Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Mỹ Rút Quân Khỏi Afghanistan (1)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 27.09.2021

 

 

Lời Người Dịch: Đây là bài viết của Francis Fukuyama đăng trên tạp chí The Economist ngày 18/08/2021. Lời giới thiệu trên The Economist về bài này:

Afghanistan không đánh dấu sự chấm dứt của thời đại Hoa Kỳ. Thách đố cho chỗ đứng của Hoa Kỳ trên thế giới là sự phân hóa chính trị trong nước, theo một chuyên viên về chính sách ngoại giao.

Francis Fukuyama là một học giả về khoa chính trị học, kinh tế chính trị học và là một cây bút thường xuyên trên các tạp chí kinh tế và chính trị. Hiện nay ông là Olivier Nomellini Senior Fellow tại viện nghiên cứu Freeman Spogli Institute for International Studies, đại học Stanford.

Bài này là bài đầu tiên trong loạt ba bài về việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan tháng 08/2021 do Mặc Lý chọn dịch hoặc viết.

Bài 1: Cái nhìn từ và vào bên trong nước Mỹ – Tương lai của siêu cường Hoa Kỳ. Người viết: Francis Fukuyama, người dịch: Mặc Lý.

Bài 2: Cái nhìn từ bên ngoài nước Mỹ – Từ đống tro tàn Afghanistan chủ thuyết Biden lộ diện. Người viết: Ken Moriyasu, người dịch: Mặc Lý.

Bài 3: Từ Sài Gòn đến Kabul. Người viết: Mặc Lý.

 

 

Francis Fukuyama

Sự Chấm Dứt Vai Trò Bá Chủ của Hoa Kỳ

 

Những hình ảnh khủng khiếp của những người Afghan tuyệt vọng đang cố thoát khỏi Kabul tuần này sau khi chính quyền do Mỹ hậu thuẫn sụp đổ đã tạo nên một nét đậm trong lịch sử thế giới, khi nước Mỹ quay lưng lại với thế giới. Sự thật là thời đại Mỹ đã chấm dứt trước đây sớm hơn nhiều. Những điểm yếu và sự suy tàn của Mỹ thì có gốc rễ sâu xa từ trong chính nước Mỹ hơn là từ nước ngoài. Hoa Kỳ sẽ vẫn là một siêu cường trong nhiều năm nữa, nhưng ảnh hưởng của nó đến thế giới thì tùy thuộc vào khả năng giải quyết những vấn đề nội trị hơn là chính sách ngoại giao.

Đỉnh cao của bá quyền Hoa Kỳ kéo dài chưa đầy 20 năm, từ lúc bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 cho đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008. Lúc đó Hoa kỳ đã thống lĩnh trên nhiều địa hạt – quân sự, kinh tế, chính trị và văn hóa. Cao điểm của sự tự tin quá đáng vào sức mạnh của mình là việc đổ quân vào Iraq năm 2003, khi Hoa Kỳ hy vọng là có thế không những dựng lại chỉ Afghanistan, đổ quân vào hai năm trước đó, và Iraq mà còn là dựng lại toàn bộ vùng Trung Đông.

Hoa Kỳ đã quá coi trọng hiệu quả của lực lượng quân sự trong việc mang lại những thay đổi cơ bản về chính trị, và cũng đồng thời quá coi nhẹ tác động của khuôn mẫu nền kinh tế thị trường tự do lên cả nền tài chánh thế giới. Hai thập niên qua đã kết thúc với việc quân đội Mỹ sa lầy trong hai cuộc chiến chống bạo loạn và một cuộc khủng hoảng tài chánh quốc tế làm lộ rõ những bất bình đẳng to lớn mà toàn cầu hóa do Hoa Kỳ lãnh đạo đã mang lại.

Kể ra thì trạng thái đơn cực trong thời kỳ này tương đối hiếm hoi trong lịch sử, và thế giới đã trở lại một trạng thái bình thường hơn, trạng thái đa cực từ đó đến nay, với Trung Quốc, Nga, Âu Châu và các trung tâm khác đạt được quyền lực tương đối với Hoa Kỳ. Hậu quả sau cùng của Afghanistan lên địa chính trị có lẽ nhỏ. Hoa Kỳ đã vượt qua một thất bại nhục nhã trước đó khi rút khỏi Việt Nam năm 1975 nhưng chỉ hơn một thập niên sau đã nhanh chóng lấy lại vị trí thống lãnh và giờ đây Hoa Kỳ đang chung tay với Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc. Hoa Kỳ ngày nay vẫn còn nhiều lợi thế về kinh tế và văn hóa mà ít quốc gia nào sánh nổi.

Thách đố lớn hơn nhiều cho vị trí toàn cầu của nước Mỹ là xã hội Mỹ cực kỳ phân hóa, và thật khó tìm được đồng thuận trên bất cứ điều gì. Sự phân hóa này bắt đầu từ những vấn đề chính sách truyền thống như thuế khóa và phá thai, nhưng nó đã lan ra thành một cuộc chiến gay gắt hơn về bản sắc văn hóa. Ba mươi năm trước đây, tôi đã nhận ra nhu cầu đòi phải được công nhận của những nhóm người bị giới tinh hoa gạt ra ngoài lề là gót chân Achilles của nền dân chủ hiện đại. Thông thường một đe dọa lớn từ bên ngoài, thí dụ một trận đại dịch toàn cầu, là một cơ hội để toàn dân đoàn kết chung quanh một đáp ứng chung, nhưng cuộc khủng hoảng Covid-19 lại được dùng để đào sâu thêm sự chia rẽ nước Mỹ, với tất cả những giãn cách xã hội, việc mang khẩu trang và bây giờ là chích ngừa, không còn được xem là những biện pháp về y tế công cộng mà lại là những việc làm mang tính chất chính trị.

Những mâu thuẫn này đã lan tràn tới tất cả mọi khía cạnh của đời sống, từ thể thao cho đến những nhãn hiệu tiêu thụ mà người Mỹ, dù đỏ (CH) hay xanh (DC), vẫn mua. Bản sắc của người dân tham gia xã hội trước đây đã tự hào về nước Mỹ, sau thời tranh đấu cho dân quyền, như một nền dân chủ đa chủng tộc, bây giờ lại được thay thế bằng những khẩu chiến triền miên về 1619 so với 1776 – nghĩa là việc quốc gia này được xây dựng từ nô lệ hay từ việc tranh đấu cho tự do. Mâu thuẫn này mở ra những hiện thực riêng rẽ mà mỗi phe tin vào cái phe mình thấy, hiện thực mà cuộc bầu cử 2020 hoặc là một cuộc bầu cử công bằng nhất trong lịch sử Mỹ hoặc là một sự lừa dối vĩ đại dẫn đến một tổng thống bất hợp pháp.

Trong suốt cuộc chiến tranh lạnh và khoảng đầu những năm 2000s, có sự đồng thuận từ giới tinh hoa của Mỹ, tán thành việc duy trì vị trí lãnh đạo của nước Mỹ trên sân khấu chính trị thế giới. Nhưng những cuộc chiến tranh khốc liệt và có vẻ kéo dài vô tận ở Afghanistan và Iraq, đã làm nhiều người Mỹ cảm thấy chán nản, không chỉ ở những nơi khó khăn như Trung Đông mà nói chung trên tất cả những nơi trên thế giới mà nước Mỹ tham dự vào.

Sự phân hóa đã ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách đối ngoại. Trong những năm tháng thời Obama, đảng Cộng Hòa giữ một lập trường diều hâu, phê phán kịch liệt đảng Dân Chủ về việc muốn đặt lại quan hệ với Nga, cáo buộc họ ngây thơ với tổng thống Nga Putin. Cựu Tổng Thống Trump, khi đứng đầu Nhà Trắng, lại xoay ngược bàn cờ, công khai vồ vập ông Putin và ngày nay khoảng một nửa đảng viên Cộng Hòa tin rằng chính đảng Dân Chủ là một mối đe dọa cho lối sống Mỹ, còn lớn hơn là mối đe dọa từ Nga. Một tay dẫn chương trình truyền hình và tin tức bảo thủ, Tucker Carlson, đã bay đến Budapest để chúc mừng Thủ Tướng độc tài Viktor Orban của Hungary; việc “làm chủ phe cấp tiến” (một lối nói của phe hữu để chọc tức phe tả) trở thành quan trọng hơn việc bảo vệ những giá trị dân chủ.

Về Trung Quốc thì có vẻ là đồng thuận hơn: cả đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều đồng ý Trung Quốc là một mối đe dọa cho các giá trị dân chủ. Nhưng việc đồng thuận chỉ đi đến chỗ đó. Một phép thử lớn về chính sách đối ngoại của nước Mỹ, hơn Afghanistan nhiều, là Đài Loan nếu bị Trung Quốc trực tiếp tấn công. Liệu nước Mỹ có sẵn lòng hy sinh các người con của họ để bảo vệ độc lập của hòn đảo này không? Hay là liệu nước Mỹ có mạo hiểm xung đột quân sự với Nga nếu nước này xâm lăng Ukraine? Đây là những câu hỏi rất nghiêm chỉnh, và trả lời chúng không phải dễ dàng. Nhưng một cuộc tranh luận có lý lẽ về lợi ích quốc gia của Mỹ có lẽ sẽ tiến hành chính yếu qua lăng kính ảnh hưởng của chúng như thế nào tới đấu tranh phe đảng.

Sự phân hóa ngày nay vốn đã làm suy yếu ảnh hưởng toàn cầu của Hoa Kỳ, dù chưa có những thử nghiệm trong tương lai như đề cập bên trên. Ảnh hưởng toàn cầu này tùy thuộc cái mà một học giả về chính sách đối ngoại, Joseph Nye, đặt tên là “quyền lực mềm”, nghĩa là sự hấp dẫn của các định chế và xã hội Mỹ tới những người dân khác trên thế giới. Sự hấp dẫn này đã bị suy giảm trầm trọng: khó ai nói được rằng các định chế dân chủ Mỹ lại hoạt động hiệu quả trong những năm gần đây, hay bảo rằng có quốc gia nào nên bắt chước kiểu chính trị bộ lạc của Mỹ hay những bế tắc trong điều hành quốc gia. Điểm quan trọng của một nền dân chủ trưởng thành là khả năng chuyển nhượng quyền hành một cách hòa bình sau một cuộc bầu cử: đây là một phép thử nghiệm mà nước Mỹ thất bại một cách thảm hại vào ngày 6 tháng 1 năm nay.

Thất bại lớn nhất về chính sách của hành pháp Joe Biden trong bảy tháng cầm quyền là thiếu hoạch định đầy đủ cho trường hợp Afghanistan sụp đổ nhanh chóng. Tuy nhiên việc này, dù thế nào đi nữa, có vẻ không kết luận được là việc rút quân khỏi Afghanistan là khôn hay dai. Cuối cùng quyết định rút quân có thể là một quyết định đúng. Ông Biden đã đề cập rằng sự rút lui là cần thiết ngõ hầu chú tâm vào những thách đố lớn hơn nhiều từ Nga và Trung Quốc trong tương lai. Tôi hy vọng ông thật sự nghiêm túc về việc này. Barack Obama không thành công được trong việc “chuyển trục” về Á Châu vì nước Mỹ vẫn còn chú tâm vào việc chống khủng bố ở Trung Đông. Hành pháp hiện nay cần tái phối trí nguồn lực và sự chú tâm của các nhà hoạch định chính sách từ những nơi khác trên thế giới, để làm chùn bước các kẻ thù địa chính trị và kết nối với đồng minh.

Có lẽ nước Mỹ sẽ không đạt được vai trò bá chủ trước đây nữa mà nước Mỹ cũng không nên có tham vọng đó. Điều nước Mỹ hy vong là duy trì, cùng các quốc gia đồng ý hướng, một trật tự thế giới thân thiện với những giá trị dân chủ. Liệu nước Mỹ có thể làm được không tùy thuộc, không phải vào những hành động ngắn hạn ở Kabul, mà vào việc khôi phục lại bản sắc quốc gia và mục đích của mình, tại ngay chính nước Mỹ.

Mặc Lý chuyển ngữ

(08/2021)

 

Tham khảo

[1] Francis Fukuyama, “The future of American power”, The Economist, August 18, 2021

https://www.economist.com/by-invitation/2021/08/18/francis-fukuyama-on-the-end-of-american-hegemony

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)