Trang chính » Chuyên Đề, Tưởng Niệm Tô Thuỳ Yên Email bài này

Mấy ngày nay, đọc lại thơ Tô Thuỳ Yên

0 bình luận ♦ 25.05.2019


Từ hôm anh mất, lên mạng đâu đâu cũng thấy những bài viết thương tiếc Tô Thuỳ Yên và viết về thơ anh. Từ những nhà phân tích văn học nổi tiếng như Đặng Tiến, Du Tử Lê, Thụy Khuê, Bùi Vĩnh Phúc, Trần Doãn Nho, Phan Nhiên Hạo,.. cho tới những người ít được biết đến, ai cũng đầy những lời lẽ trân trọng ca ngợi thơ anh như một dòng thơ hiếm, ám ảnh và làm họ mê đắm.

Vợ tôi, một nhà thơ thế hệ 8x, từng có mặt trong một hội luận thơ trên trang LitViet.org do nhà thơ Phan Nhiên Hạo tổ chức, trong số những người được mời tham dự có Tô Thuỳ Yên. Sau đó, thỉnh thoảng nửa đêm ở SG lại có điện thoại của anh gọi từ Mỹ về nói chuyện với eL.

Hôm qua, trong bữa cơm tối, vợ tôi hỏi tôi: “Anh có đi Houston để tiễn đưa anh TTY không ?” Tôi nói: “để coi có đi được không”. eL. bảo: “Thơ TTY ám ảnh hơn thơ TTT”. Tôi nói: “Không hẳn, nhưng sở dĩ thơ anh ấy có sức cuốn hút đám đông phần lớn là do các bài viết theo thể hành. Nó đậm đặc chất bi tráng, nỗi đau đến thắt ruột về phận người, về đất nước, trên hết là tiếng nói đại diện cho những kẻ sĩ thất bại, mất nước và lưu vong.”

Những yếu tố này xuất hiện hầu hết trong các bài hành kinh điển của thơ Việt Nam như Hồ Trường (1920) của Nguyễn Bá Trạc, Tống Biệt Hành của Thâm Tâm và tiếp theo là Hành Phương Nam của Nguyễn Bính, mỗi bài thơ đều mang tâm trạng thời đại mà kẻ sĩ đã là một phần của lịch sử đất nước họ đã trải qua. Hành của Tô Thuỳ Yên không ra ngoài số phận của kẻ hành giả trên con đường đau khổ của dân tộc mình nhưng anh không chỉ có một bài, rất nhiều bài mà bài nào cũng mang một sức nặng ngôn từ khiến chúng ta không cưỡng lại được sự say đắm như uống phải thứ rượu được chưng cất tuyệt kỹ.

Tôi nói với eL rằng thơ Tự do của TTY cũng rất tuyệt và bài Cánh Đồng Con Ngựa Chuyến Tàu đã khởi đầu ánh sáng cho một ngôi sao Bắc đẩu trên bầu trời thi ca Viêt Nam hiện đại.

Tôi đọc lại cho nàng nghe bài Bọt Nước, TTY làm năm 1957:

“Rồi người ta khép chiếc dương cầm lại

(chiếc dương cầm hay cỗ áo quan?)

Rồi tôi lìa bỏ cuộc đời-mong các anh chúc tôi bình an-tôi trở về tâm hồn

Và mái nhà thừa tự không có gì đổi thay

           duy một chút sầu

Ôi kỷ niệm

Ôi hòn đá mà đứa trẻ vô tâm đã ném xuống dòng sông”

Nghe xong, eL bỏ đũa xuống và tôi thấy nàng lấy tay quệt nước mắt.

Tôi cũng nghẹn nên chuyển qua một bài thơ tự do TTY cho đăng trên Văn Nghệ năm 1961, bài Lễ Tấn Phong Tình Yêu với những câu nặng màu siêu thực mà tôi chọn trong 20 đoạn của bài thơ được làm vào thủa TTY chừng hơn 20 tuổi.

Anh mở đầu cho phần 1:

“Tôi ôm lấy thây dòng suối tắt

Thối tha cành lá mục

Mà nước mắt tôi không đủ hồi sinh”

Trong đoạn thứ 3:

“Thường tôi vùi đầu trong những ngón tay xương, làm con chuột chù chui nhủi dưới hồn mình và đào xới nó”

Ở đoạn 7 cho một liên tưởng đến số phận như một mặc định:

“Tôi đến đặt dưới chân tượng đau buồn cao vọi bóng áng cả đời tôi, một đoá lời ca ngợi tình yêu kết bằng những cành hoa héo cũ”

Đến đoạn 12:

Những mũi lao đỏ ối của bình minh phóng vào thân thể đêm bỏ chạy.

Cây chứng kiến thè lưỡi lá tươi xanh thốt lên niềm phấn khởi mừng vui

Anh lật giở vầng trán mốc meo ra nhận sự chúc lành đầu tiên của kiếp sống”

Và đoạn 20, kết thúc bằng một tuyên cáo với cuộc đời và người tình một cách rạch ròi và phi thời gian:

“Và bài thơ này coi như lời lẽ của một người đánh đồng thiếp nói với đời trong đó có em như để tạ ơn và tạ lỗi”

eL. nghe xong ngẩng mặt lên nói: “Em qua đây đã gần 4 năm mà vẫn chưa có dịp gặp anh ấy, nay…”

Tôi nói thêm với nàng về sự khác biệt giữa  thơ tự do và thơ 7 chữ của TTY, với thơ tự do, phần lớn làm trong giai đoạn nhà thơ tuổi còn trẻ, giai đoạn chủ nghĩa hiện đại trong văn học và nghệ thuật phương Tây đang tràn vào Sài Gòn như cơn lốc, như một đại hồng thủy cuốn phăng tuổi trẻ cầu tiến chúng tôi ngay lập tức. Sáng Tạo đã có những bàn tròn hạ độc lời nguyền giết ngay thơ mới. Và TTY đã xuất hiện rất sớm với một tác phẩm gây choáng váng, Cánh Đồng Con Ngựa Chuyến Tàu và một loạt thơ tự do cho đến khi TTY nhập ngũ năm 1963. Có thể đây là sự kiện làm thay đổi, chuyển hướng suy tưởng và mơ tưởng mang tính cá nhân của một nhà thơ trẻ đầy tham vọng lật tung kiếp người, soi rọi, mổ xẻ những bí ẩn được dấu kín trong tận cùng của một thế giới không hiện hữu sang một dòng thơ gần gũi thế sự của một Việt Nam chiến tranh và điêu tàn.

Thế sự, chiến tranh, vai trò người lính trong những năm Miền Nam khói lửa, phải chăng đó là nguyên ủy tạo ra một TTY hoàn toàn khác với một dòng thơ mang màu cổ phong, biểu hiện và đại chúng. Nó ngược hoàn toàn với thơ tự do mang nặng chủ nghĩa cá nhân, siêu hình và tự kỷ.  Không có một sự thật đời thường nào xuất hiện trong thơ tự do của TTY, nó ngược lại hoàn toàn trong các bài hành đầy tâm thế đám đông, gắn liền với thế sự nhiểu nhương có nhiều sự việc, sự vật rất cụ thể, nên nó dễ chạm vào tâm hồn nhiều người như những ca khúc được viết dưới thể loại Bolero. Thật vậy, không khó để đẫn chứng, Qua Sông là một ví dụ:

“ Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện.

Mưa lâu, trời mốc, buồn hôi xưa.

Con đường đáo nhậm xa như nhớ.

Chiều mập mờ xiêu lạc dáng cò.”

Hay trong Anh Hùng Tận:

“Dựng súng trường, cởi nón sắt,

Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều.

Trọn buổi chiều ta nhậu nhẹt,

Mòi chảnh bao nhiêu, rượu rất nhiều.”

Rất nhiều cách viết như thế, nhưng những bài bất tử nhất là trong thể hành, TTY làm người đọc choáng váng với những bài anh làm trong giai đoạn đi tù cải tạo, trong đó có hai tuyệt chiêu là Tàu đêm và Ta Về.

Trong Tàu Đêm, con tàu hỏa xa đưa tù bình cải tạo đi ra Bắc, trong 27 đoạn thơ, có những câu thần sầu như:

“ Tàu đi như một cơn giông lửa

Cuồn cuộn sao từ ống khói bay.”

Hoặc:

“Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc

Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai

Ta gọi rụng rời ta thất lạc

Ta còn chẳng đủ nửa ta đây.”

Và:

“ Tàu đi như một cơn điên đảo,

Sắt thép kinh hoàng va đập nhau

Ta tưởng chừng nghe thời đại động

Xô đi ầm ĩ một cơn đau.”

Với cực kỳ thê thảm cho số phận người tù:

“Ngồi đây giữa những phân cùng bụi

Trong chuyến đời xung xát bạo tàn

Ta trở thành than, thành súc vật.

Tiếng người e cũng đã quên ngang.”

TTY mô tả khiến người đọc nổi gai về sự va đập của bánh sắt con tàu và đường ray:

“Tàu đi khoan xoáy sâu đêm thép,

Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa.

Lịch sử dường như rất vội vã.

Tàu không đỗ lại các ga qua.”

Với Ta Về, bài thơ có tất cả 30 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, TTY thường dành cho 2 câu cuối mỗi đoạn bằng những thi tứ đậm và nồng nhất. Ví như ớ đoạn mở đầu với 2 câu cuối:

“….

Sao vẫn nghe đau mềm phế phủ?

Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay.”

Ở đoạn tiếp theo:

“….

Mười năm, mặt xạm soi khe nước,

Ta hoá thân thành vượn cổ sơ.”

Trong đoạn thứ 9:

“….

Chút rượu hồng đây xin trút xuống, 
Giải oan cho cuộc bể dâu này.”

Năm 1957 khi viết bài thơ Bọt Nước, Tô Thuỳ Yên đã dự báo cho sự ra đi của anh qua hình ảnh chiếc đàn piano như cỗ áo quan cho nhà thơ lìa bỏ cuộc đời. Hôm nay đọc lại thơ TTY, tôi nhận ra trong cõi thơ tự do của anh mới là nơi anh sớm nghĩ đến cái chết, ước mong một cái chết đẹp và đã dặn dò bạn hữu hãy cầu cho anh được bình an trở về với tâm hồn. Vâng, thưa anh, hôm nay, chúng tôi (chúng ta) ai cũng ngậm ngùi thương tiếc anh và cầu anh ra đi bình an Vĩnh hằng.


Bolsa, 22 tháng 5, 2019

Trịnh Cung

bài đã đăng của Trịnh Cung


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)