Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Từ Sài Gòn đến Kabul (3)

0 bình luận ♦ 29.09.2021

 

 

Lời Người Dịch: Bài này là bài cuối cùng trong loạt ba bài về việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan tháng 08/2021 do Mặc Lý chọn dịch hoặc viết.

Bài 1: Cái nhìn từ và vào bên trong nước Mỹ – Tương lai của siêu cường Hoa Kỳ. Người viết: Francis Fukuyama, người dịch: Mặc Lý.

Bài 2: Cái nhìn từ bên ngoài nước Mỹ – Từ đống tro tàn Afghanistan chủ thuyết Biden lộ diện. Người viết: Ken Moriyasu, người dịch: Mặc Lý.

Bài 3: Từ Sài Gòn đến Kabul. Người viết: Mặc Lý.

 

 

Mặc Lý

Từ Sài Gòn đến Kabul

 

Việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan làm nhiều người Việt Nam và gốc Việt xúc động. Không ít thì nhiều, cảnh rút quân gợi đến cảnh Mỹ rút khỏi Việt Nam hầu như hoàn toàn năm 1975.

Trong tình hình đảng phái cực kỳ phân hóa ngày nay của nước Mỹ, nhiều người lập tức chỉ ngón tay vào hành pháp Biden. Vài tiếng nói cuồng nhiệt nhất bảo cần phải mang Tổng Thống Biden ra tòa về tội phản quốc vì đã giao 80 tỉ vũ khí cho khủng bố. Họ không biết hay cố ý không biết, 83 tỉ chứ không phải 80 tỉ, là tiền trang bị cho quân đội chính phủ Karzai và Ghani trong suốt 20 năm chiến tranh. Ta thử tưởng tượng điều gì xảy ra khi vài ngàn quân Mỹ tước vũ khí của vài trăm ngàn quân chính phủ Afghanistan để chở về Mỹ hay thiêu hủy. Tôi xin miễn đi sâu vào những phê phán vô lý và nặng tính đảng phái này.

Rút khỏi Afghanistan ngày nay và Việt Nam hơn 46 năm trước có nhiều điểm giống nhau hơn là khác nhau.

Trong cả hai cuộc chiến, nước Mỹ tham gia trước hết là vì quyền lợi nước Mỹ. Thời chiến tranh Việt Nam, sau đệ nhị thế chiến, nước Mỹ là siêu cường lãnh đạo thế giới tự do, đối phó với khối Cộng sản bằng sách lược bao vây, chiến tranh Việt Nam trở thành điểm nóng của cuộc đối đầu Tự Do và Cộng Sản. Thời chiến tranh Afghanistan, khi tổ chức khủng bố al-Qaeda từ lãnh thổ Afghanistan tấn công đến tận chính lãnh thổ Mỹ, chiến tranh Afghanistan là sự đáp trả và tiêu diệt nguồn khủng bố.

Cả hai cuộc chiến không ngắn ngủi mà kéo dài hơn dự đoán ban đầu của những nhà hoạch định cuộc chiến. Khi cuộc chiến càng mở rộng, sự tham gia của các nước và phe phái khác càng thêm phức tạp. Trong chiến tranh Việt Nam, hai nước đứng đầu khối Cộng là Nga và Trung Quốc tham gia từ đầu sau đó có thêm khối Đông Âu, nhưng mức độ tham gia thì tùy thuộc diễn biến và quan hệ giữa chính hai nước này. Phía Mỹ thì lúc đầu có các đồng minh tham gia nhưng họ chỉ đóng vai phụ và rút lui trước. Tại Afghanistan, lúc đầu thì NATO tham gia nhưng giảm dần. Ngược lại các thế lực như Pakistan, Iran, Nga và có thể có cả Trung Quốc tham gia khi chiến cuộc phát triển.

Quần chúng Mỹ chưa bao giờ chuẩn bị cho một cuộc chiến kéo dài ở một quốc gia xa xôi mà người dân Mỹ bình thường ít nghe nói tới. Khi chiến tranh gia tăng, số thương vong cũng gia tăng theo, nhất là trong chiến tranh Việt Nam. Tiền bạc nước Mỹ đổ vào những cuộc chiến có vẻ vô tận ở những nơi xa xôi này lúc nào cũng tạo luồng sóng chống đối, vì số đông người Mỹ muốn hướng những tài lực này vào việc cải thiện đời sống người dân Mỹ trước hết.

Cách tham gia hai cuộc chiến tranh của người Mỹ vừa đơn giản lại vừa thực dụng. Vì là người tham gia trực tiếp hay đứng về một bên, họ là người lo chính yếu cho guồng máy chiến tranh khi chiến tranh mở rộng. Khi bỏ tiền ra, họ muốn kiểm soát càng nhiều càng tốt, nhưng lại nhìn theo cái nhìn của người Mỹ, ít am hiểu về lịch sử và dân tộc để có một chiến lược thích ứng, mà nặng về cách tính toán hiệu quả của một doanh nhân. Afghanistan là một quốc gia sản xuất thuốc phiện hàng đầu thế giới, cách điều hành quốc gia theo kiểu bộ lạc. Việt Nam lúc bắt đầu cuộc chiến, là một quốc gia nông nghiệp còn nặng tinh thần phong kiến. Khi cuộc chiến tàn, việc rút khỏi chiến tranh trong cả hai trường hợp Mỹ thường ít tham khảo với đồng minh kể cả chính quyền Sài Gòn và chính quyền Kabul.

Có những bất ổn xã hội và hệ lụy đi kèm với cách tham gia chiến tranh của người Mỹ. Trong cả hai cuộc chiến, những viện trợ tài chánh hoặc trực tiếp cho chính phủ sở tại hoặc qua các tổ chức chính quyền cũng như phi chính quyền, những người bản xứ tham gia thường có một mức sống cao hơn người bình thường. Thí dụ khi người Mỹ đổ quân nhiều hơn vào Việt Nam, những người làm việc trong sở làm dân sự hay quân sự Mỹ có mức lương cao hơn nhiều so với một công việc tương ứng của sở làm Việt Nam. Với Afghanistan, sự đổ tiền vào quốc gia qua các tổ chức phi chính phủ chỉ được kiểm soát lỏng lẻo, tạo kẽ hở cho những lạm dụng.

Điểm quan trọng trong cả hai cuộc chiến là có những giá trị mới mẻ về tự do dân chủ, nữ quyền, khai phóng, điều hành minh bạch hiệu quả. Tại Việt Nam, trước khi người Mỹ tham chiến trực tiếp, một số ít người Việt cũng không xa lạ với những giá trị này, nhưng họ chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ. Khi viện trợ của Mỹ đổ vào ngân sách quốc gia, giáo dục, thương mại, dịch vụ, sản xuất được tiếp hơi. Tầng lớp ưu tú qua giáo dục, thương mại và các tổ chức hoạt động xã hội, được mở rộng. Người Việt Nam tại miền Nam, nhất là tại các thành phố, làm quen với khoa học kỹ thuật, lối làm việc hiệu quả, xã hội khai phóng, khác với xã hội khép kín, một chiều của miền Bắc khi đó. Tại Afghanistan, trước chiến tranh, người phụ nữ bị giới hạn rất nhiều , nhưng khi cuộc chiến tàn, Kabul trở nên một thành phố khá tân tiên, nhiều phụ nữ đã được cử vào tầng lớp cầm quyền như làm thẩm phán, một điêu chưa từng có trước đây. Đó là những giá trị mới mẻ, thị dân được hưởng lợi phần lớn nhưng dân chúng ở những vùng nông thôn như Việt Nam hay đồi núi tại các bộ lạc du mục ở Afghanistan, ít biết đến.

Tuy vậy có những khác biệt giữa hai cuộc chiến.

Afghanistan là một nước nằm biệt lập với thế giới, giữa các quốc gia Iran, Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ và vài nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ. Tuy nhiên năm mươi năm trước, trước khi có những biến động chính trị rồi chiến tranh với Liên Xô lúc đó và với Mỹ sau nay, đây là một quốc gia khá yên bình. Tôn giáo với Hồi giáo là quốc giáo. Khi Mỹ tham chiến và xảy ra việc vài lính Mỹ đốt thánh kinh Quran của Hồi giáo, chuyện này đã làm thổi bùng sự chống đối chính quyền Afghanistan lúc đó. Măt khác, Việt Nam nằm tiếp giáp với biển Đông, đã từng bị Pháp đô hộ 80 năm và sau đó những cuộc chiến với Pháp, Mỹ và Trung Quốc có vẻ làm cho người Việt quen với chiến tranh, và rất có dị ứng với sự hiện diện của nước ngoài, nhất là quân đội nước ngoài. Việc này đã là một động lực tuyên truyền rất lớn cho phía chống chính phủ miền Nam và Mỹ lúc đó.

Cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam lúc đó xảy ra khi Mỹ có chế độ quân sự bắt buộc. Còn Afghanistan khi quân đội Mỹ chỉ toàn người tình nguyện tham gia. Thiệt hại nhân mạng của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cao gấp 20, 30 lần (hay hơn 15 lần nếu kể cả các nhân viên dân sự) so với thiệt hại nhân mạng trong chiến tranh Afghanistan tuy chiến cuộc Afghanistan kéo dài hơn. Ngoài ra việc rút quân ở Afghanistan có vẻ là một trường hợp biệt lập, không ảnh hưởng lớn đến chính sách ngoại giao của nước Mỹ so với chiên tranh Việt Nam.

Chưa rõ Afghanistan đối xử với Bên Thua Cuộc như thế nào. Họ có nghiệt ngã hơn với những người cùng màu da, cùng chủng tộc với họ như nhà cầm quyền ở Việt Nam sau cuộc chiến không. Trên khía cạnh xây dựng quốc gia trong trường hợp Việt Nam, tôi cho rằng đây là một cơ hội bằng vàng đã bị bỏ lỡ. Cho đến tận ngày nay, vết sẹo vẫn chưa lành. Dù vậy, trong cả hai nước, có vẻ sự tự tôn, cho là chỉ có nhà cầm quyền mới đang nắm chân lý, những tiếng nói khác ý bị trù dập, cả Afghanistan và Việt khó thoát khỏi vòng kim cô này.

Ai cũng nghĩ là đừng quá tin thế lực ngoại bang, phải tự mình tạo sức mạnh cho chính mình, nhưng liệu mấy ai đã làm theo? Trong trường hợp Việt Nam, rất nhiều người đấu tranh cho tự do dân chủ nhìn về Mỹ như một lối thoát. Họ bám víu vào những tia hy vọng từ phía Mỹ, từ Obama đến Trump rồi Biden mà quên rằng mọi sự tham dự trên bàn cờ thế giới của người Mỹ chính yếu cũng vì quyền lợi nước Mỹ.

Mặc Lý
(09/2021)

 

Tham khảo

[1] Nayan Chanda, “Saigon forged a new future; Kabul revives a dark past”, Asia Times, August 31, 2021
https://asiatimes.com/2021/08/saigon-forged-a-new-future-kabul-revives-a-dark-past/

[2] Sarah Chayes, “Afghanistan’s Corruption Was Made in America”, Foreign Affairs, September 03, 2021
https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2021-09-03/afghanistans-corruption-was-made-in-america

[3] Mark Atwood Lawrence, “The Real Saigon Analogy”, Foreign Affairs, Aug 27, 2021
https://www.foreignaffairs.com/articles/afghanistan/2021-08-27/real-saigon-analogy

bài đã đăng của Mặc Lý

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)