Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

La Sanh Môn & Trong Khóm Rừng

♦ Chuyển ngữ: 1 bình luận ♦ 9.09.2022

Akutagawa Ryunosuke sinh năm 1892 tại Tokyo, được người vú nuôi từ nhỏ vì không hợp tuổi với cha mẹ, sau đó sống với người cậu, vì mẹ bị bệnh thần kinh. Năm 10 tuổi ông học tiếng Hán và tiếng Anh, đọc các tác giả thời Minh Trị và Edo, cũng như các tác phẩm cổ điển của Trung Hoa và Âu châu. Ông học Đại học Hoàng gia Đông Kinh ban Anh văn, viết luận án về nhà thơ Anh William Morris, và dạy Anh văn vài năm.

Trong những năm ở đại học, ông và các bạn sáng lập một tạp chí văn chương gây được sự chú ý của văn giới, và trở thành lãnh tụ trường phái tân hiện thực. Tuy thường dùng đề tài thời quân chủ và sứ quân, ông luôn thử nghiệm phong cách kể truyện mới với những soi rọi tâm lý sâu sắc. Hai truyện ngắn của ông, La Sanh Môn và Trong Khóm Rừng, được đạo diễn Kurosawa Akira gom lại làm thành phim năm 1950. Akutagawa mất năm 1927 vì uống quá liều thuốc ngủ.

La Sanh Môn (Rashomon, 門生羅, 1915) và Trong Khóm Rừng (In A Bamboo Grove, 藪の中, 1921) dịch theo bản tiếng Anh của Jay Rubin, trích trong Rashomon and Seventeen Other Stories, Penguin Books phát hành năm 2006, với sự cộng tác của Chương trình Xuất bản Văn học Nhật thuộc Cơ quan Văn hóa Nhật Bản. Ngoài ra, bản tiếng Việt cũng tham khảo bản dịch tiếng Anh của Kojima Takashi in trong Rashomon and Other Stories, Liveright Publishing Corp., New York, xuất bản lần đầu năm 1952.

8.2022

La Sanh Môn

Kurosawa dàn dựng cảnh mưa trong phim La Sanh Môn

Chập tối, gã đầy tớ hèn mọn ngồi dưới La Sanh Môn chờ mưa tạnh.

Dưới cái cổng rộng chẳng có ai khác, chỉ duy nhất một con dế bám trên cây cột đỏ khổng lồ mà lớp sơn mài đã bị bong tróc vài chỗ. Nằm trên trục đường lớn quan trọng như đại lộ Suzaku, La Sanh Môn lẽ ra có thể là chỗ trú mưa cho ít nhất vài người nữa – chẳng hạn, một phụ nữ đội nón lá quét sơn mài, hay một triều thần đội mũ đen mềm. Nhưng không có ai ngoài gã này.

Lý do là vào những năm gần đây Kyoto gặp hết tai họa này đến thiên tai khác – động đất, gió lốc, hỏa hoạn, nạn đói – khiến cho kinh đô tàn tạ dị thường. Cổ thư chép rằng người ta đập tượng Phật và đồ thờ cúng còn dính lốm đốm vết sơn dát vàng dát bạc, rồi đem chất đống bên đường để bán làm củi. Toàn thể cố đô lâm vào cảnh nhốn nháo như thế, chẳng ai bận tâm bảo trì La Sanh Môn. Chồn cáo tới sống giữa đống đổ nát, rồi chẳng mấy chốc bọn trộm cắp đến nhập bọn với chúng. Rốt cuộc, người ta có thói đem xác chết vô thừa nhận đến vứt ở tầng gác trên cổng thành, vì thế khu vực quanh đó mang vẻ ma quái làm cho mọi người tránh xa sau khi mặt trời lặn.

Trong khi đó, quạ đổ về vô số. Ban ngày chúng quang quác lượn quanh những hoa văn đuôi cá cao trên mái. Lúc hoàng hôn, bầu trời trên cổng ửng đỏ, bầy quạ nổi bật trên nền trời như rải hạt vừng. Chúng vào gian buồng trên đầu cổng để mổ thịt người chết. Tuy nhiên, lúc này đã khuya nên không thấy con quạ nào. Dấu hiệu duy nhất của chúng ở cổng là những vết phân trắng trên các bậc thềm gãy vỡ, nơi cỏ dại mọc cao qua khe nứt giữa các phiến đá. Mặc bộ kimono xanh đã phai màu, người đàn ông này ngồi ở bậc thềm thứ bảy trên cao nhất, mân mê cái mụn lớn chỗ má bên phải, đăm đăm lơ đãng nhìn mưa rơi.

Như đã nói, gã đầy tớ đang “chờ mưa tạnh”, nhưng thật ra gã không biết sẽ làm gì sau khi mưa tạnh. Tất nhiên, thông thường hắn sẽ về nhà của chủ, nhưng hắn vừa mới mất việc mấy hôm trước, và như đã nói, Kyoto sa sút lạ thường. Hắn bị chủ sa thải sau nhiều năm phục vụ chỉ là hậu quả của sự sa sút đó. Thay vì nói gã đầy tớ “chờ mưa tạnh”, đúng hơn nên viết là “gã đầy tớ hèn mọn bị mắc mưa không có chỗ nào để đi và không biết phải làm gì”. Thời tiết cũng góp phần tạo nên thói đa cảm ủy mị của gã đầy tớ thời đại Hoà An này (1). Mưa rơi từ chập tối và không có vẻ gì sẽ ngưng. Hắn cứ lơ đãng nghe mưa đổ xuống đại lộ Suzaku. Hắn quyết định tìm cách sống thêm một ngày nữa – nghĩa là phải tìm cách làm điều gì đó trong tình thế không có gì để làm.

Mưa rào rào từ xa đến trùm lên La Sanh Môn. Đêm đen kịt kéo bầu trời xuống thấp cho tới khi mây đen nặng trĩu đè lên hàng ngói nhô cao trên đỉnh mái cổng.

Để làm một việc gì khi không có gì làm, hắn phải sẵn sàng làm bất cứ điều gì. Nếu do dự, hắn sẽ chết đói bên bức tường đất hoặc dưới vệ đường. Khi đó người ta chỉ việc khiêng hắn về cổng này để vứt trên gác như con chó. Nhưng nếu hắn sẵn sàng làm bất cứ điều gì…

Nghĩ đi nghĩ lại mãi, đầu hắn vẫn chỉ có một ý. Thời gian cứ trôi qua không biết bao lâu, “nếu” vẫn là “nếu”. Ngay cả khi tự nhủ mình sẵn sàng làm bất cứ điều gì, hắn vẫn không thể tìm đủ can đảm cho kết luận hiển nhiên của cái “nếu” ấy: Mình chỉ có thể làm kẻ trộm.

Gã hắt hơi một cái thật mạnh rồi gượng đứng lên. Buổi tối ở Kyoto buốt lạnh khiến hắn ao ước có chậu than sưởi ấm. Màn đêm buông xuống, gió thổi dữ dội qua mấy cây cột ở cổng. Bây giờ ngay cả con dế đậu trên cột sơn mài đỏ cũng đã đi mất.

Kéo cao bộ kimono xanh mặc ngoài áo lót màu vàng, hắn so vai rụt cổ nhìn quanh cổng. Hắn nghĩ: Giá mà có chỗ nào khuất mưa gió, không sợ mắt ai dòm ngó để có thể ngủ yên một giấc, thì mình sẽ ở đó cho đến rạng đông. Đúng lúc ấy, hắn bắt gặp một cầu thang rộng – cũng quét sơn mài đỏ – dẫn đến tầng gác trên cổng thành. Trên đó chỉ có người chết. Cẩn thận để thanh gươm có chuôi gỗ mộc khỏi tuột mất vỏ, hắn đặt bàn chân đi dép rơm lên bậc thang dưới cùng.

Vài phút sau, khi đã lên được nửa cầu thang rộng, hắn khom xuống như con mèo, nín thở quan sát căn buồng trên đầu cổng. Ánh lửa leo lét trên đó rọi xuống má bên phải của hắn – gò má nổi mụn mưng mủ giữa bộ râu ngắn. Gã đầy tớ tưởng là trên này không có ai ngoại trừ người chết, nhưng leo thêm hai hoặc ba bậc nữa, hắn thấy có kẻ không chỉ đốt lửa mà còn cầm lửa đi qua đi lại. Hắn thấy ánh lửa vàng vọt u ám bập bùng trên trần gác, nơi mạng nhện giăng mắc trong các góc. Không kẻ bình thường nào lại đốt lửa ở đây trong La Sanh Môn vào một đêm mưa như thế này.

Lén lút như thằn lằn, gã đầy tớ rón rén lên đến bậc trên cùng của cầu thang dốc. Rồi lom khom, duỗi cổ thật dài, hắn sợ hãi nhìn chăm chú vào gian buồng trên gác.

Hắn thấy xác chết vứt ngổn ngang ở đó, như lời đồn, nhưng không thể nói là bao nhiêu xác vì chỗ được ánh lửa rọi tới nhỏ hơn hắn tưởng. Dưới ánh lờ mờ, hắn chỉ có thể thấy một số xác trần truồng, một số khác mặc quần áo. Nam nữ dường như lẫn lộn. Thật khó tin rằng họ đã từng sống, vì trông họ giống những hình nhân bằng đất sét, nằm dang cánh tay và há hốc miệng, đời đời câm nín. Vai, ngực và các phần cơ thể nhô ra lờ mờ trong bóng tối, càng khiến cho những bộ phận khuất lấp có vẻ sâu hơn.

Mùi xác thối rữa ập đến, tay hắn đưa vội lên che mũi. Nhưng giây lát sau, bàn tay dường như quên mất nhiệm vụ của nó khi một cảm xúc mạnh đánh tan khứu giác của hắn.

Vì bây giờ mắt gã đầy tớ bắt gặp một kẻ còn sống đang lom khom giữa các xác chết. Kẻ đó là bà lão khẳng khiu mặc kimono đen phai màu, tóc bạc phơ và nom như khỉ. Cầm miếng gỗ thông đang cháy bên tay phải, bà ta nhìn chằm chằm vào mặt một xác chết có mái tóc dài, có lẽ là phụ nữ.

Sáu phần kinh hãi và bốn phần tò mò, gã đầy tớ nhất thời quên thở. Mượn chữ của một nhà văn tiền bối, hắn cảm thấy “tóc trên đầu mọc dày” (2). Khi đó, mụ già cắm cây đuốc thông vào giữa hai tấm ván sàn rồi đặt cả hai tay lên đầu của cái xác mà mụ vừa mới xem xét. Như khỉ tìm bắt bọ chét cho con, mụ khởi sự nhổ những sợi tóc dài của xác chết, từng sợi một. Sợi tóc có vẻ như tuột khỏi da đầu theo mỗi cử động của bàn tay mụ ta.

Mỗi sợi tóc rời ra, nỗi sợ hãi của hắn mỗi giảm, thay vào đó là sự ghê tởm càng lúc càng dữ dội đối với bà cụ. Không, câu đó có thể gây hiểu lầm: đúng ra hắn cảm thấy kinh tởm mọi thứ xấu xa chứ không hẳn là ghê tởm bà lão – cảm xúc ấy cứ lớn lên theo từng phút giây. Nếu bây giờ lại có ai hỏi anh chàng hèn mọn này câu hỏi mà hắn vừa mới nghiền ngẫm dưới cổng: “chịu chết đói hay trộm cắp”, có lẽ hắn sẽ chọn chết đói không chút hối tiếc, vì nỗi căm ghét của hắn đối với cái xấu bùng lên mạnh mẽ, giống như cây đuốc thông bà lão cắm giữa khe ván sàn.

Gã đầy tớ không biết tại sao mụ già nhổ tóc người chết, vì thế hắn chẳng có lý lẽ gì để gọi hành động đó là tốt hay xấu. Nhưng đối với hắn, nhổ tóc xác chết trong đêm mưa ở La Sanh Môn này tự nó là một tội ác không thể tha thứ. Tất nhiên hắn không nhớ rằng, chỉ giây phút trước, chính hắn đã định trở thành kẻ trộm.

Vì vậy, với thôi thúc mãnh liệt, gã đầy tớ nhảy ra khỏi cầu thang, tay nắm chuôi gươm, hắn mạnh mẽ sải bước đến bà cụ đang lom khom. Nhìn thấy hắn, mụ già kinh hoảng giật nảy lên như viên sỏi bắn khỏi giàng ná.

“Mụ định đi đâu?” hắn vừa quát, vừa cản đường bà. Hốt hoảng, bà ta vấp lên xác chết khi định chạy trốn. Bà cố càn qua hắn, nhưng hắn đẩy bà lại. Cả hai lẳng lặng giằng co nhau một hồi giữa các xác chết, nhưng kết quả hiển nhiên. Rốt cuộc gã đầy tớ nắm cánh tay bà lão – da bọc xương như cẳng gà – vật bà xuống sàn.

Hắn gặng hỏi: “Bà làm gì đằng đó? Nói ngay, nếu không ta cho một gươm này .”

Đẩy bà cụ ra, hắn rút gươm khỏi vỏ, dí lưỡi thép trắng trước mắt bà. Bà lão không nói. Cánh tay run rẩy, vai co lại hổn hển, mắt mở trố như lòi khỏi hốc mắt, bà lì lợm câm nín và cố lấy lại hơi thở. Thấy vậy, gã đầy tớ nhận ra rằng mạng sống bà lão này hoàn toàn trong tay hắn. Ý thức mới này lập tức làm nguôi sự căm ghét đang bùng cháy dữ dội trong hắn. Bây giờ hắn chỉ cảm thấy thầm lặng tự hào và đắc chí vì đã thành công mỹ mãn. Hắn cúi nhìn bà ta, và đổi giọng tử tế.

“Đừng lo, tôi không phải là người của huyện đường. Tôi chỉ tình cờ đi ngang cổng này. Tôi sẽ không trói bà hay giải bà đi. Tôi chỉ muốn bà cho tôi biết bà làm gì trên này vào giờ này.”

Bà lão trợn mắt to hơn và chòng chọc nhìn gã đầy tớ. Vành mắt bà đỏ, tinh nhạy như mắt loài chim săn mồi. Rồi như thể đang nhai, bà bắt đầu mấp máy đôi môi nhăn nhúm gần như dính liền với mũi. Hắn thấy yết hầu nhọn của bà nhúc nhích trên cái cổ gầy guộc, và giữa tiếng thở hổn hển, giọng nói quang quác như quạ kêu phát ra từ cổ họng bà đến tai gã đầy tớ.

“Tôi … tôi nhổ … tôi nhổ tóc để làm tóc giả.”

Gã đầy tớ sửng sốt và thất vọng trước câu trả lời hoá ra rất bình thường của bà. Nhưng cùng với sự thất vọng, nỗi căm ghét lúc nãy và sự khinh bỉ lạnh nhạt lại tràn vào tâm hắn. Bà ta dường như nhận ra cảm xúc của hắn. Một tay vẫn cầm mớ tóc dài đã đánh cắp của xác chết, bà lầm bầm và ồm ộp như con cóc đưa ra lời giải thích:

“Tôi biết, tôi biết, nhổ tóc người chết có thể là sai. Nhưng cũng đáng đời cho bọn nằm chết ở đây. Cô này, cái cô tôi nhổ tóc, cô ta hay lóc thịt rắn thành miếng dài một tấc rồi phơi khô để bán như cá khô cho trại cấm binh trong cung. Nếu không chết vì trận dịch thì cô ta vẫn bán khô rắn ngoài đó. Lính cấm vệ thích cá của cô ta, họ mua ăn mỗi ngày. Tôi nghĩ cô ấy chẳng làm gì sai. Cô ấy bán để khỏi chết đói. Cô ấy đâu còn cách nào khác. Còn tôi cũng không nghĩ điều tôi đang làm là sai. Giống nhau thôi, tôi đâu còn cách nào khác. Nếu không, tôi sẽ chết đói. Cô này biết tôi bó buộc phải làm điều phải làm. Tôi nghĩ cô ta hiểu việc tôi nhổ tóc cô ta.”

Gã đầy tớ tra gươm vào vỏ, tay trái đặt lên chuôi gươm, lãnh đạm nghe câu chuyện của bà. Trong khi đó, tay phải hắn mân mê cái mụn nhọt mưng mủ trên gò má. Khi lắng nghe, lòng hắn nảy sinh một thứ can đảm khác – thứ can đảm hắn không có trước đó lúc ngồi dưới cổng – thứ can đảm trái ngược với lòng can đảm đã thúc đẩy hắn bắt giữ bà già. Hắn không còn giằng co giữa hai lựa chọn chịu chết đói hay làm kẻ trộm. Trong tâm trạng hắn lúc này, cái ý nghĩ chịu chết đói gần như bị trục xuất ra khỏi ý thức khiến hắn chẳng còn bận tâm đến nữa.

“Bà chắc là cô ta sẽ hiểu, hả?” gã đầy tớ hỏi dồn với giọng chế giễu. Rồi hắn bước tới, bàn tay phải đang sờ cái mụn nhọt bất chợt vung ra tóm cổ bà. Hắn nắm chặt bà, lời hắn nói như cắn vào da thịt bà: “Vậy thì bà sẽ không trách tôi lột áo của bà. Tôi phải làm để khỏi chết đói.”

Hắn lột áo bà lão, đá hất bà nằm dài lên xác chết khi bà cố bám chặt cổ chân hắn. Sải năm bước, hắn ra đến đầu cầu thang. Kẹp bộ áo của bà dưới nách, hắn lao xuống cầu thang dốc vào đêm tối thăm thẳm.

Mụ già nằm như chết, nhưng không lâu sau, cơ thể trần trụi của mụ ngoi ra khỏi đống xác. Lẩm bẩm, rên rỉ, mụ bò tới đầu cầu thang trong ánh đuốc còn leo lét. Mái tóc bạc ngắn xõa trước mặt, mụ nhìn săm soi xuống chân thang dưới cổng, chỉ thấy tối đen như cái hang.

Gã đầy tớ hèn mọn ra sao, không ai biết.

***

Trong Khóm Rừng

Cảnh quay bóng nắng lấp loáng qua cây rừng trong phim Rashomon

Lời khai của người tiều phu với quan huyện

Đúng vậy, thưa quan lớn. Chính tôi tìm thấy xác. Sáng nay, như thường lệ, tôi ra đốn tuyết tùng trên ngọn đồi sau nhà. Cái xác nằm trong lùm tre bên kia núi. Thưa chính xác ở đâu ạ? Cách tuyến đường đưa thư Yamashina vài trăm mét. Chỗ đó vắng vẻ, có vài bụi tuyết tùng mọc lẫn với tre.

Ông ta nằm ngửa, mặc kimono xanh nhạt, tay áo buộc lên, đội mũ đen rõ các nếp gấp cầu kỳ kiểu Kyoto. Ông ta chỉ bị một vết đâm, nhưng ngay giữa ngực; lá tre quanh xác đẫm máu đỏ thẫm. Thưa không, máu đã ngưng chảy. Vết thương nom đã khô, tôi nhớ có con nhặng lớn mải mê hút máu đến nỗi nó không nghe tiếng chân tôi tới gần.

Thưa tôi có thấy gươm giáo gì không ạ? Không, thưa quan lớn, chẳng thấy cái gì. Chỉ có khúc dây thừng gần cây tuyết tùng kế bên xác chết. Và … ồ vâng, ở đó còn cái lược nữa. Chỉ có sợi dây với cái lược thôi. Nhưng cỏ dại và lá tre trên mặt đất bị giẫm nát, chắc ông ta phải đánh nhau ghê gớm lắm trước khi bị chúng giết. Gì cơ ạ, thưa quan lớn … ngựa à? Không, ngựa không vào được chỗ đó. Từ ngoài đường vào tới đó toàn là lùm tre.

Lời khai của nhà sư đi đường với quan huyện

Thưa ông, chắc chắn hôm qua tôi có gặp ông ấy. Hôm qua lúc … tôi nghĩ là khoảng giờ ngọ. Gần Quan Ải Sơn (3) trên đường đến Yamashina (4). Ông ta đi về hướng quan ải với một cô ngồi trên lưng ngựa. Cô ta đội mũ rơm cứng, tấm mạng dài rủ xuống quanh vành mũ. Tôi không thấy mặt, chỉ thấy bộ kimono của cô ấy. Tôi nghĩ áo ngoài đỏ sẫm, lớp trong màu hoa cà. Con ngựa xám lốm đốm đỏ nhạt, tôi chắc chắn bờm nó được cắt tỉa gọn. Con ngựa lớn hay nhỏ à? Tôi cho là nó cao hơn ngựa thường chừng một tấc. Nhưng tôi đi tu, chẳng biết gì nhiều về ngựa. Còn ông ta à? Không, thưa ông, ông ta đeo gươm dài và cung tên. Tôi vẫn nhớ ống tên sơn mài đen của ông ta, trong ống có khoảng hai mươi mũi tên, có thể nhiều hơn. Tôi không ngờ một người như ông ta lại gặp số phận như thế. Ồ, đời người … như giọt sương, như tia chớp? Thật đáng buồn, thật đáng buồn. Tôi biết nói gì?

Lời khai của trương tuần với quan huyện

Thưa quan lớn, kẻ bị tôi bắt ạ? Tôi chắc chắn hắn là tên cướp khét tiếng Tajomaru. Thưa đúng, tôi bắt hắn lúc hắn ngã ngựa, hắn đang rên rỉ than thở trên cây cầu đá ở Awataguchi. Thưa quan lớn, lúc nào ạ? Lúc phiên gác đầu tiên tối hôm qua (5). Hắn vẫn mặc bộ kimono xanh đậm, vẫn đeo cây gươm dài giống như lần tôi suýt bắt được hắn trước kia. Quan lớn thấy bây giờ hắn còn có cung tên. Ồ, vậy à, thưa quan lớn? Người chết cũng có cung tên à? Thế thì rõ rồi, tôi chắc chắn tên Tajomaru này là kẻ sát nhân. Cây cung quấn dây da, ống tên sơn mài đen, mười bảy mũi tên gắn lông diều hâu … tất cả phải là của nạn nhân. Vâng, như quan lớn nói, thưa quan lớn, con ngựa xám lốm đốm đỏ, bờm nó cắt gọn gàng. Nó chỉ là con vật ngu ngốc, nhưng trời xui đất khiến, nó hất ngã tên cướp đó. Nó đang gặm cỏ ven đường cách cây cầu một quãng ngắn, dây cương kéo lê dưới đất.

Trong tất cả bọn cướp rình rập quanh Kyoto, tên Tajomaru này khét tiếng là đứa háo sắc. Hồi mùa thu năm ngoái, người ở đền Toribe tìm thấy hai Phật tử bị sát hại … một phụ nữ và một đứa bé … trên ngọn đồi phía sau tượng La hán Tân Đầu Lô (6). Mọi người đều nói chắc chắn Tajomaru giết. Nếu hắn đã giết người đàn ông, thì không biết hắn còn làm gì người phụ nữ cưỡi ngựa. Thưa quan lớn, tôi không dám nói nói leo, nhưng tôi thiết nghĩ quan lớn nên tra hỏi hắn vụ đó luôn.

Lời khai của bà cụ với quan huyện

Vâng, thưa ông, con gái tôi kết hôn với người đàn ông chết đó. Nhưng anh ấy không phải dân kinh đô. Anh ấy là samurai phục vụ ở dinh trấn Wakasa. Tên anh ấy là Takehiko thuộc thị tộc Kanazawa, hai mươi sáu tuổi. Không, thưa ông, anh ấy là người tử tế. Tôi không nghĩ có ai thù oán anh ấy tới mức làm như vậy.

Con gái tôi à, thưa ông? Tên nó là Masago, mười chín tuổi. Nó bạo dạn như đàn ông, nhưng người đàn ông duy nhất mà nó biết là Takehiro. Da nó ngăm đen, nó có một nốt ruồi ở đuôi mắt trái, nhưng khuôn mặt nó hình trái xoan nhỏ đều.

Hôm qua Takehiko với con gái tôi về Wakasa, nhưng vận rủi nào lại dẫn đến kết cục này? Tôi không làm gì được cho con rể nữa, nhưng số phận con gái tôi thì sao? Tôi rất lo cho nó. Ôi, xin ông cố hết sức, hãy vạch từng gốc cây ngọn cỏ tìm nó. Tôi đã già, nhưng trong đời tôi chưa hề muốn điều gì như thế này. Ồ, tôi thù ghét tên cướp đó … tên Tajomaru đó! Không chỉ con rể tôi, mà cả con gái tôi… (Đến đây, bà cụ kiệt sức không thể nói tiếp).

Lời thú tội của Tajomaru

Ừ, ta giết người đàn ông. Nhưng ta không giết cô ả. Vậy thì cô ả đi đâu? Ta chẳng biết gì hơn ngươi. Nè, khoan đã … ngươi có thể tra tấn ta mọi kiểu, nhưng ta đâu thể nào nói cho ngươi những gì ta không biết. Vả lại, bây giờ ngươi đã bắt được ta, ta sẽ không giấu bất cứ điều gì. Ta không hèn.

Hôm qua, khoảng sau giờ ngọ, ta gặp hai vợ chồng đó. Đúng lúc ấy, gió nâng tấm mạng che mặt cô ả lên, vì thế ta thoáng thấy mặt. Chỉ thoáng thấy thôi, có thể vì vậy ta thấy ả rất đẹp … như một nữ bồ tát thuần khiết. Ngay lúc đó ta quyết định bắt ả dù có phải giết người chồng.

Ôi dào, giết người đâu phải là chuyện gì ghê gớm như bọn người như ông nghĩ. Nếu ngươi định chiếm đoạt vợ kẻ khác, thì một người đàn ông phải chết. Khi ta giết người, ta giết bằng gươm của ta, nhưng loại người như ông không dùng gươm. Quý vị giết người bằng quyền lực, bằng tiền bạc và đôi khi chỉ bằng lời nói … quý vị bảo thiên hạ là quý vị đang ban ơn cho họ. Đúng là không đổ máu, người ta vẫn sống, nhưng chung quy vẫn là ngươi giết họ. Ta không biết tội ai lớn hơn … tội của ngươi hay tội của ta. (Cười châm biếm.)

Dĩ nhiên, nếu chiếm được người vợ mà không giết chồng thì vẫn hơn. Hôm qua ta đã định làm như thế. Dĩ nhiên không thể làm trên tuyến đường đưa thư Yamashina, vì thế ta bày mưu dụ dỗ họ vào núi.

Dễ thôi. Ta đi cùng với họ rồi bịa chuyện. Ta kể với họ là ta tìm thấy ngôi cổ mộ trên núi, đào ra thấy nhiều thanh kiếm, tấm gương và đủ thứ. Ta nói ta chôn nó trong lùm tre bên kia núi để không ai biết và sẽ bán rẻ cho ai muốn mua. Hắn lập tức tỏ ý muốn mua. Thật đáng sợ cho lòng tham xui khiến con người, phải không? Chưa tới một giờ sau, ta đã dẫn cặp vợ chồng đó với con ngựa của họ lên một đường mòn trên núi.

Khi đến khóm rừng, ta nói kho tàng chôn trong đó, họ nên vào với ta để xem. Lúc đó, hắn đã mờ mắt vì tham, hắn không thể từ chối, nhưng cô ả nói sẽ ngồi đợi trên lưng ngựa. Ta đã tính trước như thế … rừng rất dày. Họ rơi ngay vào bẫy của ta. Bọn ta để cô ả ở lại một mình rồi đi vào khóm rừng.

Lúc đầu toàn là tre. Đi chừng 50 thước, có một lùm tuyết tùng … rất thuận lợi cho ý định của ta. Vạch lối qua lùm cây, ta bịa đặt cách ta chôn giấu kho tàng dưới một gốc tuyết tùng. Nghe như thế, hắn lao tới lùm tuyết tùng khẳng khiu phía trước. Tre thưa dần, tuyết tùng mọc thành hàng. Khi vừa đến nơi, ta từ phía sau ôm lấy hắn rồi vật xuống. Ta thấy hắn rất khoẻ … hắn có gươm … nhưng ta tấn công bất ngờ, hắn không làm gì được. Chẳng mấy chốc ta đã trói hắn vào gốc cây. Dây ở đâu ta có à? Ồ, ngươi biết ta là kẻ trộm … ta có thể phải trèo tường bất cứ lúc nào … vì vậy ta luôn có một đoạn dây thừng dắt lưng. Ta nhét lá tre đầy miệng hắn cho hắn im là xong chuyện.

Xong phần hắn, ta quay lại bảo cô ả là chồng ả bất ngờ ngã bệnh, ả nên tới xem. Dĩ nhiên, ta lại đạt được mục đích. Cô ả tháo mũ ra, để ta dắt tay vào khóm rừng. Nhưng ngay khi thấy chồng bị trói vào gốc cây, ả rút dao găm trong ngực áo ra. Ta chưa hề thấy thiếu phụ nào hung dữ như vậy! Nếu ta mất cảnh giác, cô ả đã đâm dao vào ruột ta. Ả tấn công liên tục, ta rất có thể bị thương dù hết sức tránh né. Nhưng ta là Tajomaru. Bằng cách này cách khác, ta đánh rơi con dao của ả mà không cần rút gươm. Đàn bà dũng cảm nhất cũng vô phương tự vệ nếu không có vũ khí. Vì vậy ta đã có thể chiếm đoạt người vợ mà không cần lấy mạng người chồng.

Ừ, ngươi nghe ta nói đấy, không cần lấy mạng người chồng. Dù sao đi nữa, ta không định giết hắn. Ả nằm khóc dưới đất, còn ta sắp chạy khỏi khóm rừng, bỏ ả ở đó, bỗng nhiên ả nắm cánh tay ta như mụ điên. Rồi ta nghe ả vừa la hét vừa nức nở. Ả thở dốc: “Hoặc là ngươi chết hoặc chồng ta chết. Một trong hai người phải chết. Để hai người đàn ông biết mối nhục của ta còn khổ hơn chết. Ta muốn ở với ai còn sống, dù là ngươi hay nó.” Vì thế ta điên tiết lên muốn giết chồng ả. (Phấn khích áo não.)

Ta nói như thế, ngươi có thể nghĩ ta tàn nhẫn hơn ngươi. Nhưng đó là vì ngươi không thấy vẻ mặt ả … nhất là ngươi chưa hề thấy cặp mắt rực lửa của ả lúc đó. Nhìn cặp mắt đó, ta biết ta muốn ả là vợ ta. Dù có bị sét đánh, ta sẽ lấy ả làm vợ … trong đầu ta chỉ muốn như thế. Không, không chỉ là dục vọng. Ta biết bọn quý phái các ngươi nghĩ như thế. Nếu chỉ muốn thoả thói dâm ô với ả, thì ta đã đạt được rồi. Ta có thể đá ả ngã xuống rồi bỏ đi. Như vậy máu hắn sẽ không vấy bẩn thanh gươm của ta. Nhưng khoảnh khắc mắt ta dán chặt vào mắt ả trong khóm rừng tối đó, ta biết mình không thể bỏ đi nếu chưa giết hắn.

Nhưng ta không muốn giết hắn một cách hèn hạ. Ta cởi trói hắn và thách hắn so gươm. (Đoạn dây bọn nó tìm thấy là sợi dây lúc đó ta ném qua một bên.) Hắn có vẻ rất tức giận khi rút thanh gươm lớn của hắn ra, rồi không nói một lời, hắn thịnh nộ lao vào ta. Không cần kể kết quả cuộc đấu gươm cho các ngươi. Sau hai mươi ba hiệp, lưỡi gươm của ta xuyên qua ngực hắn. Phải đến hai mươi ba hiệp, các ngươi nhớ như thế. Bây giờ ta vẫn khâm phục hắn. Chưa có kẻ nào so gươm với ta được hai mươi hiệp. (Nhăn nhở cười khoái trá.)

Khi hắn ngã xuống, ta hạ lưỡi gươm nhuốm máu, quay tìm ả. Nhưng ả đã bỏ đi! Ta tìm ả trong bụi tuyết tùng, nhưng lá tre dưới đất cho thấy ả không vào đó. Ta vểnh tai lắng nghe tiếng ả, nhưng chỉ nghe tiếng nấc hấp hối của hắn.

Có lẽ ả đã chạy luồn qua bụi rậm để cầu cứu khi cuộc so gươm bắt đầu. Nghĩ vậy, ta sợ tính mạng mình lâm nguy. Ta chộp thanh gươm và cung tên của hắn, rồi chạy thẳng ra sơn đạo. Con ngựa của ả vẫn đứng đó, đang gặm cỏ. Kể cho các ngươi chuyện xảy ra sau đó chỉ phí lời. Nhưng ta đã tống khứ thanh gươm của hắn trước khi đến Kyoto.

Đó là lời khai của ta. Ta biết rốt cuộc đầu ta sẽ bị bêu ngoài nhà tù, vì vậy cứ xử ta tội tử hình. (Thái độ thách thức).

Lời sám hối của thiếu phụ trong Đền Kiyomizu

Sau khi gã mặc kimono xanh thẫm cưỡng bức tôi, hắn nhìn chồng tôi bị trói chặt, rồi cười nhạo báng. Chồng tôi hẳn phải cảm thấy nhục nhã biết bao! Anh càng vùng vẫy và quằn quại vì sợi thừng trói quanh thân thể, nút buộc càng siết chặt vào da thịt anh. Tôi lảo đảo chạy đến bên anh. Không … tôi cố chạy đến anh, nhưng hắn lập tức đá tôi ngã. Và đúng lúc đó, đúng lúc đó tôi thấy vẻ nhìn khôn tả trong mắt chồng. Đúng vậy, không thể tả xiết. Thậm chí bây giờ nhớ lại tôi vẫn rùng mình. Chồng tôi không nói được lời nào, nhưng trong khoảnh khắc ấy, mắt anh đã tỏ hết tâm can với tôi. Ánh mắt ấy không giận không buồn. Chỉ là một ánh khinh miệt lạnh lùng … sự khinh miệt dành cho tôi. Nó khiến tôi đau hơn cả cú đá của tên cướp. Tôi thét lên rồi ngã gục tại chỗ.

Khi tôi tỉnh lại, gã mặc áo bào xanh đã bỏ đi. Người duy nhất còn trong khóm rừng là chồng tôi, vẫn bị trói vào cây tuyết tùng. Tôi gượng ngồi dậy trên lớp lá tre dày khô héo và nhìn vào mặt chồng. Mắt anh vẫn y như trước, vẫn cái nhìn lạnh lùng khinh miệt và căm ghét. Làm sao tôi có thể tả lòng mình lúc đó? Hổ thẹn … đau buồn … tức giận … Tôi lảo đảo đi tới anh ấy.

“Anh ơi! Bây giờ đã đến nông nỗi này, em không thể tiếp tục sống với anh nữa. Em sẵn sàng chết ngay lập tức ở đây. Nhưng anh … vâng, em muốn anh cũng chết. Anh đã chứng kiến nỗi ô nhục của em. Em không thể để anh sống với nỗi nhục này.”

Tôi cố nói hết những điều cần bày tỏ, nhưng chồng tôi cứ đăm đăm nhìn tôi một cách ghê tởm. Tôi cảm thấy ngực mình sẽ vỡ tung lập tức, nhưng kiềm chế cảm xúc, tôi đi tìm thanh gươm của anh trong lùm tre. Tên cướp chắc đã lấy nó … tôi không thấy nó đâu cả … và cung tên của chồng tôi cũng mất. Nhưng may thay, tôi thấy con dao dưới chân mình. Tôi vung dao trước mặt chồng và nói với anh ấy một lần nữa.

“Thế là hết. Cho phép em lấy mạng sống của anh. Em sẽ vào cõi chết theo anh ngay.”

Nghe thấy thế, chồng tôi rốt cuộc cũng mấp máy môi. Dĩ nhiên miệng anh đầy lá tre nên anh không thể nói thành lời, nhưng tôi lập tức biết anh nói gì. Hoàn toàn khinh rẻ tôi, anh chỉ nói, “Giết ta đi.” Nửa mê nửa tỉnh, tôi đâm con dao qua ngực áo kimono xanh nhạt của anh.

Sau đó tôi lại bất tỉnh. Cuối cùng, khi tôi có thể nhìn quanh mình, chồng tôi đã tắt thở, vẫn bị trói vào gốc cây. Một vệt nắng chiều xuyên qua lùm tre và tuyết tùng, rọi lên khuôn mặt tái xám của anh ấy. Nuốt nước mắt, tôi cởi trói cho anh và vứt sợi dây qua một bên. Sau đó … sau đó chuyện gì đã xảy ra với tôi? Tôi không còn sức để kể nữa. Rõ ràng tôi không thể tự sát. Tôi đã kề dao vào cổ mình. Tôi lao xuống hồ dưới chân núi. Vô ích. Tôi vẫn sống đây, nhục nhã vì không thể chết. (Cười bâng quơ.) Có lẽ ngay cả Quan Âm bồ tát từ bi cũng ruồng bỏ một kẻ nhu nhược như tôi. Nhưng bây giờ … bây giờ tôi đã giết chồng, bây giờ tôi đã bị tên cướp cưỡng bức … tôi phải làm gì bây giờ? Bảo cho tôi biết, tôi phải làm gì … (Bất chợt thổn thức dữ dội.)

Lời khai của linh hồn người chết qua bà đồng

Sau khi tên cướp cưỡng bức vợ ta, hắn ngồi ngay xuống đất, cố an ủi cô ấy. Tất nhiên, ta không nói được, ta còn bị trói vào cây tuyết tùng. Nhưng ta vẫn cố dùng mắt ra hiệu cho cô ấy: Đừng tin bất cứ điều gì hắn nói với em. Hắn nói dối đấy. Ta cố tỏ ý ta cho cô ấy, nhưng cô ấy cứ co rúm lại trên lá tre, đăm đăm nhìn đầu gối. Ồ, này, ta có thể thấy cô ấy lắng nghe hắn. Ta dằn vặt vì ghen tức, nhưng tên cướp tiếp tục gạ gẫm chuyện này qua chuyện khác. “Bây giờ thân xác đã hoen ố, cô sẽ không thể sống với chồng như trước nữa. Đừng ở với hắn … theo làm vợ ta! Vì quá thương nên ta mới cưỡng bức cô.” Tên cướp cả gan nói như thế với cô ấy!

Khi vợ ta ngước lên trả lời hắn, cô ấy gần như hôn mê. Ta chưa bao giờ thấy cô ấy đẹp như lúc đó. Các ngươi nghĩ người vợ xinh đẹp này của ta nói gì với tên cướp, trước sự chứng kiến của ta … trước sự chứng kiến của người chồng đang bị trói tay chân? Linh hồn ta bây giờ có thể đang vất vưởng giữa kiếp này và kiếp sau, nhưng mỗi khi nhớ tới câu trả lời của cô ấy, ta lại bừng bừng tức giận. Cô ấy bảo hắn: “Được, cứ đem ta đến nơi nào ngươi muốn.” (Im lặng một hồi lâu.)

Và tội của cô ả đối với ta không chỉ có thế. Nếu chỉ như vậy, ta đã không đau khổ trong cõi tối tăm này. Để hắn nắm tay, cô ả bước ra khỏi lùm tre như đang mơ, rồi sắc mặt bỗng tái xanh, quay lại chỉ vào ta rồi thét lên: “Giết nó đi! Giết nó đi! Ta không thể sống với ngươi nếu hắn còn sống!” Cô ả thét lên nhiều lần, như mất trí, “Giết nó đi!” Thậm chí tới nay những lời như dông bão của cô ả còn chực hất ta ngã chúi xuống vực thẳm tối tăm. Xưa nay có bao giờ những lời đáng ghét như thế thốt ra từ miệng con người? Có bao giờ những lời đáng nguyền như thế giáng vào tai người? Có bao giờ … (Một tràng cười nhạo báng.) Thậm chí tên cướp cũng tái mặt khi nghe cô ả nói. Ả níu cánh tay hắn rồi lại thét lên, “Giết nó đi!” Tên cướp nhìn ả đăm đăm, không nói hắn sẽ giết hay không giết ta. Nhưng ta thấy ngay lập tức hắn đá vợ ta ngã dài trên đám lá tre. (Một tràng cười nhạo báng nữa.) Tên cướp từ tốn khoanh tay quay lại nhìn ta.

Hắn hỏi: “Ngươi muốn ta làm gì ả? Giết hay tha? Chỉ cần gật đầu. Giết ả chứ?” Chỉ những lời này cũng đủ cho ta sẵn sàng tha thứ tội ác của tên cướp. (Lại im lặng một hồi lâu.)

Khi ta ngập ngừng chưa trả lời, cô ả thét lên rồi lao sâu vào lùm tre. Hắn phóng theo, nhưng ta nghĩ hắn thậm chí không sờ được tay áo cô ả. Ta thấy cảnh đó tựa như ảo ảnh.

Sau khi vợ ta chạy mất, tên cướp nhặt thanh gươm và cung tên của ta, rồi cắt đứt một sợi dây trói ta. Ta nhớ đã nghe hắn vừa đi khuất khỏi lùm cây, vừa lẩm bẩm: “Bây giờ tới lượt mình chạy.” Rồi bốn bề im lắng. Không … ta nghe tiếng khóc. Vừa tự cởi trói, ta vừa lắng nghe, cho đến khi ta nhận ra … ta nhận ra chính mình đang khóc. (Lại im lặng một hồi lâu.)

Cuối cùng, mệt lả, ta đứng dậy bên gốc cây. Trước mặt ta là con dao vợ ta đã đánh rơi. Ta nhặt nó lên, đâm vào ngực mình. Một ngụm máu trào lên miệng, nhưng ta không thấy đau. Ngực ta lạnh dần, rồi vạn vật chìm vào tĩnh lặng. Tĩnh lặng tuyệt đối biết bao! Không một con chim nào đến hót trên bầu trời nơi khóm rừng bên sườn núi khuất nẻo ấy. Chỉ một tia nắng hiu hắt nấn ná trên cao giữa các nhánh tuyết tùng và tre. Dần dần, nắng cũng nhạt, tre và tuyết tùng cũng mờ dần. Ta nằm đó, bao bọc trong im lắng sâu thẳm.

Rồi có tiếng chân rón rén tới. Ta cố xem đó là ai, nhưng bóng tối đã vây quanh. Ai đó … bàn tay vô hình của ai đó nhẹ nhàng rút con dao ra khỏi ngực ta. Một lần nữa, máu lại trào lên đầy miệng ta, nhưng sau đó ta chìm hẳn vào cõi tăm tối giữa các kiếp người.

***

(1) Bản tiếng Anh: “the sentimentalisme of this Heian Period menial”. Thời kỳ Hoà An (794 – 1185), kinh đô Nhật dời về Kyoto, triều đình vững mạnh, chữ viết tiếng Nhật thành hình giúp thơ văn bản địa ra đời và phát triển rực rỡ. Nhiều tác phẩm đặc sắc và truyền cảm trong thời kỳ này viết bằng chữ Nhật, tác giả là các công nương và cung nữ không được học chữ Hán, điển hình là Truyện Genji (Genji monogatari) và Tập sách để trên chiếc gối (Makura no Sōshi).

(2) Dịch từng chữ theo bản tiếng Anh của Rubin: “the hairs on his head were growing thick”. Theo ghi chú trong bản tiếng Anh, người kể chuyện dùng cách viết trong cuốn Tuyển tập truyện cổ (Konjaku monogatari, 今昔物語集, Kim tích đồ ngữ tập), một tác phẩm không rõ tác giả vào khoảng thế kỷ 12, để nói tóc “trên đầu dựng đứng”.

(3) Bản Rubin ghi “Checkpoint Hill”; bản Kojima “Sekiyama”. Tiếng Nhật 関山, “quan san”, cửa ải trên núi.

(4) “Yamashina”, 山科, địa danh của một sơn trấn quan trọng giáp ranh phía đông nam kinh đô Kyoto thời kỳ Hoà An.

(5) Bản dịch của Jay Rubin ghi chú là 8 giờ tối.

(6) Binzuru (tiếng Nhật びんずる, tiếng Hán 賓頭盧), một trong 18 vị La hán trong truyền thuyết Phật giáo.

 

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

1 Bình luận

  • Long Nguyen viết:

    La Sanh Môn
    Địa Ngục Môn

    Địa Ngục Môn (1953) Jigokumon Gate of Hell. Ra đời sau La Sanh Môn 3 năm. Và nó là một phim khác gây kinh ngạc cho điển ảnh thế giới lúc bấy giờ. ĐNM thắng giải Grand Prix (Cành Cọ Vàng) về phim đẹp nhất. Thắng Oscar 2 lần, phim ngoại quốc xuất sắc nhất và đẹp nhất. ĐNM nổi tiếng ngang với LSM thời đó. ĐNM còn có phần nhỉnh hơn LSM về phương diện nghệ thuật Best picture movie.

    Nếu LSM có nội dung nổi tiếng về tâm lý và sexuality thì ĐNM là đạo lý, đam mê, và lòng chung thủy của người phụ nữ. Đối với VN, không rõ vì sao, khi nói tới LSM thì người Việt giới xem phim tự động kèm theo tên ĐNM. Phim ĐNM còn được đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga phóng tác thành tuồng Sanh Dưỡng Đạo Đồng khá hay mà người VN rất thích.

    https://thuvienhd.com/phim/dia-nguc-mon-gate-of-hell-jigokumon-1953?fbclid=IwAR3kHMTM6W1DdkXY2KQ6U0oQUujFBVYz919s39D-3ald26hoPfeM3765Wgs

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)