì còn có rất nhiều những tập san chuyên ngành định kỳ hoặc không định kỳ, và những giai phẩm văn nghệ của một số anh em văn nghệ trẻ tập hợp lại: Viết, in ấn và để rồi … phổ biến hạn-chế. Những mảnh đất đó dù như thế nào cũng là nơi để gieo trồng những hạt giống mới, là sân chơi cho những cây bút trẻ lớn lên từ những phong trào văn nghệ sinh viên học sinh gửi gắm tình cảm, tâm hồn cũng như những hoài bão và khát vọng của tuổi trẻ của mình qua những trang viết đầu tay.

Thời ấy, đối với những người trẻ có một niềm đam mê văn học, khi nhắc đến tạp chí Sáng Tạo thường thì anh em viết đều nghĩ đến một người như Thanh Tâm Tuyền, Văn Học là Phan Kim Thịnh, Phổ Thông là Nguyễn Vỹ, Thời Nay là Khánh Linh, Tiếng Nói là Trần Dạ Từ, Thời Tập là Viên Linh, Thứ Tư Tuần San là Nguyễn Thụy Long, Nghệ Thuật là Mai Thảo… Và với tạp chí Văn thì lại là Trần Phong Giao, người tự nhận mình là một Thư ký toà soạn của bán nguyệt san thuần tuý về văn học.

Người bạn thơ quá cố của tôi – anh Nguyễn Bạch Dương – vẫn cho rằng những người viết trẻ miền Nam thủa ấy, khi có bài được chọn đăng trên tạp chí Văn là có thể coi như đã khẳng định được mình, bởi chỉ có ở tạp chí Văn mới có một Ban tuyển đọc tác phẩm (có lẽ là ba nhà thơ hay nhà văn thành viên) đọc và chọn đăng các sáng tác của rất đông những người viết gửi về cộng tác.

Trong đời văn của mình, dù xuất thân từ một cái nôi văn-nghệ-tỉnh-lẻ ở miền Tây Nam bộ và sớm có thơ đăng trang văn nghệ của nhật báo Đồng Nai ở Sài gòn vào năm 15 tuổi (1961), nhưng hình như là phải đến năm 1963 hay 1964, tôi mới có bài đươc chọn đăng trên tạp chí Văn (số 37): đó là bài thơ tôi viết sau cái chết của thầy giáo Trần Văn Thạch – tức nhà thơ Hoàng Yên Trang (Trần Như Liên Phượng), một người trong nhóm Tiếng Động Mùa Hạ (có Lan Sơn Đài và Triều Uyên Phượng) khá nổi ở tỉnh Sóc trăng cùng thời với nhóm Cung Thương Miền Nam có Trần Phù Thế, Nguyễn Lệ Tuân và Mây Viễn Xứ (bút hiệu cũ của Lâm Hảo Dũng) thời bấy giờ.

Thực ra, để nhắc tới một người mà mình không biết gì nhiều về thân thế và sự nghiệp của người ấy là một điều hết sức khó khăn. Khó khăn vì sự biết của mình quá nghèo nàn, nên tôi chi muốn nhắc về anh Trần Phong Giao với một vài ký ức nho nhỏ mà tôi có biết, có nhớ và luôn trân trọng.

Anh Trần Phong Giao không còn làm Thư ký tòa soạn bán nguyệt san Văn từ năm 1971, mà sau này tôi nghe ai đó đã nói anh dành thời gian sau đó của mình để dịch sách và soạn từ điển, nhưng từ điển bằng ngôn ngữ nào thì tôi không biết. Và trước bao nhiêu chuyện đời vật đổi sao dời, tôi có thể tin rằng anh cũng phải bỏ lại sau lưng mình biết bao nhiêu điều vụn vặt, như trong vị trí một Thư ký toà soạn, ngày xưa anh đã biết không ít những người viết trẻ, những người mà không phải hai mươi năm sau anh còn nhớ họ là ai nếu không có cơ duyên gặp lại.

Đường Phạm Ngũ Lão ngày nay được coi là phố Tây-ba-lô, nhưng ngày xưa nó là đường của các toà soạn báo. Toà soạn tạp chí Văn nằm ở số 38 con đường này. Nhà tôi ở trọ để đi học thì ở trong con hẻm nhỏ góc Phát Diệm và Nguyễn Cư Trinh, đi bộ để gửi bài cho Văn cũng rất dễ dàng. Nhưng thường thì tôi rất ít khi gặp anh Trần Phong Giao. Sau này, khi đi làm xa Sài gòn, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được qua Hộp thư lưu trữ (Poste Restant) những bức thư rất ngắn, thường là nửa khổ giấy trắng có in chữ triện màu đỏ là logo tạp chí Văn. Đó là lần anh trả lời tôi rằng tôi nên chọn tác phẩm khác hơn Of Human Bondage của William Faulkner để dịch vì đã có dịch giả bậc thầy dịch quyển này rồi. Và một lần khác mà tôi rất nhớ là khi anh gửi cho tôi bản vỗ bài thơ Khi Cuộc Chiến Tàn, trên đó anh viết “Bài đã lên khuôn nhưng không đăng được. Gửi cậu làm kỷ niệm”. Đó cũng là lần tôi thấy nét chữ viết tay của anh Trần Phong Giao, bởi anh thường viết cho tôi (chắc cũng như cho những người khác) bằng máy đánh chữ, bắt đầu là “Thăm cậu” và cuối cùng là hai chữ “Tình thân” trước khi anh ký tên.

Sau năm 1975, có một khoảng thời gian gần 10 năm (1989 -1998) tôi lưu lạc trên đất Bắc, nên bạn bè thường cho rằng cái bút danh của tôi nó vận vào đời mình cũng như tập truyện ngắn đầu tay mang tên Xe Lửa Chạy Đường Vòng (Vùng Lên, 1967) đã dự báo cho tôi một cái vòng không trốn đi đâu cho thoát. Một lần về Nam (1995), anh Ngô Nguyên Nghiễm cho tôi biết rằng anh Trần Phong Giao hai lần gửi thư ra Hà Nội theo địa chỉ bạn tôi cho (40 Phố Nhà Chung, Quận Hoàn Kiếm), nhưng thư đã bị phát hoàn. (Đó là thời gian năm 1992, tôi đang làm việc ở Yên Bái).

Tôi tìm đến thăm anh ở trong một khu phố gần chân Cầu Kiệu (đường Hai Bà Trưng, Tân Định). Anh cẩn thận cắt từ tuần báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh trang báo có bài anh viết để nói về bài thơ Khi Cuộc Chiến Tàn của tôi mà tạp chí Văn (khoảng năm1968 – 1969) không giới thiệu tới người đọc được vì một lý do là bài thơ bị Sở Kiểm Duyệt thuộc Bộ Thông Tin Sài gòn cũ đục bỏ 15 trong số 31 câu của bài thơ . Anh còn không cho tôi được từ chối cái phong bì anh mang từ trên gác xuống có ba mươi ngàn đồng gọi là tiền nhuận bút.

Đó là một lần duy nhất tôi có thể thong thả ngồi uống nước chè xanh, trò chuyện với anh, tại nhà riêng của anh, được nhìn thấy anh trong bộ quần áo bình dị mặc ở nhà và được ngắm nhìn hai bức tranh sơn dầu rất đẹp của họa sĩ Đinh Cường và hoạ sĩ Rừng mà anh đã treo trang trọng trên bức tường đối diện với salon chúng tôi đang ngồi.

Đọc trong bài anh viết tháng XII.91 và gửi đăng trên báo Văn Nghệ Tp. HCM số 25 (từ 23/01/92 đến 29/01/92), tôi biết là thời gian của mỗi một con người sau bao nhiêu vất vả của đời thường sẽ để lại trong ta rất nhiều điều khi nhớ, khi quên … Đó là anh đã nhớ trong 10 năm làm Thư ký toà soạn tạp chí Văn, anh đã bao lần được Sở Kiểm Duyệt chế độ Sài gòn mời lên “để khuyến cáo rằng đừng có đăng thơ văn phản chiến”. Nhưng tôi biết rõ là anh đã quên là mấy lần anh có gặp tôi ở Toà soạn báo Văn, mà tôi còn nhớ rõ: Đó là lần đầu tiên tôi có truyện ngắn Vết Sẹo được chọn đăng trên Văn số 59 (p.123 đến p.132 ngày 01.06.1966) và cũng trên trang 2 trong số này (trang dành riêng cho các bậc tiền bối như Đông Hồ, Bùi Khánh Đản, Vũ Hoàng Chương …) lại đăng bài thơ Buổi Chiều Ở Sài gòn của một hậu sinh như tôi. Khi tôi mang bài mới đến gửi tại Toà soạn, anh Trần Phong Giao đang đứng sau cái bàn làm việc bừa bộn giấy tờ thấy tên tôi trên bản thảo (mà tôi thường viết bằng bút bi trên mặt lưng giấy in ronéo khổ 21×33 của bản tin ngắn do Thông Tấn Xã Việt Nam thời đó phát hành hằng ngày cho các nhật báo), thì anh đã hỏi: “Cậu đấy hả? Lưu Vân đấy à?”. Rồi anh móc trong chiếc cặp da lấy ra hai trăm đồng đưa tôi: “Cậu cũng biết là từ truyện ngắn thứ hai được đăng, toà soạn mới trả nhuận bút. Tiền này là tiền tôi thưởng cho cậu!”.

Thể lệ của tạp chí Văn khi chọn bài để đăng thì tôi vẫn biết. Nhuận bút dành cho truyện ngắn thì từ truyện thứ hai được chọn đăng mới có (và hình như cũng chỉ ở mức hai trăm đồng), riêng thơ được đăng là hai tập báo biếu, dù đó là bài được đăng trên báo Xuân. Hai trăm đồng nhận từ tay anh Trần Phong Giao lúc ấy thật vô cùng quý báu mà tôi không thể nào quên, trong khi anh thì không hề nhớ và còn viết rằng “nhưng tôi vẫn tiếc là chưa gặp mặt tác giả lần nào” (VN Tp.HCM số 25).

Hai lần khác, tôi đã đến 38 Phạm Ngũ Lão gặp anh theo lời nhắn tin trên Văn: Lần đầu, tôi đến để nhận lại bản thảo truyện ngắn Đuổi Dù Trái Sáng để về tự cắt gọt lại khi anh phê bình là “Cậu viết gì như Lê Xuyên vậy?”. Và lần thứ hai, sau khi truyện ngắn này được đăng, tôi đến để nhận được ba trăm đồng tiền nhuận bút và một cái thư của Hồ Minh Dũng từ Huế viết gửi tôi, có câu: “Tôi và Mường Mán cũng thường nhìn thấy trái sáng hằng đêm, nhưng không viết được như anh“.

Lâu nay, từ sau ngày anh mất, tuy có nghe nói anh có một người con – hình như là con gái – đã làm việc cho báo Sài gòn Giải Phóng, nhưng nhiều bạn bè và tôi cũng chưa tìm gặp được để viếng thăm và tìm hiểu thêm tư liệu về một người có nhiều năm gắn bó với văn học miền Nam trong thời chiến.

Và vì nhiều lý do, tôi cũng chỉ biết xin mượn nguyên văn câu cuối cùng trong bài viết ngắn của anh Trần Phong Giao về tôi trong bài Bài Thơ Năm Trước (VN Tp.HCM số 25 – 01/92) rằng: “Nay biết đâu nhờ phổ biến rộng rãi mà tôi (được gặp lại hoặc) được cho hay tin về một ‘cố nhân’, nghĩ cũng là chuyện đáng mừng”./-

L.V.

(Long Thành, 13.10.09)


Phụ bản 1: Bài thơ “Khi Cuộc Chiến Tàn” không được giới thiệu trên tạp chí Văn vì lưỡi kéo kiểm duyệt của Sở Kiểm Duyệt Sài Gòn (giai đoạn 1968-1969).

khi cuộc chiến tàn

Khi cuộc chiến rất vô cùng mệt mõi
và không còn tiếp tục được nữa
thì một số trong chúng ta riêng rẻ một chỗ ngồi
với bánh xe tay lăn lăn – đi tìm giấc ngủ
kẻ bán rẻ giác quan
cho không thân xác
cho không cuộc đời.

Khi cuộc chiến tàn như đốm lửa nguội dần sức nóng
thành phố sẽ buồn thiu
chợ không là chợ
nhà không là nhà
người người xa lạ.

Sẽ có nhiều thứ được chất đống
ta sẽ đi buôn – ít vốn nhưng nhiều lời
những bè bạn chắc sẽ cần các khẩu súng dài,
các kiểu mã tấu – để làm nạng chống
những đứa trẻ chắc sẽ cần những mảnh bom
để làm chiếc bánh cát trên bãi biển
một ngày nóng như bây giờ
những người vợ chắc sẽ cần những vỏ đại bác
làm lọ cắm hoa bàn thờ chồng
(những người chồng buổi sáng còn ấm vòng tay,
buổi chiều đã lạnh)
những người mẹ chắc sẽ cần rất nhiều bao cát
để lấp thêm mồ con
những nông dân chắc sẽ cần những ao bom trong ruộng lúa
để thả cá
và những người lính ngoại quốc chắc sẽ cần những đứa con lai
để mang về xứ như một chiến lợi phẩm.

Rồi chắc mọi người trong chúng ta
sẽ cần rất nhiều thuốc đạn để làm pháo bông
đốt trong đêm mừng
mừng những người đã chết thật vô cớ
mừng sự sống chúng ta thật ngu xuẩn
bởi chúng ta sẽ còn thấy sự tàn tật trong tâm hồn mình
bởi thức ăn đã khét thuốc súng,
đã cay sè nước mắt,
đã đắng mùi máu người
và bởi tình yêu thì bay cao
khi một số lớn con trai đã cho không hơi thở họ.

Khi cuộc chiến đã rời xa tay người nắm giữ
thì chúng ta còn phải học những bài tập làm quen
với các khoảng trống to lớn trong gia đình
thân nhân – bè bạn – và chính mình.

L.V.
(Cuối năm Mậu Thân –
đầu năm Kỷ Dậu)

Phụ bản 2: Thủ bút và bài viết “Bài Thơ Năm Trước” của Trần Phong Giao cùng với bài thơ “Khi Cuộc Chiến Tàn” của Lưu Vân  trên Văn Nghệ TP HCM tháng 1/1992

Lưu Vân - Trần Phong Giao

Phụ Bản 3: Bìa tạp chí Văn số 22 “Tưởng Niệm Khái Hưng” [lẽ ra] có bài thơ của Lưu Vân

bìa báo Văn số 22

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

3 Bình luận

  • LTT says:

    Tôi xin ghi lại vài đoạn trong “Lời Nói Đầu” của bản dịch cuốn KIẾP NGƯỜI (“OF HUMAN BONDAGE” của WILLIAM SOMERSET MAUGHAM) do dịch giả NGUYỄN HIẾN LÊ viết:(*)

    “Đã từ lâu tôi được biết nhiều nhà phê bình Anh, Pháp, Mỹ khen tiểu thuyết OF HUMAN BONDAGE của William Somerset Maugham là một trong những tác phẩm hay nhất của tác giả mà cũng là một trong những tác phẩm “quan trọng” nhất của thế giới, từ đầu thế kỷ đến đại chiến vừa rồi, nên tôi có ý tìm mua để đọc; và cách đây tám năm tôi mới kiếm được bản dịch ra tiếng Pháp, nhan đề là “Servitude Humaine” của bà E.R.BLANCHET, do nhà Editions de Paris xuất bản. Bản dịch rất hay.”
    …..

    “Đọc xong lần đầu tôi đã có ý muốn dịch, nhưng còn ngại tác phẩm dài quá mà nửa đầu có rất nhiều đoạn tả phong tục, đời sống trong gia đình, học đường và xã hội bên Anh cuối thế kỷ trước, làm cho động tác truyện chậm lại, độc giả dễ chán, không chịu đọc tiếp tới nửa sau, mà nửa sau nầy mới thú vị nhất. Tôi đã định xin tác giả cho phép cắt bớt những đoạn đó đi mà rút ngắn lại còn chừng ba bốn trăm trang, nhưng sợ tác giả không bằng lòng, hoặc có chăng thì bắt phải chỉ rõ sẽ cắt những đoạn nào, từ hàng nào tới hàng nào rồi nối lại ra sao…, như vậy sẽ phiền lắm, tôi chưa rảnh để làm được. Cho nên dự định trên đành gác lại.”

    Thì may sao, cách đây hai năm rưỡi, vào tiệm Khai Trí ở Sài Gòn, tôi vô tình thấy một bản rút ngắn bằng tiếng Anh của nhà xuất bản CARDINAL, in lần thứ bảy, tháng Hai năm 1957.

    Về tới nhà, tôi coi ngay bài tựa của William Somerset Maugham trong đó ông đã bằng lòng cho nhà Cardinal rút ngắn mà “không hề do dự lấy một phút”. Đại ý ông bảo:

    “Tiểu thuyết là một hình thức rất lỏng lẻo, không hoàn toàn của nghệ thuật. Nó không như một bức tranh mà mỗi chi tiết có giá trị riêng, chi tiết này cân xứng với chi tiết kia; cũng như một bản nhạc liên hoàn mà cắt đi chừng vài chục nhịp là sẽ không còn ý nghĩa gì nữa…”
    ……

    “Tiểu thuyết gia nào mà nghĩ rằng mỗi chữ của mình viết ra đều có tính cách thiêng liêng, rằng hễ bỏ đi một dấu phết, đổi chỗ một dấu chấm phết thì tác phẩm sẽ hỏng, là nhà ấy điên khùng. Một tiểu thuyết không phải là một công trình khoa học, cũng không phải là một công trình kiến trúc.”
    ……………

    Đọc xong bài tựa đó tôi không còn do dự gì nữa, nhất định rút ngắn rồi dịch. Tôi so sánh bản rút ngắn của nhà Cardinal với bản đầy đủ bằng tiếng Pháp (tôi không có bản này bằng tiếng Anh) của bà Blanchet thì thấy cách rút ngắn của nhà Cardinal rất hợp với ý tôi: cắt từng đoạn dài một, tuyệt nhiên không tóm tắt một đoạn nào cả mà ba phần tư những đoạn bị bỏ đều thuộc nửa đầu của truyện…”
    …….

    “Tôi đã xin phép tác giả dịch theo bản đó và tự ý cắt thêm ít đoạn nữa, mà độc giả nước mình không thấy thích vì tả đời sống bên Anh, bên Đức…. Trái lại tôi cũng thêm vào bốn năm đoạn, có trong bản đầy đủ mà bị cắt trong bản của nhà Cardinal…”(1)

    Sài Gòn ngày 21-7-1961

    (1) OF HUMAN BONDAGE có lẽ là do một câu của Spinoza đại ý rằng tình cảm là sự thúc phọc của con người, hễ đa cảm thì đa lụy. Chúng tôi dịch ra KIẾP NGƯỜI vì thấy những nhân vật trong truyện không phải chỉ đau khổ vì đa cảm.
    ============================

    (*) Cuốn “OF HUMAN BONDAGE” của William Somerset Maugham, dịch giả NGUYỄN HIẾN LÊ dịch KIẾP NGƯỜI (bản dịch đã sửa chữa), do nhà xuất bản Văn Nghệ xuất bản, California, USA 1988. (Lời nói đầu, các trang VII, IX, X, XI, XII, XVIII)

  • Đặng Tiến says:

    Gửi Luu Vân:
    Vui đọc đươc bài viêt chí tình.

    Khi giận ông Vượng, TPG thường nói: tôi chỉ là kẻ lãnh lương, anh dùng chữ Pháp, salarié.
    Nói là có ban tuyển đọc, kỳ thật anh ấy làm một mình, khi gặp khó khăn, mới hỏi ý kiến vài người thân.

    Thường ký ” tình thân” vì anh ấy, trong nhà tên Tình, đọc trại tên Trần đình Tĩnh.
    Con gái đúng là làm ở tòa báo gì đó.Muốn đến, mà ngại, thì cứ nói là chú Đặng Tiến nhắn nhờ tìm giúp bài Tần Tế Xưong 1967.

    Of Human Bondage là của Maugham, Nguyễn hiến Lê dịch qua bản tiếng Pháp, De la Servitude Humaine, 1915. Dường như là Thân phận làm Người.

    Phiên phiến, tình thân.
    Đặng Tiến.

  • Phan Đức says:

    Xin phép được nhắc nhở tác giả bài viết là tác phẩm “Of human bondage”
    là của tiểu thuyết gia Anh Somerset Maugham chứ không phải của nhà văn
    Mỹ William Faukner như tác giả nhớ sai.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)