Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 17, Dịch Thuật, Sáng Tác, Thơ Email bài này

Hoa hồng của thời gian

0 bình luận ♦ 16.12.2006

Trên damau số 13 [ra ngày 2.12.2006], chúng tôi đã giới thiệu cùng bạn đọc về Bắc Đảo (北岛/Bei Dao), một trong những gương mặt thi ca quan trọng nhất của Trung Quốc đương đại, và trích dịch một chùm gồm 4 bài tiêu biểu theo phương án dịch thơ do avq đề xướng. Bốn bài ấy là thơ Bắc Đảo thời kì còn ở trong nước, trích trong tập Bắc Đảo thi tuyển北岛诗选 [1986, bản dịch tiếng Anh là The August Sleepwalker]. Lần này, vẫn trong mạch tiếp nối phương án avq, xin trình làng bản dịch 1 bài mới, với mục đích giúp bạn đọc cảm nhận không khí hiện tại của bầu trời thơ Bắc Đảo từ khi định cư ở nước ngoài.

Hoa hồng của thời gian đăng trên tạp chí văn học Kim thiên, số 63, tức số 4 năm 2003, hiện có bản dịch tiếng Anh, Đức, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kì, và tiếng Việt (trước avq, có bản chuyễn ngữ của Lê Đình Nhất-Lang qua trung gian Anh văn, đã đăng trên Tiền Vệ).

Kim thiên今天(Jintian/Today/Ngày nay) được Bắc Đảo và nhóm bạn văn cùng chí hướng cho ra mắt năm 1978 tại Bắc Kinh. Từ đó cho đến cuối thập niên 1980, Kim thiên là tạp chí văn học ngoài luồng, từng bị đình bản, sau khi Bắc Đảo ra nước ngoài cư trú, đã được phục san, một năm 4 số (xuân, hạ, thu, đông), nay đã đến số 75. Tòa soạn từng di chuyển nhiều nơi, nay đóng tại Thousand Oaks, California (Hoa Kì), với hình thức là công ty, chủ biên vẫn là Bắc Đảo, giám đốc là Đàm Gia (譚嘉/Tan Jia), chủ nhiệm là Vương Thụy Nghệ (王瑞芸/Wang Rui-yun).

Âm hưởng chính của thơ Bắc Đảo khi còn ở Trung Quốc là tiếng day dứt đòi giác ngộ, đòi ruồng bỏ tù hãm để “vươn khải ra biển lớn” [trích bài thơ Hoa hồng của thời gian].Cứ tưởng rằng, cuối thập niên 1980, khi đã tuông ra khỏi rừng người “trên đại lộ” [chữ dùng trong bài Mài dao] trong đêm trường đằng đẵng bao năm, để hòa được vào với biển lớn, thì tiếng thơ ông sẽ chuyển màu, dần nhích sang gam sáng và bớt lạnh. Nhưng không. Nó càng da diết thêm, càng sắc và lạnh hơn. Khối u hoài bất định và sâu thẳm vốn dĩ trong tâm nhà thơ có lẽ vô phương phẫu giải, và, vô hình chung cuộc sinh tồn ở chốn “tha hương” [chữ dùng trongbài Lộ ca; bản dịch Việt của avq xin xem trong Tạp chí Thơ số 32 – mùa xuân 2007] của thân phận ngoại kiều, vĩnh viễn vô trú xứ, đang làm nó mưng mủ. Nhà thơ cô đơn giữa biển người tự do. Ông đã gắng hòa vào biển người ấy, rồi lại, tự nép mình vào con hẻm hiu hiu gió lạnh, đâu đó bốc lên mùi cỏ úa, và rũ màu lá khô rớt xuống từ “cây đại cổ thụ” [chữ dùng trong bài Mài dao] sừng sững ở bên kia đại dương [về các khái niệm vô trú xứ, lưu vong trong văn học thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21, với tư liệu bằng tiếng Việt, có thể tham khảo bài viết ngắn “Lưu vong như một phạm trù mỹ học” của Nguyễn Hưng Quốc đăng trên Tiền Vệ  không kể đôi chỗ có phần gượng ép, thì có thể nói, tác giả đã vận dụng tương đối thành công các lí thuyết mới nhất của văn học và nhân loại học văn hóa vào một tiểu luận tổng quan về văn học Việt Nam hải ngoại ba thập niên qua].
[Tokyo, 12.2006, avq]

 
PHẦN ĐỌC CHÍNH
(bản chuyển ngữ chính của avq từ Trung văn)

 
 
Hoa hồng của thời gian
 
khi người gác cổng lịm vào giấc ngủ sâu
em quay trở lại cùng với gió mưa cuồng bạo
già héo đi trong vòng tay ôm là
hoa hồng [của] thời gian

 
 
khi đường chim [bay] giới định khung trời
em ngoái lại trông chiều nhá nhem
hiện nổi lên trong tiêu vong là
hoa hồng của thời gian

 
 
khi dao uốn cong trong nước
em xéo lên tiếng sáo [] qua cầu
khóc rống lên trong mưu mô hiểm độc là
hoa hồng của thời gian

 
 
khi [vừa] vẽ phác ra đường chân trời
em liền bị đánh thức bởi tiếng chiêng đồng [khua lên] ở đằng đông
nở xòe ra trong tiếng vọng là
hoa hồng của thời gian

 
 
trong gương [sẽ] mãi mãi là phút giây này
phút giây này thông hướng ra cửa tái sinh
cửa ấy mở hướng ra biển lớn
[và hướng về phía] hoa hồng của thời gian

 
 
PHẦN ĐỌC THÊM

 
1. Các bản chuyển ngữ phụ
 
Bản 1
 
Hoa hồng [chính là] thời gian
 
khi người gác cổng ngủ lịm đi
em quay trở lại cùng với gió mưa cuồng bạo
già đi trong vòng tay ôm là
hoa hồng thời gian

 
 
khi đường chim bay giới định bầu trời
em ngoái lại trông hoàng hôn
bày nổi lên trong tiêu vong là
hoa hồng thời gian

 
 
khi dao bẻ cong trong nước
em đạp lên tiếng sáo để qua cầu
khóc gào trong mưu mô hiểm độc là
hoa hồng thời gian

 
 
khi vừa vẽ ra đường chân trời
em liền được đánh thức bởi tiếng la đồng nổi lên ở phía đông
mở cửa ra trong âm thanh vang vọng là
hoa hồng thời gian

 
 
trong gương sẽ mãi mãi là phút giây này
phút giây này thông hướng ra cửa tái sinh
cửa ấy mở hướng ra biển lớn
và hướng về phía hoa hồng thời gian

 
Bản 2
 
Hoa hồng của {thuộc về/là/chính là/nở trong} thời gian
 
khi người gác cổng {bảo vệ} ngủ {lịm/mê} say tít
em {bạn/mày/cậu/thượng đế/quỉ sứ/diêm vương…} quay trở lại {quay gót lại} cùng với gió mưa cuồng bạo {mưa gió ầm ầm/cuồng loạn}
già {úa/héo} đi trong vòng tay ôm là
hoa hồng {ngọc đỏ/ngọc hồng} [của/là/thuộc] thời gian

 
 
khi đường chim [bay/sải] giới định bầu {khung} trời
em ngoái lại trông trời nhá nhem {mặt trời lặn/hoàng hôn}
hiện {trình/bềnh} nổi lên trong tiêu vong {hủy/mất} là
hoa hồng của thời gian

 
 
khi dao {đao} uốn cong {dưới} trong nước
em đạp {dẫm/xéo} lên tiếng sáo [] qua cầu
khóc {tru/gào} rống lên trong mưu mô hiểm độc là
hoa hồng của thời gian

 
 
khi [vừa] vẽ {phác/vạch/kẻ} ra đường chân trời
em liền được {bị} đánh thức {tỉnh thức} bởi tiếng chiêng {la} đồng {nổi lên/gióng lên/khua lên} ở phía đông
lan dãn {mở khải/khai phóng/khuếch lớn} trong tiếng {âm/âm thanh} dội {vọng} lại là
hoa hồng của thời gian

 
 
trong gương [sẽ] mãi mãi là giờ phút {phút giây/sát na/khoảnh khắc} này
{phút giây này sẽ mãi mãi lưu lại/còn lại trong gương}
phút giây này thông hướng ra cửa {hóa kiếp} tái sinh
cửa ấy mở hướng ra biển lớn
[và hướng ra/ra phía/về phía/đó chính là] hoa hồng của thời gian

2. Nguyên bản Trung văn
(đăng trong tạp chí Kim thiên, số 63, tức số 4 năm 2003)
 
時間的玫瑰

當守門人沉睡
你和風暴一起轉身
擁抱中老去的是
時間的玫瑰

當鳥路界定天空
你回望那落日
消失中呈現的是
時間的玫瑰

當刀在水中折彎
你踏笛聲過橋
密謀中哭喊的是
時間的玫瑰

當筆畫出地平線
你被東方之鑼惊醒
回聲中開放的是
時間的玫瑰

鏡中永遠是此刻
此刻通向重生之門
那門開向大海
時間的玫瑰

 
 
3. Phiên âm Hán Việt
 
Thời gian đích mai côi

 
đương thủ môn nhân trầm thụy
nhĩ hòa phong bạo nhất khởi chuyển thân
ủng bão trung lão khứ đích thị
thời gian đích mai côi

 
đương điểu lộ giới định thiên không
nhĩ hồi vọng na lạc nhật
tiêu thất trung trình hiện đích thị
thời gian đích mai côi

 
đương đao tại thủy trung chiết loan
nhĩ đạp địch thanh quá kiều
mật mưu trung khốc khảm đích thị
thời gian đích mai côi

 
đương bút họa xuất địa bình tuyến
nhĩ bị đông phương chi la kinh tỉnh
hồi thanh trung khai phóng đích thị
thời gian đích mai côi

 
kính trung vĩnh viễn thị thử khắc
thử khắc thông hướng trùng sinh chi môn
na môn khai hướng đại hải
thời gian chi mai côi

 
 
4. Bản chuyển ngữ khác [i]

 
4.1. Bản tiếng Anh của Eliot Weinberger, dịch từ nguyên bản Trung văn
 

The Rose of Time

when the watchman fa
you turn back with the storm
to grow old embracing is
the rose of time

when bird roads define the sky
you look behind at the sunset
to emerge in disappearance is
the rose of time

when the knife is bent in water
you cross the bridge stepping on flute-songs
to cry in the conspiracy is
the rose of time

when a pen draws the horizon
you’re awakened by a gong from the East
to bloom in echoes is
the rose of time

in the mirror there is always this moment
this moment leads to the door of rebirth
the door opens to the sea
the rose of time

(Translated from Chinese by Eliot Weinberger)

 

4.2. Bản tiếng Việt của Lê Đình Nhất-Lang, đã đăng trên Tiền Vệ, dịch từ bản tiếng Anh của Eliot Weinberger

Bông hồng của thời gian

 
khi người gác đêm ngủ gật
ta quay lại với cơn bão
già đi trong vòng ôm là
bông hồng của thời gian

 
khi những đường chim định hình bầu trời
ta nhìn phía sau về hoàng hôn
trồi lên trong mù tăm là
bông hồng của thời gian

 
khi con dao bị bẻ cong trong nước
ta băng qua cầu bước trên những khúc sáo
khóc trong âm mưu là
bông hồng của thời gian

 
khi một ngọn bút vẽ chân trời
ta bị đánh thức bởi tiếng kẻng từ phương Ðông
nở ra trong âm vọng là
bông hồng của thời gian

 
trong gương luôn có khoảnh khắc này
khoảnh khắc này dẫn tới cánh cửa hồi sinh
cánh cửa mở ra biển
bông hồng của thời gian

 
4.3. Bản tiếng Đức củaWolfgang Kubin, dịch từ nguyên bản Trung Văn

Die Rose der Zeit

Wenn die Wächter tief schlafen
machst Du kehrt und mit dir der Orkan
Was die Umarmung flieht, ist
die Rose der Zeit

Wenn der Weg der Vögel den Himmel bestimmt
schaust du zur Abendsonne zurück
Was schwindend erscheint, ist
die Rose der Zeit

Wenn Messer sich im Wasser krümmen
überquerst du auf Flötentönen Brücke um Brücke
Was verborgen klagt, ist
die Rose der Zeit

Wenn Stifte Horizonte malen
wirst du vom Gong im Osten geweckt
Was widerhallend sich öffnet, ist
die Rose der Zeit

Einem Spiegel bleibt ewig dieser Moment
der Moment auf dem Weg zum Tor der Wiedergeburt
Dieses Tor öffnet sich dem Meer
der Rose der Zeit

(Aus dem Chinesischen von Wolfgang Kubin)

Chú thích
(do chưa biết chắc chắn các bản tiếng Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kì dịch trực tiếp từ Trung văn hay qua trung gian, đồng thời, lượng bạn đọc Việt Nam sành hai thứ tiếng này chưa nhiều, nên tạm lược, chưa đưa vào đây)
 
[i] Lời ngỏ cùng các dịch giả Eliot Weinberger, Lê Đình Nhất-Lang, Wolfgang Kubin: xin cho phép chúng tôi sử dụng lại vào đây các bản dịch (Anh, Việt, Đức) của các vị. (avq)
  
 
 

bài đã đăng của Bắc Đảo

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)