Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Đỗ Quang Em: hội họa và con người

0 bình luận ♦ 19.02.2022
clip_image001_thumb.jpg

 

 

Lời nói đầu: Bài viết này nằm trong dự định tôi viết về bốn hoạ sĩ thuộc thế hệ Trẻ Saigon trước 1975 gồm có Nguyễn Trung, Đinh Cường, Nguyễn Phước và Đỗ Quang Em. Lý do tôi chọn các hoạ sĩ nêu trên là dựa trên: tài năng, thành công và tầm ảnh hưởng. Lẽ dĩ nhiên, tôi sẽ đưa ra những nhận định chủ quan và sẽ tạo nên những tranh cãi, nhưng trên hết là tính chuyên môn sẽ là điều quan trọng nhất mà tôi chọn lựa cho những bài viết này. –TC

 

 

Đỗ Quang Em mất ngày 3 tháng 8 năm 2021 tại nhà riêng ở thành phố HCM sau một thời gian phải ngồi xe lăn do tai biến đột quị. Chỉ vài tháng sau, vợ anh, chị Nguyễn Thị Thanh Nhàn, người đàn bà luôn là người mẫu quan trọng nhất suốt cuộc đời nhà danh hoạ độc đáo nhất của nền hội hoạ trẻ Saigon trước 1975, cũng ra đi tại nhà riêng chỉ sau chồng một tháng.

Trong những hoạ sĩ đồng thời với chúng tôi, những người sáng lập ra Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam vào năm 1966 tại Saigon, Đỗ Quang Em cho đến ngày anh từ giã cuộc đời, không ai thành công hơn anh trên phương diện được ái mộ về cách vẽ, chủ đề và cả về mặt thị trường. Nhưng trên hết, tính độc lập trong thực hành nghệ thuật của anh là xuyên suốt.

 

clip_image001

Vợ chồng Đỗ Quang Em

 

 

Phần 1

Hành Trình từ số 0 đến thành công

 

* Xuất thân

Đỗ Quang Em sinh năm 1942 tại Phan Rang, là con của ông Đỗ Quang, nhà nhiếp ảnh nổi tiếng ở thành phố Phan Rang cùng thời với các nhiếp ảnh gia Việt Nam đã làm nên lịch sử huy hoàng cho nền nhiếp ảnh non trẻ Saigon – Việt Nam như Cao Đàm, Cao Lĩnh, Phạm Văn Mùi, Nguyễn Mạnh Đan…

Gần như suốt thủa thiếu thời, Đỗ Quang Em sống và quan sát công việc nhiếp ảnh của cha mình, thậm chí anh còn phụ việc trong phòng chụp và tráng phim của ông Đỗ Quang. Chi tiết này rất quan trọng cho phần lý giải vì sao sau này hội hoạ của Đỗ Quang Em rất gần với nghệ thuật nhiếp ảnh truyền thống.

Sau khi học chưa hết chương trình trung học đệ nhị cấp, Đỗ Quang Em bỏ học để dự thi và trúng tuyển vào Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật năm 1961. Đây là một việc đột phá và liều lĩnh của chàng trai tỉnh lẻ muốn tìm thấy ở hội hoạ cơ hội nâng giá trị nghệ thuật nhiếp ảnh mà anh đã từng trải nghiệm qua nhiều năm với cha mình, hoặc ít ra là tìm cho mình một lối đi riêng cho tình yêu cái đẹp. Ở đây, tôi cũng muốn cám ơn sự ra đời hai trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và Huế đã đón nhận những học sinh không có khả năng thích hợp cho việc học khoa bảng với những cấp độ cử nhân, cao học và tiến sĩ, mà lại có những khả năng khác, khả năng hiện thực cái đẹp qua ngôn ngữ hội hoạ hoặc điêu khắc. Trong số này có chúng tôi như Lâm Triết và Mai Chửng của Bình Định, Nguyễn Trung gốc Cần Thơ và Nghiêu Đề dân Quảng Ngải, Đinh Cường gốc Huế và Đỗ Quang Em dân Phan Rang, tôi dân NhaTrang và Nguyên Khai gốc Huế… tất cả gần như không ai vượt qua nổi kỳ thi tú tài để lên đại học.

Có lẽ, điều này đã làm thất vọng các bậc cha mẹ thời mà ai cũng mong con mình học hành đỗ đạt khoa bảng để có được một tương lai tốt đẹp hơn. Chúng tôi chẳng những học hành không khá lại còn đi theo một thứ nghề không mấy được xã hội trọng vọng. Đỗ Quang Em bỏ học, bỏ quê, xa mái ấm gia đình để vào Saigon dự thi vào Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định chẳng phải là một chọn lựa có tính phiêu lưu và thử thách? Cá nhân tôi, hồi rời bỏ Trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang để ra Huế dự thi vào Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế cũng vậy, rất phiêu lưu, may mà thi đậu.

Vì tự ý đi học mỹ thuật ở Saigon, chàng trai xứ tháp Chàm khô nóng, gió cát không muốn phiền luỵ đến gia đình, nên trong năm đầu theo học mỹ thuật với số tiền học bổng eo hẹp, Đỗ Quang Em phải sống rất chật vật ở Saigon. Thậm chí có lúc anh không có chỗ ở, phải ngủ trong một lô cốt bỏ hoang và ăn uống tạm bợ. Tuy thiếu thốn vật chất, anh vẫn học hành trọn vẹn cho đến ngày tốt nghiệp vào năm 1965.

Những năm đầu khởi nghiệp tại Saigon cùng anh em trong Hội Hoạ Sĩ Trẻ, Đỗ Quang Em đã không vẽ theo cách hiện đại như chúng tôi mà vẽ chân phương tả thực. Tiêu biểu cho thời kỳ này là bức tranh “Tăng” lần đầu tiên Đỗ Quang Em cho trưng bày cùng các tranh của những thành viên sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ tại gallery La Dolce Vita nằm trong khách sạn Continental – Saigon năm 1972. Đó là một bức sơn dầu trên canvas được vẽ theo đường lối tả chân về chân dung một nhà sư trong chiếc áo cà sa, nguyên là nhà văn – dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu. Ngoài ra, anh còn vẽ những bức tranh về người Chăm ở Phan Rang cũng mang hình thái hội hoạ tân hiện thực.

 

clip_image003

 

Vì e dè hoặc chưa có dịp tham dự những giải thưởng hội hoạ quốc gia hằng năm như Hội Hoạ Mùa Xuân (có từ năm 1960 và kết thúc vào năm 1964) do còn là sinh viên, nên mãi cho đến vài năm sau khi ra trường năm 1965, Đỗ Quang Em mới tham gia triển lãm cùng chúng tôi. Nhưng phải chờ đến năm 1971, tranh của Đỗ Quang Em mới toả sáng giúp anh nhận được Giải Văn Học Nghệ Thuật Tổng Thống.

 

* Giấc mơ viễn du

Có lẽ vì Paris là một vùng đất hứa, nơi hội tụ của những tài năng hội hoạ lớn như Matisse, Van Gogh, Picasso… đã làm mê hoặc chúng tôi, những hoạ sĩ trẻ vừa gặt hái những thành công ban đầu, hoang tưởng rằng mình phải đến đó để được sống và vẽ như một nghệ sĩ đích thực và còn hơn thế nữa, nên đã có những cuộc phiêu lưu.

Nguyễn Trung, Nguyễn Lâm và Nguyễn Phước là những hoạ sĩ trẻ đầu tiên bỏ Saigon để đi Pháp qua ngả Campuchia. Hồi đó, cảng Sihanoukville thường có tàu đi Pháp, tương đối dễ được lên tàu hơn là cảng Saigon, nên ba chàng đã lên đường hướng về Sihanoukville bằng đường bộ vào năm 1964. Kết cuộc, họ đã bị an ninh Campuchia bắt và đưa vào trại giam tại Nam Vang.

 

clip_image005

 

Riêng Đỗ Quang Em còn táo bạo hơn, theo lời anh, đã về Phan Rang đóng thuyền đi biển rồi cùng vợ ra khơi để đi Tây. Đi không được bao nhiêu hải lý, con thuyền bị hỏng và phải tấp vào một hòn đảo. Đó là câu chuyện trước 1975! Sau khi Saigon thất thủ ngày 30-4-1975, Đỗ Quang Em lại cùng vợ con vượt biên nhưng cũng bất thành, và anh còn bị đi tù 3 năm.

 

clip_image007

Tranh “Nỗi Buồn” của Đỗ Quang Em
vẽ sau chuyến vượt biển thất bại năm 1976

 

* Một con người mưa nắng khác thường

Trong chúng tôi, những người bạn và đồng nghiệp lâu năm của Đỗ Quang Em, không mấy ai hiểu được con người của bạn mình. Anh có một đời sống khép kín cả đời thường lẫn đời nghề, dù chúng tôi vẫn thường gặp anh trong những lần triển lãm chung, trong những buổi hội họp bên tách cà phê, những ly rượu tại các góc phố và ngay tại nhà anh hay tại nhà của mỗi chúng tôi. Mỗi lần như vậy, vẻ ngoài của anh chắc chắn là vui, nhưng thật sự không ai biết anh vui hay buồn, vì không ít lần, sau những lời ra vô rôm rả giữa anh và chúng tôi, bỗng dưng Đỗ Quang Em bật khóc. Anh khóc ràn rụa nước mắt và phân trần nỗi niềm riêng tư của mình (xin miễn nói rõ), chúng tôi hiểu đó là những giây phút hiếm hoi anh mượn rượu để trút ra tâm sự phải giấu kín từ lâu. Và tất nhiên, sau mỗi lần như thế, anh lại ngưng khóc và yêu cầu chúng tôi quên ngay những gì anh vừa nói ra.

 

clip_image009

Một kinh nghiệm khác của tôi với Đỗ Quang Em là có không dưới vài lần, anh đề nghị tổ chức triển lãm chung với chúng tôi, hoặc ngược lại, chúng tôi rủ anh. Tất cả đều đồng thuận, nhưng đến lúc thực hiện thì anh lại từ chối tham dự khiến chúng tôi phải điều chỉnh lại mọi thứ cho buổi khai mạc triển lãm.

Sự thay đổi ý kiến như thế của hoạ sĩ họ Đỗ không dừng ở những lần ấy, mà cả trong việc nhận lời vẽ chân dung cho cô em của một người nhạc sĩ rất nổi tiếng vốn là bạn quí của anh. Đã cầm tiền thù lao, thế mà, ngày hôm sau anh mang số tiền ấy trả lại cho người bạn, với lý do vợ anh không muốn anh vẽ cho bất cứ ai ngoài vợ con.

Đã qua nhiều chục năm cùng hội cùng thuyền, chúng tôi không một ai hiểu được tấm lòng của Đỗ Quang Em rộng hay hẹp, ngoại trừ những buổi sáng gặp nhau ở quán cà phê Hội Mỹ Thuật thành phố HCM, trong không quá một tiếng đồng hồ chỉ để tán gẫu mà không bàn luận gì về sáng tạo, hoặc lâu lâu Hồ Hữu Thủ hay Đỗ Quang Em rủ về nhà mình cùng cụng ly vui vẻ mừng sau khi bán được tranh, hay để bàn luận về một cuộc triển lãm chung sẽ được tổ chức…

 

clip_image011

 

* Một người tin vào thầy xem số

Từ thời chưa nổi tiếng, Đỗ Quang Em thường nhờ thầy xem số mạng để biết phải làm gì để giải cái xui và được cái may. Ông Chiêm ở Đà Lạt, một người nổi tiếng coi bói, giải số cho người không may, vào những năm 80 được Đỗ Quang Em viếng thăm mỗi khi vợ chồng anh gặp chuyện cần giúp đỡ.

Gần đây nhất, vào những năm 2015, thời kỳ tranh không còn bán được – theo lời anh tâm sự với hoạ sĩ Nguyên Khai trong một dịp anh qua Mỹ – một ông thầy chiêm tinh đã khuyên anh phải thêm màu sáng như vàng, xanh lá cho tranh, v.v. thì việc bán tranh mới thuận lợi. Và anh đã làm theo!

Chuyện này không biết có thực sự đem lại kết quả hay không, nhưng anh đã thực hiện sự thay đổi theo lời khuyên này cho một số chân dung tự họa sau này, cụ thể là sử dụng nhiều màu vàng, màu xanh lục và màu đỏ.

 

clip_image012

“Tôi và vợ,” tranh tự họa của Đỗ Quang Em

 

clip_image014

Tranh tự họa giai đoạn 2015-2019

 

clip_image016

Tranh tự họa giai đoạn 2015-2019

 

* Một người không có điện thoại di động

Mọi liên lạc với Đỗ Quang Em, chúng tôi và bất cứ ai cũng đều phải qua số điện thoại di động của vợ anh, chị Thanh Nhàn, người đã đem lại cho Đỗ Quang Em một nhân cách rất khó tiếp cận và kín bưng.

Thực ra, những điều như thế nơi Đỗ Quang Em chỉ xuất hiện kể từ khi anh bắt đầu nổi tiếng trên thị trường nghệ thuật ở Hồng Kong, do Lã Vọng Gallery lăng xê kể từ năm 1993. Đặc biệt nhất là khi một bức sơn dầu của Đỗ Quang Em bán được với giá 50 ngàn đô la trong một cuộc đấu giá ở Hồng Kong, và tên anh được Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton xướng lên trong diễn văn đọc tại Hà Nội khi ông đến thăm Việt Nam vào năm 1995. Cả hai sự kiện này đã giúp tranh anh trở nên cuốn hút nhiều người đặt mua. Tất nhiên Đỗ Quang Em trở nên một trong rất ít hoạ sĩ cùng thời giàu có, và có lẽ anh là hoạ sĩ độc quyền của Lã Vọng Gallery – Hồng Kong do bà Shirley Hui, bà Judith Hughes Day và bà Julia Wen đồng sáng lập. Cho đến năm 1997, Lã Vọng Gallery đóng cửa và bà Judith Hughes Day về Mỹ để cùng chồng mở riêng một gallery tại New York chuyên bán tranh Việt Nam. Tại đó Đỗ Quang Em vẫn tiếp tục là khuôn mặt quan trọng hàng đầu.

 

clip_image018

 

Ngược lại trước kia, đối với Đỗ Quang Em và cả chúng tôi, việc bán tranh rất khó khăn và giá cho mỗi bức tranh thường chỉ khoảng 300 USD nếu được mua bởi một khách nước ngoài, thường là Việt kiều. Vì thế anh thường góp mặt trong các cuộc triển lãm nhóm nhỏ với bạn hữu mà không có chút gì câu nệ.

 

* Bước ngoặt từ Lã Vọng Gallery

Sau khi nước Việt Nam XHCN theo chính sách mở cửa, giám đốc Stephen McGuinness của Plum Blossoms Gallery từ Hồng Kông đến thành phố HCM năm 1991 để tìm cơ hội từ tranh của những hoạ sĩ đang sống trong một đất nước cộng sản vừa trải qua 15 năm thống nhất hai miền nam và bắc. Ông hy vọng tranh của các họa sĩ Việt Nam sẽ mang đến cho khách sưu tập tranh của Plum Blossoms những điều mới lạ, khác thường khi chiếc mạng che mặt của “Cái Đẹp Việt Nam XHCN” được vén lên. Và tôi là người được Uyên, một người phụ nữ làm việc cho một gallery trên đường Đồng Khởi, đưa McGuinness đến gặp. Thật nhanh chóng, nhà buôn tranh người gốc Ái Nhỉ Lan này đã nhờ tôi giới thiệu những hoạ sĩ Việt Nam tốt nhất để ông ấy và nhà phê bình nghệ thuật Jeffrey Hantover cùng tháp tùng đi thăm. Sau đó họ đã chọn: Ở Saigon có Trịnh Cung, Nguyễn Trung, Nguyễn Thân, Bùi Suối Hoa; Huế có Hoàng Đăng Nhuận, Bửu Chỉ; và Hà Nội có Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Lưu Hậu, Nguyễn Quân, Đặng Xuân Hoà, Phạm Việt Hải, Trần Trọng Vũ… Sau đó một năm – năm 1992 – tại Hồng Kong, Plum Blossoms đã tưng bừng khai mạc cuộc triển lãm tranh Việt Nam mang tên Uncorked Soul (Tâm Hồn Bộc Bạch), lần đầu vươn ra khỏi lũy tre làng.

Thế nhưng, rất đáng tiếc Plum Blossoms đã không chọn Đỗ Quang Em! Có lẽ do chủ trương hội hoạ hiện đại, nên họ đã để trôi qua khỏi tay mình cơ hội thủ đắc một nguồn tranh có tiềm năng thị trường rất cao, mà chỉ một năm sau, một gallery khác đã thành công rực rỡ với nó.

Dẫu sao, thành công của cuộc triển lãm Uncorked Soul đặc biệt đến nỗi nó đã tạo cảm hứng cho những nhà đầu tư tác phẩm nghệ thuật ở Hồng Kông hướng mục tiêu mới của họ đến Việt Nam. Cụ thể là ba bà Shirley Hui, Julia Wen và Judith Hughes Day – hai người gốc Hoa và một là người Mỹ – cùng thành lập gallery mang tên Lã Vọng, một gallery mới hoàn toàn tại Hong Kong năm 1993.

Tôi không còn nhớ đích xác ngày tháng nào nhưng là vào năm 1992, cả ba bà đã tìm đến tôi, và cũng như lần trước, tôi đã giới thiệu như đã từng giới thiệu các hoạ sĩ mà tôi cho là tốt nhất vào thời điểm ấy. Họ đã đến gặp từng người từ Nam ra Bắc và đã mang về Lã Vọng gallery những bức tranh mới nhất của Việt Nam – lần này không thiếu tranh Đỗ Quang Em.

 

clip_image020

Tranh người đàn bà ngồi trên ghế tre
của Đỗ Quang Em

 

* Tại sao Lã Vọng thành công lớn với tranh Đỗ Quang Em?

Với Lã Vọng, Đỗ Quang Em không hẳn là hoạ sĩ tài năng vượt trội hơn Nguyễn Trung, và danh tiếng thì không thể sánh với Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng hay Nguyễn Tư Nghiêm, nhưng tranh Đỗ Quang Em lại mang cho Lã Vọng một doanh thu và một tiếng tăm rất đáng ganh tỵ.

Có lẽ rất ít người biết đến lý do của điều này. Lúc bấy giờ ở thị trường nghệ thuật Hồng Kông đang nổi lên Chen Zifei, một hoạ sĩ Trung Hoa vẽ theo trường phái Cực Thực. Tranh ông thường có kích thước lớn, mang nội dung phụ nữ với trang phục cổ truyền Trung Hoa và những vật thể như đàn cổ các loại. Bút pháp của Chen Zifei tinh xảo tới mức người xem khó tìm ra sự khác biệt giữa thật và giả. Tranh Chen Zifei thời bấy giờ – những năm 90-95 – có giá từ trăm ngàn đến cả triệu đô la Mỹ. Lẽ dĩ nhiên, với vốn liếng ít và mới vào nghề, Lã Vọng không có cửa để chạm tới tranh của Chen. Trong khi đó, Đỗ Quang Em của một Việt Nam nhỏ và nghèo, giá tranh chỉ vài trăm đô la Mỹ mà cách vẽ thì khá giống với Chen từ bút pháp đến nội dung, chỉ khác về nhân vật và các vật thể trong tranh. Bên kia là Trung Hoa, bên này là Việt Nam, tại sao không đưa tranh Đỗ Quang Em ra thị trường Hồng Kông, vốn đang ưa chuộng, nếu không muốn nói là thán phục, cách vẽ rất thực và mang tính hoài cổ mà giá chỉ bằng 10% tranh của họ Chen?

 

clip_image022

Một bức tranh của Chen Zifei

 

Thế là Lã Vọng đã mở cánh cửa, đưa tranh Đỗ Quang Em ra thị trường Hồng Kông và đưa qua Los Angeles để tiếp thị. Thành công đã đến như dự tính của Lã Vọng là bệ phóng cho tranh hoạ sĩ họ Đỗ lên hàng được các nhà sưu tập Á châu chào đón nhất đối với tranh Việt Nam lúc bấy giờ.

 

* Hiệu ứng và tầm ảnh hưởng

Thành công vang dội của hội hoạ Đỗ Quang Em trên thị trường nghệ thuật Hồng Kông đã tạo ra làn sóng chơi tranh của anh, và phong trào bắt chước vẽ giống Đỗ Quang Em của người Việt Nam là có thật.

 

clip_image024

 

Đa số người Việt giàu có và yêu tranh đều muốn có tranh Đỗ Quang Em để treo ở phòng khách, nhiều nhất là Việt kiều Mỹ, thậm chí có người mua để đầu tư. Vào thời Lã Vọng còn phát đạt, không dễ gì để mua được từ tay hoạ sĩ họ Đỗ một tác phẩm, mà phải mua giá cao hơn giá gốc anh dành cho Lã Vọng, thường từ 7.000 đến 10.000 USD cho một bức sơn dầu khổ trung bình 60 x 80cm. Cũng vì lẽ này mà đã xuất hiện tranh nhái Đỗ Quang Em để cung cấp cho thị trường tranh Hồng Kong, với giá rẻ bằng 1 phần 10 tranh hoạ sĩ họ Đỗ, thông qua một bà Việt kiều Mỹ tổ chức và tiêu thụ. Những người vẽ này cũng không mấy xa lạ gì trong giới văn nghệ sĩ Saigon, họ có người là nhiếp ảnh gia, có người là hoạ sĩ xuất thân từ Trường Mỹ Thuật Saigon. Họ vẽ giống từ bố cục đến chủ thể – cũng khăn lụa, đèn dầu, chõng tre, ấm trà… – đến gam màu nâu ấm và một thứ ánh sáng mang nhãn hiệu Đỗ Quang Em. Riêng nhà nhiếp ảnh nọ thì sản xuất theo công nghệ hẳn hoi. Anh sắp đặt xong các tĩnh vật, rọi đèn đúng cách và chụp ảnh dưới gam màu đặc thù Đỗ Quang Em, rồi mới in ra mẫu để giao cho thợ vẽ làm việc riêng cho anh để chép thành tranh bằng sơn dầu trên canvas, với số lượng bản chép theo yêu cầu của bên đặt hàng.

Lối làm ăn bẩn thỉu này tồn tại một thời gian không lâu, do bị phát hiện và cũng do nhu cầu mua tranh Đỗ Quang Em đã đến lúc bão hoà sau 5 năm bộc phát. Lã Vọng phải đóng cửa vào năm 1997, và giá tranh Đỗ Quang Em phải xuống thấp. Năm 2015, tôi đến thăm anh và mua giùm cho một anh bạn hai bức với giá chỉ còn 5.000 USD/bức cùng chứng kiến khoảng 30 bức tranh được anh kê dựa vào chân tường phòng khách nhà anh trong cư xá Nguyễn Thiện Thuật, quận 3 tp HCM. Anh than rằng dạo này không có mấy khách mua.

 

clip_image026

 

 

Phần 2

Hội hoạ Đỗ Quang Em từ Tân Hiện Thực đến Hiện-Thực-Biểu-Tượng

 

* Ánh sáng đèn rọi (Spotlight): một chọn lựa có tính đột phá, một tư duy hiện đại

 

clip_image028

Tranh tĩnh vật Đỗ Quang Em

 

Vì tranh Đỗ Quang Em được vẽ tinh xảo như thật, và nhất là nghe nói người hoạ sĩ này có nguồn gốc thuộc một gia đình chuyên về nhiếp ảnh, nên nhiều người Việt, dù quen hay không quen với Đỗ Quang Em, truyền tai nhau là Đỗ Quang Em sắp đặt các yếu tố định vẽ thành một bố cục hoàn chỉnh rồi chụp hình để vẽ lại bằng kỹ thuật sơn dầu cổ điển. Điều này nghe ra cũng có lý, vì cho đến nay, trong số chúng tôi, những người bạn đã chơi thân với anh hơn vài chục năm, không ai được thấy tận mắt xưởng vẽ của anh lớn bé như thế nào, đừng nói đến là đã chứng kiến lúc Đỗ Quang Em ngồi vẽ, thì làm sao biết được anh có chụp hình để dựa vào đó mà chép lại y chang. Việc này hoàn toàn được anh giữ bí mật cho đến ngày anh trút hơi thở cuối cùng, 3 tháng 8 năm 2021, tại nhà riêng. Riêng cái ảnh chụp Đỗ Quang Em ngồi tay trái cầm bảng pha màu, tay phải cầm cọ đang vẽ kèm theo bài viết này (bên dưới) là hình diễn, không thật, vì tư thế cũng như trang phục không thích hợp cho việc hoạ sĩ đang sáng tác. Đó là trang phục tiếp khách hoặc đi uống cà phê ở Hội Mỹ Thuật thành phố trên đường Pasteur.

 

clip_image029

 

 

* Chỗ khác nhau giữa tranh Hiện Thực kinh điển, tranh Cực Thực của các danh hoạ tầm thế giới với tranh Hiện-Thực-Biểu-Tượng của Đỗ Quang Em

 

clip_image031

“Gác đêm,” tranh Rambrandt

 

clip_image033

“Người hầu sữa,” tranh Vermeer

 

Vì trên các mạng xã hội đã xuất hiện những nhận định của vài hoạ sĩ và nhà báo Việt Nam phán rằng hội hoạ của Đỗ Quang Em rất gần gũi với hội hoạ của những danh hoạ thế giới thời hậu Phục Hưng như những Rembrandt, Vermeer… hay Siêu Thực kiểu Salvador Dali và Cực Thực như tranh của Duane Hanon hay Marylin Minter (Mỹ) và Chen Zifei (Trung Hoa). Ôi, sự gán ghép như thế thật là quá đáng, thiếu nghiên cứu. Sự gán ghép tài năng Việt với các bậc thầy phươnng Tây là một thói quen có từ lâu của người Việt Nam để tự hào, để ca ngợi ồn ào khi có một nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ nào đó vừa có tác phẩm giá trị được một tổ chức nước ngoài nhìn nhận. Đó là những cơ hội cho sự tung hô bất chấp, mà mức độ lố bịch cũng như những điều ngộ nhận có thể khiến người được xưng tụng phải bối rối, xấu hổ vì một danh tiếng không thực. Thậm chí đây có thể là một sự xúc phạm khi những nhà bình luận đã không nhìn ra điểm cao quí nơi nỗ lực gìn giữ một bản thể sáng tạo thuần Việt – như trường hợp Đỗ Quang Em. Hơn thế nữa, trong đời sống thường ngày, Đỗ Quang Em luôn rất truyền thống Việt trong trang phuc và cả tóc râu; rất ít khi anh mặc Âu phục.

Thật là đáng buồn khi Đỗ Quang Em muốn làm khác đi, muốn tạo ra một thứ hội hoạ văn minh nhưng không là bản sao của bất cứ danh hoạ phương Tây nào, thì tranh của anh bị cho là thuộc phái Hiện Thực, còn chính anh thì bị gán cho là bậc thầy của phái Cực Thực… chỉ vì anh đã sử dụng kỹ năng vẽ Hiện Thực để phục vụ cho muc đích hội hoạ của riêng mình: Hiện-Thực-Biểu-Tượng.

 

clip_image034

Tranh cực thực của Douan Honar

 

clip_image036

Tranh cực thực của Marylin Minter

 

Tôi nghĩ là nên đặt tên như thế do dựa trên những gì người xem thường gặp trên tranh Đỗ Quang Em. Tất cả mọi hình thể trong tranh anh đã thể hiện đều mang tính biểu tượng về thế giới của dân Việt như chiếc áo dài, áo yếm với chiếc bùa hộ mạng, cái khăn mỏ quạ, ngọn đèn dầu hột vịt, cái chõng tre, chiếc khăn lụa hoặc cục gạch, v.v. và ngay cả nỗi buồn trên khuôn mặt của các nhân vật, tất cả đều mang tính biểu tượng cho một thế giới đang chìm dần vào bóng tối hoặc đã thuộc về quá khứ.

Hội hoạ Đỗ Quang Em đúng là Hiện-Thực-Biểu-Tượng. Một dẫn chứng cho lối vẽ tranh này, bạn tôi, nhà thơ Y Dịch (Lê Đình Điểu, đã mất), trước khi đi định cư ở Pháp năm 1983, có mua một bức tranh sơn dầu của Đỗ Quang Em vẽ một người đàn bà mặc áo bà ba đen ngồi trên ghế gỗ xưa với hai bàn tay xoè ngửa trống không như muốn nói, “Tôi không còn gì. Mất sạch rồi. Trắng tay.”

 

clip_image037

Tranh người đàn bà “trắng tay”
(thuộc sưu tập gia đình Lê Đình Điểu)

 

Như thế, nhân vật trong tranh Đỗ Quang Em đã chẳng phải là biểu tượng chung cho những số phận người Việt đau khổ sao? Nhìn rộng hơn, hầu hết các bức khác về người đàn bà hay các tĩnh vật được vẽ bởi Đỗ Quang Em đều mang tính biểu tượng sâu sắc cho một cõi dân tộc Việt đang bị quên lãng, đang suy tàn.

 

* Cần nói thêm về chỗ khác nhau giữa tranh Đỗ Quang Em và tranh của các bậc thầy thuộc Hiện Thực kinh điển phương Tây

Chỗ khác nhau ấy nằm ở một bên là các bậc thầy phương Tây đã vẽ theo lối vẽ kinh điển trăm phần trăm từ bút pháp, bảng màu cho đến ánh sáng. Đặc biệt là ánh sáng, tranh cổ điển đích thật dù bất cứ thuộc thời đại nào, chỉ khác nhau về chất liệu như màu và bố vẽ, vì lý do các loại chất liệu dành cho việc vẽ tranh ngày càng tốt hơn về chất lượng do tiến bộ khoa học. Ngoài ra, người vẽ trường quy luôn tuân thủ các quy trình từ khi bắt đầu vẽ phác thảo cho đến hoàn tất, nhanh hay chậm tuỳ theo kích thước và nhiều hay ít nhân vật trong tranh. Do sơn dầu lâu khô, nên một bức tranh khổ trung bình phải mất ít nhất là 3 tuần lễ. Trong những tranh loại này, ngoài bút pháp và bảng màu, ánh sáng chiếu trên sự vật là ánh sáng tự nhiên, thứ ánh sáng trời hoặc do ánh đèn dầu chiếu lên các vật thể trong bức vẽ nếu đó là sự mô tả vào ban ngày, ngược lại là thời gian hay không gian thuộc về bóng tối.

Riêng Đỗ Quang Em, do có trải nghiệm hoặc quán tính từ nhiều năm quen với ánh sáng đèn rọi của nhiếp ảnh studio gia đình, nên anh đã có một chọn lựa độc đáo là dùng ánh sáng đèn rọi (spotlight) thay thế cho ánh sáng tự nhiên để tạo sự tương phản mãnh liệt giữa tối và sáng. Điều này làm nổi bật các chi tiết đặc thù của các vật thể như chiếc khăn lụa vắt trên ghế tre hay chiếc ấm đất, những nếp gấp và hoa văn của tà áo, v.v.

Do đó mà Đỗ Quang Em đã bỏ qua quy luật xa gần của ánh sáng trên nhân vật hay các tĩnh vật mà nhà trường đã giảng dạy. Trong tranh hiện thực truyền thống, các vật thể của bức vẽ chỉ có một nơi nhận ánh sáng trực tiếp, gần nhất mới có điểm sáng nhất, còn những phần khác thì ánh sáng phải mờ hơn theo khoảng cách xa gần để tạo ra valeurs (các giá trị) khác nhau. Ngược lại, với ánh sáng đèn rọi (spotlights), tranh Đỗ Quang Em cho thấy các điểm sáng đều như nhau. Tuy nhiên, đa phần người xem tranh không nắm rõ các quy luật hội hoạ của từng trường phái, nên cứ thấy tranh đẹp làm sướng mắt rồi thán phục.

 

* Thử giãi mã bí kíp

Giới “giang hồ” mỹ thuật Saigon ai cũng biết Đỗ Quang Em mắc chứng Parkinson tay phải, tay thuận để vẽ. Họ không nghĩ ra được bằng cách nào Đỗ Quang Em vẽ được tinh vi từng sợi tóc, từng sợi râu và nhiều chi tiết rất phức tạp khác với cái tay bị rung bần bật mỗi khi anh cầm tách cà phê hay điếu thuốc.

 

clip_image039

Họa sĩ ngồi bên ly cà phê

 

Tôi nghĩ rằng đã có một sự giúp đỡ đặc biệt của giây phút cây cọ trên tay anh tiếp xúc với mặt canvas đã tạo nên một điểm tựa. Cũng giống như khi tách cà phê hay điếu thuốc chạm vào môi anh, nó nhờ có điểm tựa để nước cà phê được uống ngon lành hay khói thuốc được hít vào và nhả ra trong sảng khoái, và những lúc ấy sự rung lắc đã biến mất. Với cây cọ vẽ cũng vậy, khi nó đã chạm vào mặt canvas, Đỗ Quang Em sẽ không khó để đưa cây cọ vẽ đi theo hướng mà anh muốn vẽ. Thêm một bằng chứng về điểm tựa cho bàn tay khỏi rung, là mỗi buổi sáng sớm, anh thường đi cà phê hoặc ăn sáng bằng xe tay ga. Nếu một trong hai tay bị rung thì làm sao cầm tay lái? Phải chăng nhờ vào điểm tựa cho bàn tay khi nó được đặt trên tay nắm (ghi đông) cùng sự trợ giúp của cái đầu hoàn toàn tập trung cho việc lái xe để tránh té ngã?

 

clip_image041

Họa sĩ trên chiếc xe máy

 

Ngoài ra, còn có một sự giúp đỡ khác – một sự giúp đỡ rất mầu nhiệm – đó là nguồn cảm hứng sáng tạo. Người ta còn gọi đó là giây phút người hoạ sĩ nhập đồng. Trong cơn say đường nét, màu sắc… thì không còn gì tồn tại ngoài sự thăng hoa của tâm hồn người vẽ khi tác phẩm hiện lên dưới mắt họ những hình tượng nghệ thuật đẹp bất ngờ, đẹp lạ lùng, nhờ vậy mà bàn tay “bắt được của Trời” lại trở nên bay bổng tài hoa tột cùng.

 

* Còn bí mật studio?

Mặc dù giấu kín chỗ đặt giá vẽ (theo bà Shirley Hui cho biết qua bài viết lời tựa cho vựng tập Đỗ Quang Em, bà được họa sĩ đưa lên xưởng vẽ của anh đặt trên tầng 1 của nhà anh), cách tạo ánh sáng trong tranh bằng đèn rọi cũng tự nó tiết lộ Đỗ Quang Em vẽ ở một nơi nào đó khá kín đáo trong nhà riêng, một nơi thiếu ánh mặt trời, một nơi không ai nhìn thấy anh ngồi vẽ, ngoài bà vợ và cô con gái làm mẫu cho anh. Đó là một cách giấu nghề như chuyện bí mật phòng the? Câu trả lời là đúng vì lý do bản quyền, Đỗ Quang Em không muốn ai bắt chước cách vẽ của mình, một cách vẽ đã làm nên một cơn sóng thị trường đang mang lại cho anh lợi nhuận cao và danh tiếng vang dội.

Tuy nhiên, qua một vài lần anh cho tôi xem một bức tranh đang vẽ dở dang, tôi đã nhận ra rằng anh không vẽ theo phương pháp trường quy mà lại theo cách chép tranh. Cách vẽ này từ bỏ vẽ tổng thể (ensemble) mẫu vẽ mà vẽ thẳng vào chi tiết, ví dụ vẽ xong đôi mắt rồi mới vẽ đến mũi, cứ thế cho đến khi hoàn tất một bức chân dung. Cách vẽ này là điều cấm kỵ trong thực hành của hội hoạ trường quy. Tuy nhiên, với tự do của một nghệ sĩ bên ngoài nhà trường, họ có quyền vẽ theo sở thích của họ, miễn sao kết quả cuối cùng mang lại cho họ sự ngưỡng mộ tác phẩm bởi công chúng – mục đích quan trọng nhất. Và Đỗ Quang Em đã thành công lớn…

 

* Một chút về hội hoạ trường quy

Thế thì theo hội hoạ trường quy, từ quá trình khởi vẽ cho đến khi hoàn thành tác phẩm, người hoạ sĩ phải thực hành ra sao?

Xin thưa, có ba giai đoạn vẽ:

1. Bắt đầu vẽ đường nét tổng thể toàn bộ mẫu vẽ trước mắt.

2. Cho màu tổng thể mẫu vẽ để phân định độ đậm nhạt do tương quan giữa các thành phần trong bố cục, trong đó các khối chính và phụ được xác định bằng màu đậm nhạt và ánh sáng đặc biệt để làm nổi bật chủ đề.

3. Hoàn thiện tác phẩm bằng cách nhìn lại tổng thể bức tranh có điểm nào thừa hoặc non yếu, kích cỡ các khoảng trống có rộng hay hẹp quá khiến bố cục bị ngợp, và sau cùng là khoảng cách và hình khối của các thành phần phụ trong bức tranh có khác nhau không, nếu đều nhau sẽ làm cho bức tranh trở nên thiếu linh hoạt, thiếu sống động.

Một bức tranh hoàn thiện phải hội đủ bốn yếu tố:

1. Bố cục vững chắc

2. Màu sắc hài hoà

3. Đường nét có nhịp điệu

4. Ánh sáng, điểm nhấn có tính quyết định

 

* Hội hoạ Đỗ Quang Em, một cõi rất riêng

Đúng như vậy, tôi quý Đỗ Quang Em ở chỗ lớn lao này mà trong những hoạ sĩ tài hoa nhất của thế hệ chúng tôi không ai làm được. Anh im lặng và kiên nhẫn vẽ theo cách mô phỏng người và vật thật trên chủ đề đời thường của giá đình anh, trong khi hội hoạ hiện đại của chúng tôi được đón nhận một cách nồng nhiệt vào những năm Sài Gòn 60-70. Và sự kiên định cho một đường lối hội họa dân túy Viêt Nam ấy của anh đã lên ngôi rực rỡ khi một bức sơn đầu Đỗ Quang Em được trao giải Văn Học và Nghệ Thuật Tổng Thống VNCH năm 1970, và nhất là sau khi Lã Vọng Gallery của Hồng Kong tìm đến Đỗ Quang Em vào năm 1992. Từ đây, tranh Đỗ Quang Em trở thành niềm ham muốn của giới yêu tranh khắp nơi, và giá tranh của họa sĩ họ Đỗ cao lên cả chục ngàn đô la Mỹ, khiến tên anh đã được đưa vào diễn văn Tổng Thống Bill Clinton khi ông đọc trong chuyến thăm chính thức Việt Nam năm 2000.

May thay, Đỗ Quang Em đã không đua đòi hiện đại hóa hội họa một cách điên cuồng như chúng tôi, những kẻ đã đánh mất sự tinh khiết bản ngã cần có hàng đầu của nhà nghệ sĩ Việt qua tác phẩm của mình trong suốt nửa thế kỷ làm hội hoạ. Chúng tôi đã đắm chìm, say ngất trong sự tôn vinh ngu xuẩn của đám nhà giàu mới học làm sang, chạy theo thứ hội hoạ thời trang nhất mà không biết rằng mình đã bỏ ra rất nhiều tiền để chơi hàng nhái theo những thương hiệu Modigliani, Paul Klee, Soulages, Tapies, Francis Bacon, Cy Twombly… được “sáng tạo” ra bởi những nhà tiền phong Viêt Nam.

 

* Sáng suốt trong vỏ bọc quê mùa

Đỗ Quang Em thường trả lời những câu hỏi vì sao ông chỉ vẽ toàn vợ con và những chõng tre, cục gạch, cái ấm đất, cây đèn hột vịt: “Tôi không biết gì về bên ngoài bốn bức vách nhà tôi…” Đỗ Quang Em đã nói một câu đầy hàm chứa và tinh quái.

Nếu muốn là chính mình thì phải giữ mình, không vay mượn, không thoả hiệp, không sao chép lại tranh mình theo yêu cầu của khách hàng… Đỗ Quang Em thà làm con ếch của đáy giếng làng mình, nhưng người dân vẫn mỗi ngày đến kéo lên những gầu nước ngọt trong veo mát lạnh để nuôi dưỡng đời sống. Hội hoạ của Đỗ Quang Em là thứ nước giếng ấy, thuần khiết và mát ngọt.

Để có một thứ hội hoạ mang tên Đỗ Quang Em, anh đã từ chối những cái bóng lớn như Rambrandt, Vermeer, Salvador Dali… thậm chí từ chối lệ thuộc vào bất cứ trường phái hội hoạ nào kể cả việc dám loại bỏ các quy luật hội hoạ hàn lâm để được tự do tuyệt đối trong thực hành nghệ thuật. Và điểm nhấn của sự bảo vệ tự do cho mình trong sáng tác, Đỗ Quang Em đã rất táo bạo dùng ánh sáng đèn rọi (spotlight) thay cho ánh sáng mặt trời để tạo ra hiệu ứng tương phản mãnh liệt làm bật lên sự điêu luyện, vi tế và sắc bén tột cùng của bút pháp chỉ có trời cho Đỗ Quang Em. (Nhà văn Mai Thảo đã từng đặt tên cho những bàn tay tài hoa của hoạ sĩ là “Bàn Tay Bắt Được Của Trời.”)

Và như thế, với một thứ hội hoạ rất riêng, từ khí hậu cho đến nội dung, Đỗ Quang Em đã tạo ra cho mình Một Cõi Riêng trong nền hội hoạ Việt Nam.

Vì thế, mọi ví von Đỗ Quang Em là Rambrandt hay Vermeer là sai rồi. Lại sai thêm khi không nhận ra nền của mỗi bức tranh Đỗ Quang Em rất đơn giản, không có chiều sâu. Anh chỉ dùng một màu tối hoặc xám, tương tự như một phông màn phía sau nhân vật của một tấm ảnh. Anh chỉ áp dụng một phần của lối vẽ hiện thực và cực thực để diễn tả sự vật chứ không tuân thủ toàn bộ quy luật của các trường phái hiện thực hay cực thực. Đỗ Quang Em vẫn nhất quán với Hiện-Thực-Biểu-Tượng mà anh đã chủ trương từ lâu.

 

* Sự khác thường trong những tự hoạ mới của Đỗ Quang Em có liên quan gì đến ngày tàn của một thời vàng son hội hoạ Đỗ Quang Em kéo dài từ 1992 đến 2015?

 

clip_image043

clip_image045

Vài tranh tự hoạ mới

 

Đây là một loạt tranh tự hoạ rất đặc sắc cả về nội dung lẫn phẩm chất sáng tạo mà những nhà nghiên cứu hội hoạ Đỗ Quang Em sau này sẽ rất hứng thú trong khám phá nội hàm đầy tâm trạng mà các bức tự hoạ này mang lại.

Riêng cá nhân tôi nhận thấy, trong những tranh tự hoạ cuối đời như đang đề cập, Đỗ Quang Em đã rất đầu tư cho phần nền với một số hoạ tiết lạ, nhiều hư cấu và giả tưởng trong một không gian có chiều sâu, một không khí đầy ám ảnh bởi sự sung đột giữa bóng tối mộ địa và vùng sáng của tiếng gọi lâm nguy bằng sự xuất hiện của màu lục non, màu vàng sáng, màu đỏ huyết dụ trên nền nâu đen u tối tạo ra mối tương phản giữa dằn xéo và bình an, giữa thực và hư, giữa hoài nghi và thách đố… thay vì trước kia là thuần nâu an nhiên, kiệm lời.

Sự tương phản không dừng lại ở màu sắc mà còn cả trên sắc diện của chủ thể và cũng chính là người vẽ. Sự căng thẳng, lo âu xuất hiện trên khuôn mặt, ánh mắt và râu tóc như muốn nói với cuộc đời sao lại quá ngắn ngủi và những gì đang chờ anh ở phía trước? Cái chết hay một nỗi đau đã đến lúc không đè nén được? Sau lưng những bức tự hoạ này, những cây cọc, những hàng rào, màu đỏ bầm loang ra từ vùng đất u tối, từ đáy sâu muốn vùi lấp, tất cả chúng mang ý nghĩa gì? Ẩn dụ cho điều gì? Nếu chúng ta xem lại những tự hoạ của anh trước kia, sự an nhiên và tự tin có chút gì kiêu hãnh là dấu ấn khác hẳn những tự hoạ mà anh đã vẽ vào những năm tháng cuối đời.

 

* Di sản để lại

Không phải là ma thuật trong bút pháp tạo ra đường nét, màu sắc và ánh sáng khiến các nhân vật và đồ vật trong tranh hiện ra như thật, một không gian tranh đẹp vô cùng quyến rũ mà Đỗ Quang Em không những đã làm cho người xem tranh anh phải choáng ngợp, phải thán phục mà ngay cả những hoạ sĩ Việt Nam nổi tiếng trước anh như Võ Đình, Nguyễn Trung phải ngả mũ. Nguyễn Trung, người từng đoạt huy chương vàng giải Hội Hoạ Mùa Xuân năm 1963, năm Đỗ Quang Em còn học trong Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, đã phải thừa nhận: “Đỗ Quang Em, người đặt để ánh sáng một cách quyền uy.” Tuy nhiên, những kết quả tuyệt vời ấy cũng chỉ thuộc về kỹ năng mô tả ở trình độ điêu luyện, nó không mang được tầm vóc lớn của một đường lối hội hoạ, một quan niệm sáng tạo mà Đỗ Quang Em đã tạo ra cho sự nghiệp của mình.

Hội hoạ Hiện-Thực-Biểu-Tượng mới là một con đường sáng tạo riêng do anh thiết lập để chuyển tải một thông điệp quan trọng mà chưa có hoạ sĩ Việt Nam nào nghĩ đến, để viết ra bản kinh cầu hay chiêu niệm bằng máu của tâm hồn nhà nghệ sĩ yêu vợ thương con, biết ơn cả cái chõng tre, cục gạch, cái đèn dầu, cái thang tre, cái ấm đất… tất cả đều là biểu tượng cho một bản thể văn hoá Việt trăm năm nay đang chết dần, đang chìm xuống vùng quên lãng không thể cứu vãn bởi sự xâm lăng của chủ nghĩa hiện đại toàn cầu. Một trận đại hồng thuỷ của đạo đức giả, của hàng giả, của sự lên ngôi lưỡng tính, của fast food và fast love… đang huỷ diệt nền nhân văn chân thật, vàng ròng bằng một trào lưu văn hoá xi mạ, plastic hoá vỏ bọc cuộc sống con người đang diễn ra ngày một trầm trọng.

Mặt khác, về tinh thần, hội hoạ của Đỗ Quang Em cũng là tiếng thở dài thất vọng vì một trào lưu mê muội chạy theo thứ thẩm mỹ lộng ngôn, nông nổi và dối trá mang tên rất lộng lẫy: “Hội Hoạ Đương Đại” của khá đông hoạ sĩ Việt nhiều tài năng đã tự biến thành cái giá áo cho thứ mỹ thuật thời trang ngoại nhập sớm nở tối tàn.

Đó chính là cái di sản mà hoạ sĩ Đỗ Quang Em đã để lại.

Bolsa, ngày 27-10-2021

 

*Các hình đính kèm một phần thuộc tư liệu riêng của tác giả, một số khác thuộc tư liệu của hoạ sĩ Nguyễn Lâm. Riêng tranh của các hoạ sĩ ngoại quốc được lấy từ internet.

bài đã đăng của Trịnh Cung

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)