Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Giới thiệu tác giả, Sang Việt ngữ Email bài này

Nobel văn chương cho HM: PHÉP MẦU NGÔN NGỮ


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 14.10.2009

 herta_muller_par Nicoleta Ionescu

Herta Mueller, qua phiếm họa của Nicoleta Ionescu

 

Đối với Herta Mueller, người vừa đoạt giải Nobel văn chương hiện đang sống tại Berlin, viết trong và sau chế độ độc tài có nghĩa tất yếu là viết về chế độ độc tài.

“Khi tôi còn sống ở Rumanie”, HM nhớ lại, “nhiều bạn bè nhưng cũng có nhiều người lạ thường đến thăm. Tôi ở trong một khối nhà màu xám, xây lệch, được dựng lên bằng những mảnh bê tông đã làm sẵn, ở rìa thành phố. Nhưng họ thì muốn nhìn cái làng, nơi tôi xuất xứ”. HM đã bực mình vì điều ấy, bởi vì bà biết rằng: điều mà những bạn bè hay người lạ tìm không phải là cái làng, mà họ tìm cái không gian văn học đã làm nên nhà nữ văn sĩ xuất thân từ cái làng kia; họ đã tìm cái thực tại thứ hai, thi ca đàng sau chân lý. Nhưng hiện thực thứ hai chỉ nắm bắt được không qua sự nhìn ngắm du lịch mà chỉ qua kinh nghiệm ngôn từ: thi ca là chân lý.

“Họ muốn nhìn những “vùng đáy” trong làng, M nói tiếp ám chỉ quyển tiểu thuyết đầu tay của bà, đã xuất bản năm 1982 ở Rumanie trong tình trạng bị kiểm duyệt cắt xén và năm 1984 tại CHLB Đức trong tình trạng phục hồi đầy đủ nội dung. Lập tức “Những vùng đáy” đã gây sôi nổi trên sân khấu văn chương Đức. Người ta chưa nghe một thứ ngôn ngữ như thế. Đó là thời của chiến tranh lạnh, và những tin tức, đến với những người Tây phương từ một làng nhỏ vùng Banater Schwaben, thiểu số nói tiếng Đức ở Rumanie, đã gây chấn động trong nhiều viễn tượng. HM đã được truy nhận ngay là kẻ có tâm cỡ, và tiếp theo là những giải thưởng, mà thêm vào đó hiện nay giải thưởng lớn nhất.

Chiến thắng sợ hãi

Trưa hôm qua (08. 10. 2009) lúc 13 giờ, Viện Hàn Lâm Khoa học Thuỵ Điển đã tuyên bố giải văn chương Nobel 2009 cho HM; ngày 10 tháng 12 bà sẽ nhận giải thưởng văn chương lớn nhất thế giới từ tay của vị vua Thuỵ Điển tại Stockholm. Sự chọn lựa nữ tác giả, sinh năm 1953 tại Nitzkydorf ở Lỗ mã ni, đã học môn Đức ngữ học và Ngữ học Lỗ mã ni ở Temeschwar và về sau làm cô giáo dạy Đức ngữ, đã làm nhiều người ngạc nhiên vì tuổi tác tương đối trẻ của bà, mà cũng vì trước đây 2 năm với Doris Lessing đã có một phụ nữ đoạt giải cũng như vì người ta ít thấy trao giải cho phụ nữ. Tuy nhiên, thực sự chọn lựa ấy không làm ngạc nhiên. Bởi vì không chút nghi ngờ, HM là một tiếng nói độc sáng không những của văn chương tiếng Đức, mà cả của thế giới, như ban giám khảo nhấn mạnh.

Sự chọn lựa thật khôn ngoan, có khiếu thẩm mỹ, táo bạo, nhạy cảm về chính trị và như thế thật là đáng mừng. Giải thưởng dành cho nữ tác giả đã cống hiến công trình đến nay của bà cho những kinh nghiệm về chế độ độc tài trong nghĩa rộng nhất. Như đồng nghiệp người Hung Gia Lợi Imre Kertész, như mỗi nhà văn học tầm cỡ thế giới, HM hoàn toàn vô nhiễm trước tính đa cảm và đạo đức. Đụng chạm chính trị, ví dụ việc gia nhập của Lỗ mã ni vào EU, Cộng đồng Châu Âu, bà lý luận hoàn toàn chính trị. Trong trường hợp này bà cảnh cáo rằng, Lỗ mã ni, một khi đạt được vai hội viên của EU, sẽ để yên cái quá khứ tội phạm, không vẻ vang của nó. Đó là một cảnh báo có tính chính trị, nên nhớ cho, chứ không phải có tính thẩm mỹ. Ngược lại bà nhấn mạnh vẻ thẩm mỹ trong khi chống chế độ độc tài, rất ấn tượng trong những tiểu thuyết “Con chồn thuở xưa đã là thợ săn” (1992), “Con thú trái tim” (1994), “Hôm nay tốt hơn tôi đừng chạm trán với tôi” (1997), và những tập tiểu luận “Con quỉ ngồi trong tấm gương” (1991), “Đói và lụa” (1995), hay “Ông vua thỏa hiệp rồi hạ sát thủ” (2003).

Một tiếng Đức từ xa

Ai gần HM và quen thân bà, thì biết người phụ nữ ấy bản chất rụt rè. Hầu như bà vẫn giữ sắc diện của cô gái mỏng manh, bối rối, không thích ăn, mà bà đã tả một cách nên thơ không từ tốn trong không gian của ngôi làng nọ, trong đó một thứ sợ hãi cũ xưa – thân thuộc gia đình – và một thứ sợ hãi mới – có tính xã hội chủ nghĩa – hòa quyện với nhau một cách toàn hảo và tạo đươc sự biểu lộ trong sức mạnh chống lại mọi sống động hiện tiền. Mueller viết: “Tôi không lấy làm điều cho lắm khía cạnh ảo thuật của thời thơ ấu”.

Nhưng người ta không lầm: đằng sau sự sợ hãi được nhận ra một cách chuẩn xác, thứ sợ hãi lẻn qua mỗi kẽ rách của cuộc sống, có một chủ thể tính đặc thù, dai sức. HM chịu ơn nó đã giúp bà sống còn. Bà đã không tự sát để làm vừa lòng mật vụ, nhiều lần HM nhận định một cách cụt lủn đến chưng hửng.Ý chí sống còn biểu lộ trong sự tin tưởng say mê vào ngôn ngữ và những khả thể tạo hình của nó.

Không biết có tình trạng trưởng thành không? một lần bà đặt câu hỏi có tính tu từ (rhetorisch) như thế. Rất tiêu biểu cho HM, người thật sự nắm bắt ngôn từ với tính chắc chắn phổ quát, với một trực tính vượt lên trên những thế hệ và giống tính. Phép mầu của ngôn ngữ, được thể hiện nơi bà, không tùy thuộc lãnh vực của tiểu sử cá nhân, ngay cả khi nó có thể thay đổi cuộc đời của bà như bây giờ. Lối sử dụng ngôn ngữ của bà thuộc vào truyền thống; một truyền thống k.u.k (đế và vua), một cảnh sắc địa giới, trong đó một thời ngôn ngữ Hung, Lỗ, Nga, Ukran, Do Thái và Đức đã sống bên nhau.

Không phải ngẫu nhiên mà người ta có cảm giác được gợi nhớ đến Paul Celan nơi cuốn tiểu thuyết mới nhất của bà, Xích đu hơi thở (Atemschaukel), phát thệ một trại lao động thuộc Nga cho người Lỗ mã ni với những ẩn dụ như “thiên thần đói” hay “cái xẻng tim”. Paul Celan, sinh ở Czernowics, xuất thân từ cùng một địa cảnh ngôn ngữ. Tiếng Đức của HM không liên kết với văn chương liên bang Đức, đó là thứ tiếng Đức từ phương xa, trong sáng mà đồng thời đầy huyền thoại.

Khi Ban giám khảo giải Nobel giải thích lý do chọn lựa cho rằng, HM đã tạo nên “địa cảnh cho nỗi vô quê hương” với văn xuôi của bà, thì chắc rằng họ có ý nói thế này: Mật vụ Securitate đã làm đời sống của người được giải Nobel thành địa ngục. Sau khi bà từ chối không cộng tác với họ, bà đã bị sách nhiễu nhiều năm. Cho đến hôm nay bà vẫn thấy chuỗi dây leo còn hoạt động: Ceausescu chết, nhưng tinh thần ông vẫn sống.

Về kỹ thuật viết phải kể đến kỹ thuật “cắt dán” (collage): Mueller cắt chữ và các phần của chữ rồi xếp chúng lại với nhau thành hình ảnh; rõ ràng bà tư duy ngôn ngữ bằng thị giác, và người ta không thể lột bỏ được ấn tượng, một cách nào đó, những thùng lắp ráp ngôn ngữ này xuất phát từ vương quốc ấu thơ: từ đoạn đời mà trong đó tên gọi tìm đến sự vật. Ảo thuật thặng dư này có vẻ là trung tâm năng lực của HM, bất chấp mọi nghi ngờ và tuyệt vọng.

.

bài đã đăng của Ina Hartwig


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)