Trang chính » Chụp và Chép, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ Email bài này

biến tấu nữu ước/new york variations

♦ Chuyển ngữ: 2 bình luận ♦ 8.06.2009

Lời Giới Thiệu của người dịch: Bắc Đảo là bút hiệu của thi sĩ Trung Hoa Triệu Chân Khải (Zhao zhen kai) (sinh 2 tháng 8 năm 1949 tại Bắc Kinh), là một những nhà thơ quan trọng của trường phái Thơ Mông Lung (menglongshi), dùng thể thơ tự do và ảnh hưởng từ nghệ thuật phim ảnh để diễn tả những ẩn ý có nội dung chính trị. Trước là thành viên của Hồng Vệ Binh, Bắc Đảo bị đi đày làm phu xây cất 11 năm khi ông bắt đầu chất vấn mục đích của cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Ông chọn bút hiệu Bắc Đảo vì tuy sinh ở Bắc Kinh, gia đình ông có gốc ở miền Bắc Trung Hoa, và cũng vì ông yêu chuộng sự cô đơn của một côn đảo. Bài thơ “Hồi Đáp” của Bắc Đảo, sáng tác trong dịp sinh viên biểu tình trong quảng trường Thiên An Môn vào năm 1976, đã tạo hứng khởi cho nhóm sinh viên ủng hộ cao trào dân chủ biểu tình ở Thiên An Môn năm 1989. Cũng vào năm 1989, lúc bùng nổ thảm kịch 4 tháng 6, Bắc Đảo đang dự một hội nghị thơ ở Berlin và bị cấm không được trở về nước. Từ đó ông trở thành một nhà văn lưu vong. Sau khi dạy học nhiều năm tại Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, và Hoa Kỳ, Bắc Đảo hiện là giáo sư khoa Nhân văn tại Trung Tâm Đông Á thuộc đại học Trung Quốc-Hồng kông.

“Biến Tấu Nữu Ước,” trích từ tuyển tập Midnight’s Gate (Cánh cửa của Nửa Đêm), bản dịch tiếng Anh của Matthew Fryslie (chủ biên Christopher Mattison, nxb New Directions, 2005) diễn tả kinh nghiệm của Bắc Đảo khi ông dọn đến Nữu Ước. Tuy nhiên, bài sáng tác “chụp và chép” này cũng có thể có tựa là “Biến tấu Bắc Kinh,” ám chỉ sự tranh đấu và thất bại của nhóm sinh viên tại Thiên An Môn năm 1989. Khác với bọn nghệ sĩ say leo lên vòm cổng Washington Square hiên ngang tuyên bố nền độc lập cho khu làng Greenwich (nằm về phía Nam thành phố Nữu Ước) vào cuối thế kỷ 19, đám sinh viên biểu tình tại Thiên An Môn ở hậu bán thế kỷ 20 đã không được một dịp như vậy. Tuy với “miệng [la to]” hô hào cho tự do và dân chủ,” nạn nhân Thiên An Môn đã bị “còi cảnh sát [làm] đứt đoạn [tiếng nói],” và vì thế “bắt buộc phải nuối lời.”

new york dawn

Trời Nữu Ước lúc bình minh

Tôi di cư đến Nữu Ước vì một đám cháy. Dĩ nhiên, đám cháy chỉ là cách nói bóng bẩy về chuyện không thể ngờ, trong trường hợp tôi đó là một cuộc cách mạng. Tôi dậy lúc 4 giờ sáng. Nhìn ra ngoài trời từ cửa sổ tầng 19, Nữu Ước dường như đang cháy, những ngôi nhà chọc trời bốc lửa, ngàn ngàn những mảnh thủy tinh áng lên màu đỏ như máu, chim đen cuồn cuộn bay ngang trời—cảnh tượng như ngày tận thế. Thật ra, đồng hồ báo thức của tôi vẫn còn chạy theo giờ Cali: ngày chỉ vừa rạng lên ở Nữu Ước.

Đêm hôm đó, trăng Nữu Ước làm tôi giật mình. Kẹt giữa hai tòa nhà ngất trời, viềm trăng to và sáng, nhưng nhìn từ bất cứ góc cạnh nào, trăng này trông là lạ thế nào. Nếu ai bảo trẻ con Nữu Ước vẽ mặt trăng, sẽ không đứa nào vẽ trăng tròn, mà sẽ vẽ trăng méo, trăng nghiêng, choán bởi thủy tinh và bê tông.

Vào năm 1626 một viên quản lý Hà Lan dùng mớ nữ trang rẻ tiền chỉ đáng 24 đô la mua Mã Nhật Tân —một hòn đảo toàn đá dài 30 dặm Anh, rộng hai dặm Anh—từ đám dân da đỏ bản xứ. Vào thế kỷ 19, bê tông cốt sắt giúp dân Nữu Uớc sống lan lên trời, cho đến một ngày họ thấy họ đang sống trong những ổ chim giữa rừng bê tông.

Dân Nữu Ước không hình dung đuợc chân trời, một khái niệm trừu tượng đối với họ ngay từ lúc chào đời. Nếu ở California trí óc tôi trải dài, thì ở đây tự dưng nó thẳng đứng. Khi thang máy chở tôi từ dưới đất lên tầng 19, tư tưởng tôi chuyển động theo đường thẳng, tăng suốt lên vầng xanh của trời. So với mức dân số, rất ít dân Nữu Ước là người sùng đạo. Nghĩ một hồi, nguyên do có lẽ là thang máy. Nếu cả ngày cứ vùn vụt lên trời rồi lao xuống đất, không dễ gì người ta biết suy niệm về những huyền hoặc của thiên đàng hay địa ngục. Ở một khía cạnh nào đó, cái thang máy tác động trí não dân Nữu Ước. Nếu chẳng may bị cúp điện, dân Nữu Ước sẽ bị giam lửng giữa trời. Nếu như vậy chắc họ sẽ hóa điên.

john sloan 6th avenue at 3rd street

New York, 6th Avenue và 23rd Street – tranh John Sloan

Ngày thứ nhì ở Nữu Uớc, tôi đi dạo phố, quan sát mọi người. Cộng vào sự thẳng đứng trong cách suy nghĩ của họ là tính chất đường kẻ ở tầm nhìn. Dân Nữu Ước không bao giờ mơ hồ khi ra điểm hẹn: đường 23 và Seventh Avenue, hay giữa Wall Street và Broadway. Dần dà tôi hiểu họ chỉ là những quân cờ trên bàn cờ. Mọi đường đi nước bước của họ hầu như đã được tiền định, bàn tay điều khiển họ trên bàn cờ là tiền tài, vận mệnh, và lô gích đường kẻ. Nhưng không hẳn dân Nữu Ước chỉ có khả năng tiến thoái giữa hai điểm trên đường kẻ thẳng. Tương phản với địa thế và những đường ngang dọc của thành phố là mê lộ của trái tim và cuộn ruột ngoằn ngoèo của dân Nữu Uớc. Chính vòng chuyển của thế lực chính trị và đường cong của thị trường chứng khoán đã tạo ra những xoắn quấn trong tâm hồn người Nữu Ước.

II.

29 washington square by glackens

29 Washington Square, tranh William Glackens

Rồi chúng tôi dọn về phía Tây làng Greenwich. E. và gia đình ông ta sống trong một căn nhà điển hình của thành phố Nữu Ước: nhà sát vách hai nhà bên cạnh, nhưng với cửa vào và sân riêng. Thang lầu cọt kẹt nối liền 3 tầng nhà và căn hầm, và sân sau thì hẹp với rặng tre rì rào. Xây năm 1929, nó là ngôi nhà cổ nhất trong xóm. Trước căn nhà được chia ra thành 40 phòng riêng cho thuê như những chuồng bố câu, nhưng từ lâu căn nhà đã được sửa sang qua nhiều lần đổi chủ. E. và vợ ông ta mua căn nhà này cách đây 10 năm và đã thiết kế lại cho hợp với sở thích của họ.

Việc đầu tiên E. làm lúc thức dậy vào buổi sáng là đổ đầy hạt khô vào cái ống nhựa cho chim ăn rồi móc lại trên khúc cây nơi bồ câu và chim sẻ đã lao nhao chờ chực. Xong ông đi pha cà phê và ngồi đọc tờ New York Times—đến sấm sét cũng không làm ông bị xáo động. Rồi người ca sĩ hàng xóm có giọng cao vút sẽ bắt đầu hát với những con chim sẻ. Những nốt nhạc của nàng lảnh lót, thang âm leo từng nấc lên trời.

Lúc người Hòa Lan mua đảo Mã Nhật Tân, chốn này là đất rừng nơi chim bay thẳng cánh và hoang thú rong ruổi. Rồi người Anh đến chiếm cứ. Viên đô đốc hải quân Anh mua 300 mẫu đất để trồng thuốc lá và cất nhà bên cạnh giòng sông Hudson. Trước khi ông chết, ông đặt tên cho trang viên của ông là “Greenwich.” Vào năm 1822, thời bệnh dịch tung hoành, người ta đến đây để hưởng không khí trong lành, rồi cái ấp hẻo lánh này trở nên một “ngôi làng” phồn thịnh. Vào cuối thế kỷ 19, giới trưởng giả, theo đuổi thời trang, dọn tít lên phía Đông Bắc thành phố, gọi là khu thượng phố (uptown). Làng Greenwich bị quên lãng và dần dà suy sụp. Rồi đám họa sĩ và bọn nổi loạn dọn đến, cuộc sống phóng khoáng và những tư tưởng không lề lối của họ gây sốc cho cộng đồng sùng đạo người Ý và người Ái Nhĩ Lan sinh sống cùng khu vực.

historical washington square arch

Vòm cổng Washington Square trước cửa “làng” Greenwich

Một ngày trong năm 1916, một đám thanh niên, sau khi say sưa suốt đêm ở bar rượu, leo lên vòm cổng Washington Square và giữa những tiếng la hét reo hò tuyên bố nền độc lập của quốc gia New Bohemia. Họ không chịu leo xuống vòm cổng cho đến khi thị trưởng thành phố Nữu Ước chấp thuận yêu sách của họ. Làng Greenwich, hay “tiểu quốc Bohemia,” từ đó được nổi tiếng khắp thế giới.

Một buổi trưa, E. đi xuống nhà từ phòng làm việc ở thượng tầng. Tôi hỏi việc viết lách của ông thế nào. Ông kể tôi nghe câu chuyện về Flaubert. Một ngày vào trưa Flaubert rời bàn giấy, và một người khách cũng hỏi câu hỏi tương tự. Flaubert nói ông chỉ giáng xuống giấy mỗi dấu phẩy. Vào bữa tối người khách lại hỏi, và Flaubert trả lời ông đã xóa đi cái dấu phẩy.

III.

time square circa 1960

Time Square khoảng năm 1960, tranh Armondo Dellasanta

Thật ra dân Nữu Ước là những con người rất cô đơn—ai cũng nhận ra điều này khi nhìn vào mắt họ. Đại loại, trừ một số nhỏ bị bệnh tâm thần, không ai nhìn thẳng vào mặt ai ngoài đường phố. Điều này có lẽ cũng bất tiện. Thí dụ, trong một toa xe điện ngầm, để đừng nhìn thẳng vào mặt ai, người ta phải đọc báo, nhắm mắt ngủ, hay để ánh mắt nhìn bâng quơ đâu đó như người mộng du. Tài “không nhìn thẳng” mất nhiều năm tập luyện. Dĩ nhiên, nếu có một cặp người đẹp xuất hiện, bọn đàn ông sẽ bỗng tỉnh người, ánh mắt tục lụy của họ sẽ sáng ngời như đèn pha trong sương mù. Họ không bao giờ nhìn hau háu như chuột đồng, nhưng sẽ lén lút theo dõi từng điệu bộ của mỹ nhân từ đuôi mắt, nhưng làm ra vẻ trơ trơ, khinh khỉnh, như muốn nói “Thì sao nào? Đừng có làm phiền tôi.”

Giới thượng lưu độc thân ở Nữu Ước coi bộ cũng nhiều. Lý do cũng giản dị thôi: độc thân là cách tốt nhất để dung dưỡng sự cô đơn của mình: không chồng, không vợ, không con, không ai làm phiền mình hết. Trừ phi có đôi lúc họ tụ tập với bạn bè hay người thân, giới độc thân thường ăn tối ở nhà một mình, gọi điện thoại đặt cơm phần ở nhà hàng Tàu gần nhà –thịt heo chua ngọt và một tô canh cay chua—hoặc họ cũng ăn xong bữa với miếng phó mát khô hay gặm mẩu bánh mì cũ. Mắt họ nhìn xung quanh tường phòng như con ruồi sắp sa bẫy nhện; có đôi lúc họ tự nói chuyện một mình. Không có gì đáng ngạc nhiên chuyện đa số dân Nữu Ước uống thuốc chống bệnh trầm cảm.

Nếu hai cái cô đơn nhập làm một, chắc chắn sẽ gây thêm chuyện rắc rối. Một lần tôi bay từ Nữu Ước sang Paris. Vừa lên máy bay tôi đã cảm nhận ngay trường hợp tế nhị của mình. Tôi ngồi giữa một cặp vợ chống Nữu Ước. Người đàn bà ngồi ở ghế giáp lối đi và người chồng thì ngồi ghế sát cửa sổ máy bay. Lúc đầu tôi tưởng họ có vấn đề gì đó, và vì ngồi giữa họ tôi đương nhiên thành cái khiên chắn, nhưng thật ra không phải vậy. Đúng ra, họ là một cặp vợ chồng già rất đầm ấm, suốt buổi gọi nhau “mình,” “sê-ri,” hay “cục cưng,” mùi mẫn đến nỗi làm tôi nổi da gà. Lúc nào họ cũng ân cần với nhau—người chống rút từ bao hành lý đôi dép đi trong nhà và cuốn tiểu thuyết đưa cho vợ; bà vợ thì cất dấu chai rượu được tặng miễn phí trên máy bay để chồng có dịp thưởng thức ở Paris. Điều quái lạ là cặp này, tuy tôi ngồi ở giữa họ, vẫn tiếp tục nói đủ mọi chuyện–từ thời tiết Nữu Ước cho đến khách sạn Paris, từ những chuyện họ hàng xích mích cho tới chuyện đầu tư vào thị trường chứng khoán. Tôi nín thở cố dẹt mình vào lưng ghế để họ được thoải mái hơn. Thật ra phải làm “bánh xe thứ ba” cũng không sao, nhưng tôi thấy chuyện mình phải bất đắc dĩ xâm chiếm đời tư của họ có cái gì hơi lố bịch. Thỉnh thoảng tôi lại đề nghị đổi chỗ để họ được ngồi sát cạnh nhau, nhưng họ nhất quyết từ chối. Lúc đó tôi mới hiểu rằng họ đã cố tình chọn chỗ như vậy, đòi hỏi sự hiện diện của tôi như nhân chứng cho sự cô đơn của họ.

Sự cô đơn không đồng nghĩa với im lặng. Nó có âm thanh riêng, và ở Nữu Ước nó lan tỏa bất tận. Đầu tiên là xe cảnh sát, xe cứu thương, rồi xe vận tải, nhằm gây sự chú ý, lúc nào cũng inh tai đến tít trời. Chó thành thị, dồn nén vì lâu ngày bị giam lỏng trong nhà, chỉ thỉnh thoảng mới được chủ cho đi dạo phố. Khi chúng gặp mặt đồng loại, chúng thường chào hỏi nhau bằng cách há miệng tru dài từ đáy ruột. Còn dân Nữu Ước, khi muốn phát biểu điều gì, đa số cũng chỉ biết la hét. Miệng há hốc, giọng nói bị đứt đoạn bởi còi cảnh sát, họ bắt buộc phải nuối lời.

xxx

New York Variations

BEI DAO, born in 1949, has traveled and lectured around the world. His pseudonym was chosen because he came from the north and because of his preference for solitude. Bei Dao is the most notable representative of the Misty Poets, a group of Chinese poets who reacted against the restrictions of the Cultural Revolution.

Bei Dao has received numerous international awards for his poetry and is an honorary member of the American Academy of Arts and Letters. He’s currently Professor of Humanities in the Center for East Asian Studies at the Chinese University of Hongkong. New Directions publishes six books of his poetry and fiction.

I MOVED TO NEW YORK BECAUSE OF A CONFLAGRATION. Of course, conflagration is merely a figurative way of referring to a certain extraordinary state of affairs, which in my case was a revolution. On my second day in New York, I woke up at four in the morning. Looking out my nineteenth-floor window, New York seemed to be on tire, its skyscrapers all in flames, thousands upon thousands of glass shards glinting bloody red, black birds wheeling into the sky–a truly apocalyptic scene. As it turned out, my alarm clock was still running on California time; day was just breaking in New York.

Then that night, it was New York’s moon that startled me. Wedged between two tail buildings, the moon was enormous and bright, but no matter how I gazed at it, something didn’t look quite right. If you ask a child from New York to draw the moon, most of their creations would not be round, but staggered and misshapen, clipped by glass and concrete.

In 1626 a Dutch superintendent purchased Manhattan–this thirty-mile-long, two-and-a-half-mile-wide island of stone–from the Indians with trinkets worth about twenty-four dollars. In the nineteenth century, due to the widespread use of reinforced concrete, people madly spread upward into the sky, until one day New Yorkers discovered that they were nesting like birds in a concrete forest.

New Yorkers are unable to imagine the horizon, a concept that from birth has no relevance to them. If in California my thinking was horizontal, here it certainly became vertical. When the elevator brought me from the ground to the nineteenth floor, my thoughts followed the inertia of upward motion, continuing to rise into the blue of the sky. In proportion to its population, few New Yorkers are religious. After some consideration, I have come to the conclusion that this has something to do with the elevators. When you spend the entire day ascending into the sky and then plunging down through the earth, it is almost impossible to have any sense of the mysteries of heaven or the underworld. In one sense, the elevator has become the primum mobile of New Yorkers’ thinking. If the electricity should go out, they would be trapped somewhere in the middle, and might certainly go mad.

On my second day in New York, I wandered the streets, taking note of all the people. In addition to the vertical orientation of their thinking are certain linear qualities. For example, they are never vague when making appointments: 23rd Street and Seventh Avenue, or between Wall Street and Broadway. Later I began to understand that they are all just pieces on a chessboard. Their paths are mostly fixed, and the hands that pluck them up and move them are money, fate, and linear logic. But this doesn’t mean that New Yorkers are only capable of shuttling back and forth in straight lines: opposed to the geography and plan of the streets are the labyrinths of their hearts and winding coils of their guts. It is the twists and turns of power and the curves of the stock market that create these convolutions in the souls of New Yorkers.

II.

WE EVENTUALLY MOVED TO THE WEST VILLAGE. E and his family live in a typical New York row house, with its own entrance and yard. The creaking stairs connect three floors and a basement, and the backyard is narrow with a waving bamboo grove. Built in 1929, it is the oldest house on the street. It used to be divided into forty dovecote-like lodging rooms, but it had been completely remodeled by several successive owners. E and his wife had bought it ten years earlier and molded it to their personal taste.

The first thing E did when he got up every morning was fill the plastic bird feeder, then hang it back up in its fork in the tree where pigeons and sparrows would already be tumbling over each other, eager for their turn. Next he’d make coffee and read the New York Times–a bolt of lightning couldn’t disturb him. Then the soprano who lived next door would begin to sing with the sparrows. Her voice was startling, scales climbing like a ladder into the sky.

When the Dutch first bought Manhattan Island, it was a stretch of forested land where birds flew and beasts roamed. After the English occupied it, the admiral of the English fleet bought three hundred acres of land for growing tobacco and settled down by the Hudson River. Before he died, he named his manor “Greenwich.” In 1822, during a plague, people moved there for the fresh air, and this remote hamlet gradually became a prosperous town. At the end of the nineteenth century, the rich, in their pursuit of fashion, moved to the newly burgeoning uptown, and the roadside Greenwich was forgotten and went into decline. Then the artists and rebels moved in, their bohemian lifestyle and heterodox ideas shocking the religious Italian and Irish immigrants who lived there.

One day in 1916, a bunch of young men who had been drinking in a bar all night climbed to the top of the arched gate of Washington Square and announced, with much shouting and hoopla, the establishment of an independent republic–New Bohemia. They refused to come down until the mayor agreed to their request. Greenwich Village, or “Little Bohemia,” enjoyed nationwide fame.

One day around noon, E came down from his study on the top floor. I asked him how the writing was going. He told me a story about Flaubert. One day at lunchtime, Flaubert came out of his study, and a guest asked the same question. He replied that he had only written a comma. At dinnertime, the guest asked again, and Flaubert replied that he had crossed out the comma.

III

ACTUALLY, NEW YORKERS ARE VERY LONELY PEOPLE–you can tell by their eyes. In general, with the exception of those with mental problems, no one looks directly at anybody, and in such a densely populated place, this can be a real inconvenience, on the subway, for example, in order not to meet anyone’s gaze, you have to read the paper, close your eyes and rest, or simply let your gaze roam aimlessly in space, like a sleepwalker. This skill takes years of practice to master. Of course, should a couple of beautiful women appear, the men will wake up and their unclean gazes will shine like lights in the fog. They never stare directly like country mice, but stealthily track them out of the corner of their eyes, seemingly unmoved, or even a little disgusted, as if to say, “So what? Don’t bother me.”

The “unmarried aristocracy” in New York is especially large. The reason is simple: Being single is the best way to preserve one’s loneliness–with no spouse, no children, there is no fuss. Other than when they get together with friends or family, singles generally dine at home alone, calling the local Chinese restaurant for take-out–one sweet-and-sour pork with an order of hot-and-sour soup–or else they get by with some dry cheese, or gnaw on day-old bread. Their gazes roam over the four walls like a fly in danger of falling into the corner web; sometimes they talk to themselves. It is no surprise that a large number of New Yorkers are on antidepressants.

If two solitudes are added together, there are sure to be new troubles. Once I was flying from New York to Paris. As soon as I boarded the plane, I was aware of my awkward situation. I was seated between a husband and wife from New York. The woman was on the aisle and the man by the window. I immediately offered to change seats, but they refused. At first I supposed that there were some relationship problems, and I was to be used as a shield between them, but this was not the case. On the contrary, they were an extremely warm old couple, with “dear,” “sweetheart,” or “baby” coming out every time they opened their mouths, to the point where it began to make my skin crawl. They were generally very solicitous of each other–the husband dug out his wife’s slippers and her novel; the wife hid away a free bottle of wine for her husband to drink in Paris. More incomprehensible to me was that this couple, even though I was lodged between them, chatted freely about everything–from New York weather to Paris hotels, from fights among their relatives to investing in the stock market. I sucked in my breath and flattened myself against the back of my seat to allow them some space for their conversation. It wasn’t a big deal to play the third party, but infringing on their right to privacy seemed wrong. Again, I suggested changing places, and was met with a unanimous rejection. It was then that I understood that they had chosen their seats in advance, requiring a witness for their solitude.

Solitude does not correspond to silence. It has its own sound, which in New York expands limitlessly. First there are the police cars, ambulances, and the trucks, which, in order to attract sufficient attention, are constantly raising their voices to the heavens. Urban dogs, crazed from long confinement, are only rarely let out onto the streets. So when they pay their respects to other dogs, they do it with a howl let loose from the depths of their bellies. As for New Yorkers, when they want to express something, many of them are only comfortable doing so in an uncompromising manner, raising their voices. Mouth agape, invariably interrupted by police sirens, they’re forced to swallow their words.

* From Midnight’s Gate, by Bei Dao, from New Directions, 2005. Copyright 2005 by Bei Dao.

bài đã đăng của Bắc Đảo

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

2 Bình luận

  • Le The Dan says:

    Thank you, Đinh Từ Bích Thúy. Chuyển ngữ hay quá cũng là một sự nguy hiểm vì người đọc không muốn đọc nguyên bản tiếng Mỹ nữa!:) Love your translation work.

    Dan

  • bắc phong says:

    buổi tối
    xếp bằng tập trung thở
    muốn tĩnh tâm nhưng không đuổi nổi
    cái dấu phẩy flaubert

    bắc phong

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)