Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Tình yêu và Danh dự và Xót thương và Tự hào và Cảm thông và Hy sinh (Phần 1)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 3.03.2009

LTS: Dưới đây là bản dịch từ nguyên bản tiếng Anh, Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice, một trong những truyện ngắn của Nam Lê trích từ The Boat (Chiếc Thuyền), tuyển tập truyện ngắn đầu tay của nhà văn, đã được tiếp nhận nồng hậu ở Úc, Hoa kỳ và Anh vào giữa năm 2008, và giúp Nam Lê đoạt giải Dylan Thomas.

Tựa đề truyện lấy ý từ bài diễn văn Nobel năm 1950 của nhà văn Hoa Kỳ William Faulkner. Theo Faulkner, "mọi vấn nạn của trái tim con người trong trạng thái xung đột với chính nó" luôn luôn sẽ tạo tác những tác phẩm văn chương bất hủ." Mặt khác, nếu vắng bóng những chất liệu căn bản của trái tim, như "tình yêu và danh dự và xót thương và tự hào và cảm thông và hy sinh," bất cứ một tác phẩm văn chương nào cũng sẽ bị mai một, quên lãng, vì một người viết không có đủ "trái tim" cũng chỉ là một tên thợ "viết về nhục dục, thay vì tình yêu, hoặc về những thất bại mà chẳng ai mất mát điều gì quý giá, hay những chiến thắng vỡ mộng, và tệ nhất, không một chút xót thương hay cảm thông. Những nỗi đau của y [vì thế] không phải là những nỗi đau của hoàn cầu, không để lại những vết sẹo…."

Trong truyện, Nam Lê khai phá những khó khăn của một nghệ sĩ di dân ở thế hệ 1.5, lớn lên ngoài nước Việt Nam, có bố mẹ đã trải qua kinh nghiệm chiến tranh, trại cải tạo, và cuộc vượt biển tìm tự do. Làm sao để một nhà văn có "diễm phúc" lớn lên ở xứ sở tự do tránh được chuyện khai thác hay bị ảnh hưởng bởi quá khứ đau buồn của bố mẹ mình, mà vẫn thành công trong nghề nghiệp tự chọn và đồng thời đạt được tiêu chuẩn văn chương "viết từ trái tim" của Faulkner?  

 Nam Le at harbor

Ba tôi đến vào một buổi sáng trời mưa. Tôi đang mơ màng về một bài thơ, nhìn thấy những giòng chữ xuất hiện qua từng tiếng tạch tạch đều đều của chiếc máy chữ. Đây là bài thơ rất được – có lẽ là bài hay nhất của tôi. Tôi choàng dậy. Ba tôi đang đứng ngoài cửa phòng ngủ của tôi, mỉm cười khó hiểu. Ông mặc quần đen và áo vải dù ướt mưa, nhầu nhĩ, như vừa mới lôi từ máy giặt ra. Đóng khung bởi khuôn cửa, trông ông bé nhỏ hơn, gầy gò hơn hình ảnh tôi vẫn nhớ về ông. Vẫn chưa tỉnh ngủ, tôi ngẩng mặt nhìn về chiếc đồng hồ báo thức.

“Mấy giờ rồi Ba?”

“Chào con,” Ba tôi nói tiếng Việt, “Ba gõ cửa một lúc lâu, thấy cửa không khóa, ba vào.”

Những cánh đồng trong suốt như pha lê, Tôi nghĩ. Và ta-tà ra, một hợp âm, ngắt dòng, hai chữ viện cớhợp kim tiếp theo ở dòng kế. Rồi gì nữa, Tôi cố nghĩ.

“Mưa lớn đấy,” ông nói.

Tôi cau mày. Đồng hồ chỉ 11:14 sáng. “Con tưởng buổi chiều ba mới đến.” Cảm giác là lạ. Lâu rồi tôi mới có dịp nói chuyện lại bằng tiếng Việt.

“Người ta đổi chuyến bay của ba ở Los Angeles.”

“Thế sao ba không gọi phone cho con?”

“Ba có gọi” ông nói bình tĩnh. “Nhưng không ai nhấc máy.”

Tôi xoay người ngồi dậy và mở cửa sổ. Tiếng mưa ùa vào phòng, mưa đổ trên phố, trên mái, trên chiếc kho tôn bên kia sân đậu xe, nghe như tiếng pháo rền từ xa. Không gian đượm mùi ẩm ướt của lá mục.

“Con tắt chuông điện thoại lúc đi ngủ,” Tôi nói. “Xin lỗi ba.”

Ba tiếp tục mỉm cười với tôi, như chờ một lời tuyên bố.

“Lúc đó con đang mơ.”

Ba tôi thường đánh thức tôi, khi tôi còn bé, bằng cách đứng bên giường tôi và đánh nhè nhẹ vào má tôi. Tôi ghét cái cảm giác đó—bàn tay nhơm nhớp, chua chua của ông.

“Dậy đi,” ông nói và nhấc chiếc giỏ Adidas và một cuộn gì đó như cái chăn túi. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.” Ba tôi có thói quen nói những câu châm ngôn tiếng Việt. Từ lâu rồi, tôi đã biết làm ngơ cái tật này của ông.

Tôi mặc vào cái T-shirt và thò cổ ra ngoài cái cửa sổ duy nhất của phòng. Qua màn mưa, bầu trời xám vằn vện như chì. Những cánh đồng trong suốt như pha lê… Như ảo ảnh trong khói, bài thơ mờ dần, tan biến vào thực tại mới, lạnh lùng và lạ lẫm: bãi đậu xe bị gió vút, mưa quật, căn phòng tối với cái giường gần như choán hết chỗ, và thân người còi cọt của ba tôi đứng nhỏ từng giọt nước mưa xuống sàn gỗ.

Tôi tiến lại phía ba, chân tôi nổi da gà trong bộ pyjama. Ba tôi nhìn tôi, hòa nhã, thờ ơ khi tôi bắt tay ông và đỡ chiếc giỏ từ tay ông. “Chắc ba mệt lắm hả,” Tôi nói.

Ông đã bay từ Sydney, Úc. Ba mươi ba tiếng, dừng nghỉ tại Auckland, Los Angeles, và Denver trước khi hạ cánh tại Iowa. Đã ba năm rồi tôi chưa gặp ông.

“Ba ngủ ở phòng con nhé.”

“Lòe loẹt nhỉ,” ông vừa nói, vừa đi trước tôi, xem xét chỗ ở. “Con còn có cả piano nữa kia à.”. Một nụ cười gần như thiểu não đượm trên môi ông. “Ba biết con chẳng bao giờ bỏ chuyện tập đàn.” Có một nét gì đó thoáng qua khuôn mặt ông, tôi bất giác thấy lại mình ngồi trên chiếc ghế cao, mấy ngón tay chạy đua với máy đếm nhịp, cố gắng tránh nghe tiếng thở dài của ông thầy và cái thước kẻ bằng đồng nặng chịch. Tôi chợt nhận ra mình đang xoa xoa những đốt xương tay. Cha tôi vỗ vào tấm nệm trong phòng khách của tôi. “Ba sẽ ngủ ở đây.”

“Ba ngủ trong phòng con mà.” Tôi đề phòng nhìn ông khi ông tiếp tục xem xét xung quanh, những cuốn sách bừa bộn, giấy má, chén đĩa dơ, quần áo—Tôi đã định dọn dẹp trước khi ra sân bay. “Con làm việc ở phòng này mà ba, con hay làm việc khuya.” Khi ông vừa vào bếp tôi dúi vội chai Johnnie Walker còn ba phần tư từ tầng thứ hai của kệ sách xuống dưới gầm bàn. Tôi đảo mắt nhìn quanh. Mặt bàn đầy tàn thuốc lá. Tôi che vội bằng một cuốn tạp chí, và lật sấp nó xuống vì mặt trên có hình Mao Chủ Tịch. Tôi cũng thu vội mấy bao thuốc lá, mấy vỉ thuốc ngủ và giá đốt nhang, để chúng lên kệ sách cao, phía sau mấy quyển tiểu thuyết Kafka ấn bản classic.

Đứng ở cánh cửa bếp, tôi chợt nhớ tấm hình Linda ở cạnh chiếc máy in. Tấm hình “láng” của nàng, với mái tóc gió bay tung, mắt nheo cười với ai đó ở ngoài khung ảnh. Một trong những tên bồ cũ của nàng đã chụp ở hồ MacBride. Trông nàng vui tươi. Tôi tóm lấy tấm hình và lật úp nó xuống, che đi bằng mớ giấy nháp.

Vào bếp, mới đầu tôi tưởng mình đã để ngỏ cửa ra lối thoát hiểm hỏa hoạn. Tôi dường như nghe thấy tiếng mưa chảy xối xả qua đường mương, từ ống máng đổ xuống. Nhưng rồi tôi thấy ba đang đứng trước cái bồn rửa chén, tay áo vén cao, đang cọ rửa đống bát đĩa dơ còn dính cứng thức ăn từ cả tháng trước. Cái mùi sực lên kinh khiếp. “Ba,” tôi cau có, “Ba không phải làm như vậy.”

Hai bàn tay rắn chắc, khô nhăn của ông nhúng thoăn thoắt trong bồn rửa chén.

“Ba,” tôi năn nỉ lấy lệ.

“Ba sắp xong rồi.” Ba tôi nhìn tôi và mỉm cười. “Con ăn sáng chưa? Muốn ba làm cái gì ăn không?”

Thôi,” Tôi nói, bất chợt khó chịu. “Ba đang mệt. Để con ra ngoài mua cái gì về ăn.”

Tôi quay ra phòng khách, rồi vào phòng ngủ, dọn dẹp quần áo và nhặt nhạnh thu dọn những rác rưởi ở lối đi.

“Con không phải lo cho ba,” ông nói với theo. “Cứ tự nhiên làm mọi chuyện như con vẫn làm mỗi ngày.”

Thật ra, ba tôi đã đến chơi vào lúc bất tiện nhất cho tôi. Tôi đang học năm cuối cùng của Trại Viết Văn Iowa; lúc đó là cuối tháng Muời Một, và truyện ngắn cuối cho học kỳ này phải nộp trong ba ngày nữa. Tôi phải chấm điểm một chồng bài vở đã quá hạn, đồng thời phải coi qua một xấp đơn từ xin việc và xin trợ cấp học bổng chưa kịp viết và nộp. Vì thế, chẳng có gì lạ chuyện tôi uống rượu hơi nhiều.

Tôi chỉ mới nói với Linda đêm hôm trước là ba tôi sắp đến thăm. Lúc đó chúng tôi đang ở nhà nàng. Thân hình nàng nhễ nhại mồ hôi và trơn trượt, khó ôm. Người Linda đượm mùi áo quần của nàng. Nàng lật xấp tôi, để tôi úp mặt xuống nệm giường, bàn tay băm băm trên lưng tôi. Cao lên. Nới ra phía ngoài một chút. Nàng loay hoay cố giữ nhịp. “Nhẹ thôi,” Tôi bảo Linda. Mấy giây sau tôi bắt đầu cười.

“Cái gì vậy?”

Tấm drap giường ướt nhẹp dưới mặt tôi.

“Cái gì vậy?”

Nhẹ thôi,” Tôi nói “không phải chậm lại.

Nàng phát mạnh vào lưng tôi hai cái. Tôi không thể nhịn cười. Tôi lật mình trở lại nắm lấy hai cổ tay Linda. Chồm người về phía trước, mặt nàng ửng hồng thật đẹp. Tóc Linda che ngang mặt, dưới làn tóc vàng xám tôi thấy duy nhất đôi môi hé mở của nàng. Nàng đè người lún sâu vào tôi. Vai nàng làm cong đường chạy từ cổ xuống eo. “Buông ra” môi Linda mấp máy. Nàng rút tay ra khỏi tay tôi. Những ngón tay Linda luồn xuống ngang lưng tôi, nàng cào dọc xuống hai đùi, gối, bắp chân, mắt cá tôi. Tôi duỗi thẳng đầu ngón chân mình như một vũ công múa ballet.

Sau đó tôi nói với Linda rằng ba tôi không biết gì về nàng. Linda im lặng. “Nói chung gia đình anh không thích nói về mấy cái chuyện này,” tôi giải thích. Nàng trông như một diễn viên đóng vai bạn gái tôi. Nhìn nàng bỗng dưng tôi thấy oải. Tôi thường cảm thấy như vậy về Linda trong những lúc gần đây. “Ba anh chỉ ở đây có ba ngày thôi.” Có tiếng vọng từ ngoài đường, một nhóm sinh viên la hét vui vẻ.

“Em tưởng anh chẳng bao giờ nói chuyện với ông ấy.”

“Dù sao ông ấy vẫn là ba anh.”

“Ông ấy muốn gì?”

Tôi lăn về phía Linda, nhỏm người chống tay nhìn nàng. Tôi cố nhớ xem mình đã kể những chuyện gì về ba tôi với Linda. Chúng tôi nằm dài trên giường, gió lùa vào phòng, hai chúng tôi đều ngà ngà say. Chúng tôi theo đuổi những ý nghĩ mông lung trong bóng tối. “Chỉ có ba ngày thôi,” tôi nói.

Khuôn mặt Linda trở nên xa lạ, kín mít. Nàng nhìn tôi khá lâu rồi vùng dậy mặc quần áo. “Miễn sao anh phải viết xong truyện ngắn của mình,” Nàng nói.

xxx

Tôi đã quen thói uống rượu trước khi đến nơi này. Tôi uống đều từ hồi còn là sinh viên, tới hồi tôi làm luật sư – kiếp trước của tôi, như người ta thường nói. Có một bar rượu ở tầng hầm của một khách sạn gần chỗ tôi làm, tối nào tôi cũng đến, ngồi xụp mặt trên cái ghế cao tại quầy bar, làm ra vẻ không muốn tán dóc với tay pha rượu. Hắn ta chắc chỉ hơn tôi một vài tuổi, tôi ghen với sự tự tin của hắn, với hắn hình như chuyện gì cũng chỉ là vấn đề tạm bợ. Tôi cho tiền típ rất phóng tay. Sau một thời gian hắn mời tôi tôm chiên bột và bánh nướng nhân thịt miễn phí. Ba mẹ tôi đã rời nhau từ dạo ấy. Ba tôi lên Sydney, mẹ tôi chuyển về một căn hộ chung cư của chính phủ.

Đó là tất cả những gì tôi đã làm, buôn bán mớ chữ nghĩa. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ về chuyện đếm chữ như vị tướng đếm số binh sĩ bị tử thương. Tôi đã đến Iowa hơn một năm, ngày tháng trôi nhanh, tôi chỉ viết được ba chuyện rưỡi. Khoảng mười bẩy ngàn chữ. Khi tôi làm ở tổ hợp luật sư, tôi đã viết từng ấy số chữ chỉ trong vòng hai tuần, và chắc chắn chúng cũng có tác dụng với khách hàng.

Những hạn nộp bài đến lần lượt, mệt mỏi rã rời, tôi miễn cưỡng làm tròn nhiệm vụ. Và trong khoảng thời gian dài giữa những thời hạn, tôi lại đối diện màn hình trống rỗng với trí óc dần dà đặc quánh, cố gắng viết đủ kiểu, viết bằng tay, viết trên giường, trong cả bồn tắm. Khi hạn nộp bài cuối sắp đến, tôi nhớ có người bạn nói hắn giải quyết sự bế tắc bằng cách chuyển sang dùng máy đánh chữ. Mày viết tự do hơn, hắn ta nói, nếu mày biết rằng mày không xóa được những gì đã viết. Tôi mua chiếc máy chữ cũ Smith Corona ở tiệm đồ cổ. Nó kêu vo vo như ống bơm bể cá khi tôi cắm giây điện. Trông cũng hay hay. Để lấy cảm hứng, tôi đọc những bài thơ đỏm kiểu thời nữ hoàng Victoria và uống rượu Scotch không đá. Khó thế nào thì khó, mọi sự trên đời này vẫn tiếp tục xảy ra. Tôi chỉ có mỗi việc ghi chép chúng lại. Trên trời, hai dòng én hội đàn, rã đàn, rồi lại uốn nhập như những mảnh lụa trôi bay ở chỗ lưu triều. Trong lúc xếp hàng ở siêu thị, một người đàn bà đen cúi mình hôn chỗ tay cầm của cái xe đẩy đựng thức ăn, làn da bà ta đen óng như nước gỗ láng của đàn dương cầm.

Tuần lễ trước khi ba tôi tới, một thằng bạn thử thách vấn nạn bế tắc kinh niên của tôi.

“Bế tắc à?” Dưới ánh đèn đường, hơi rượu bourbon phả ra từ miệng hắn ta. “Làm sao bế tắc được? Mày lại viết một chuyện về Việt nam đi.”

Chúng tôi vừa ở một dạ tiệc tiếp sau buổi đọc truyện của một cây bút thành công của Trại Viết, một phụ nữ Trung quốc muốn nhập cư vào Mỹ đã viết tập truyện ngắn về những người Trung Hoa đang trải qua những giai đoạn nhập cư vào Mỹ. Những truyện ngắn của chị khá sâu sắc, tinh tế. Tin đồn là chị đã được giao hẹn một hợp đồng bạc triệu để viết hai cuốn sách tiếp theo.

Mặc dù ai cũng hiểu ngầm là không bao giờ nên nói chuyện tiền bạc khi đề cập đến văn chương, chuyện nhà văn Trung Quốc là chuyện mọi người đều bàn tán gần đây.

“Chủ đề nóng đấy,” một giảng viên dạy môn viết văn nói với tôi tại quầy bar. “Văn học sắc tộc đang nóng đấy. Mà cũng quan trọng nữa.”

Một vài người khách trong buổi dạ tiệc làm trong lĩnh vực đại diện và quản lý tài chánh cho các nhà văn cũng cùng quan điểm: “Có rất nhiều tác phẩm xuất sắc,” một người nói: “Nhưng bạn hãy tự hỏi mình, điều gì làm cho bạn độc đáo hơn bất cứ ai khác?” Người đồng nghiệp của bà ta nhấn mạnh: "Đó là bản sắc và kinh nghiệm sống của bạn.

Những người khác thẳng thừng hơn: “Tôi ngán mứa văn học sắc tộc;” và,“Toàn chuyện tả vòng vo những món ăn lạ hoắc,” Hoặc: “ Coi bộ khó đánh giá một nhà văn sắc tộc viết loại văn giản dị, chả biết họ cố tình viết như vậy hay vì không có khả năng hiểu nhiều từ vựng.”

Người ta kể cho tôi về bạn của bạn họ, tốt nghiệp Harvard, sinh sống ngay ở Hoa Thịnh Đốn, mặc lễ phục xứ Nigeria trên bìa sách. Tôi hình dung mình đứng giữa ruộng lúa, đầu đội nón lá. Và tôi hình dung ba tôi đứng cùng trên mảnh ruộng ấy, mặc bộ quân phục xác xơ hồi trẻ, mắt nhìn cứng cỏi.

“Viết kiểu đó chỉ là cách làm người ta chán ngấy,” thằng bạn tôi nói. Chúng tôi say mèm, dắt xe đạp về nhà, cả hai chúng tôi đều bị thủng lốp xe.

“Các nhân vật trong những loại truyện này đều nhàm chán. Nếu như người Trung quốc viết về người Trung quốc, người Pê ru viết về người Pê ru, người Nga viết về người Nga,…” hắn nói ê a như trẻ con đọc bài tập đọc, rồi ngưng giữa giòng, bị cắt biến luồng tư tưởng. Miệng hắn loe ra một nụ cười đầy ngờ vực. Tôi biết là hắn đang bực.

“Nhìn kìa,” Tôi nói, chỉ về phía một mái hiên sáng đèn trước mặt. “Mấy thằng cha kia có súng.”

“Chỉ cần mỗi nửa trang phải có một hình ảnh linh động hay hoặc một ẩn dụ thú vị” thằng bạn giơ ngón tay cái và ngón tay trỏ ra dấu nửa trang giấy, xe đạp hắn loạng choạng cùng khắp vỉa hè. Tôi gật đầu đồng ý với thằng bạn và với gã đứng dưới mái hiên, gã ta gật lại. Một gã khác phất chúng tôi qua nhanh với khẩu súng săn báng gỗ. Một chiếc xe đang nổ máy ngay trên lối vào căn nhà, giọng phụ nữ the thé từ trong xe vọng ra, “Đừng bắn! Đừng bắn!”

“Faulkner, mày biết không,” thằng bạn tôi nói tiếp qua những tiếng la ó, “đã nói rằng chỉ nên viết về những đề tài căn bản. Tình yêu và danh dự và xót thương và tự hào và cảm thông và hy sinh.” Một tiếng động chát chúa đằng sau chúng tôi, như tiếng đập cửa, sau đó là những tiếng thét như bị đè ngộp. “Có lẽ tao xấu bụng nếu tao nói lên điều này,” bạn tôi tiếp “Chính vì thế mà tao chịu văn mày, Nam ạ. Bởi vì mày có thể cứ viết mãi về thuyền nhân Việt nam. Như cái truyện thứ ba của mày chẳng hạn.”

Hắn nghĩ rằng tôi cúi đầu khiêm tốn nghe hắn nói, thực ra tôi đang tìm xem mình đã bị bắn vào đâu, vào lưng hay vào đùi. Tôi thấy đau nhói. Viên đạn chì chắc phải sượt qua đâu đó.

“ Mày có toàn quyền khai thác đề tài Việt nam. Đằng này, mày lại chọn viết về con ma cà rồng cái, tên sát nhân người Colômbia, trẻ mồ côi Hiroshima hay thằng cha họa sĩ New York bị bệnh trĩ.”

Trong một khoảnh khắc mơ ảo tôi chợt bàng hoàng. Nghe cách liệt kê hôi sực mùi rượu của hắn, những truyện ngắn của tôi coi bộ trơ trẽn, gắng gượng làm sao. Chân tôi vẫn nhói đau. Tôi có cảm tưởng nêu bây giờ mình thò tay thọc vào phía sau quần, rút tay ra giơ lên trước mặt sẽ thấy tay dính đầy máu. Tôi hình dung chuyện mình sẽ quay lại, im lặng tiến về phía mái hiên và đá văng hai thằng nhóc đang đứng ở đó. Tôi sẽ thu băng câu chuyện của mình vào máy ghi âm trên giường bệnh viện. Tôi sẽ khai biên bản tại phòng giam của cảnh sát quận. Tôi sẽ giết một trong hai thằng đó, có lẽ ngộ sát, nhưng sẽ không kể lại chuyện này cho bất cứ ai. Té ra quần jean của tôi chẳng bị thủng lỗ nào cả.

“Chắc tao là thằng bạn tồi,” thằng bạn tôi lầu bầu, loạng choạng dắt chiếc xe đạp đi trước tôi vài bước.

xxx

Nếu bạn hỏi tôi vì sao tôi đến Iowa, tôi sẽ nói Iowa đẹp như bất cứ chỗ nào được coi là đẹp: hãy coi đấy là cách trả lời câu hỏi mà bạn phải tự hỏi mình mỗi ngày, cũng chỉ vì mình ở đó.

Chiều hôm ấy, lúc tôi định đến nhà Linda thì ba tôi gọi vọng tên tôi từ trong phòng ngủ. Tôi đứng ngoài. Đáng lẽ ba tôi phải ngủ rồi. “Con đi đâu đấy ?” Giọng ba tôi vang lên.

“Con đi dạo một chút,” tôi đáp.

“Ba muốn đi cùng với con.”

Tôi luôn luôn ngỡ ngàng vì trên con đường Summit, mọi sự trông có vẻ lớn hơn ở những nơi khác: những ngôi nhà hai tầng, thảm cỏ mượt mà chạy soải xuống vỉa hè như sân golf, những cây du cổ thụ cành nhánh xum xuê, cao, chắc—loại cành mà tôi hình dung các ông bố treo đu thòng từ hai sợi dây thừng dài cho những bé gái mặc váy đầm trắng. Lá cây du, lúc trước vàng đỏ, đang chuyển qua sắc nâu, cam thẫm. Mưa đã tạnh. Chẳng hiểu tại sao, chúng tôi đi giữa tâm đường, mặt đường đen ánh như lưng cá voi dưới làn nhớp dính của những chiếc lá rụng.

Tôi hỏi ba, “Ba định làm gì trong thời gian ở đây ?”

Mặt ông xanh xao với nụ cười bất di dịch. “Đừng để ý tới ba làm gì,” ông nói. “Ba sẽ ngồi thiền, hoặc đọc sách.”

“Dưới phố kia có một quán cà phê,” tôi nói. “và cả tiệm ăn Nhật bản.” Nghe có vẻ thảm hại. Thực là tôi không biết ba tôi làm gì cả ngày. Ông mỉm cười, cúi nhìn mặt đường đang chuyển dưới bước chân.

“ Con phải viết ba ạ,” tôi nói.

“Thì con cứ viết.”

Và tôi không hiểu ba cười gì. Ba đã hoàn hảo cách cười ấy kể từ lúc chúng tôi sống hai cuộc đời riêng. Một cách nhếch mép, bí ẩn, gần như khó nhận thấy, mà tôi dễ ngỡ là dấu hiệu tuổi già nếu không kịp thấy đôi mắt còn nhanh nhẹn của ba.

“ Có một viện bảo tàng nghệ thuật ở bên kia sông,” Tôi nói.

“ Thế à, vậy mình tới đó đi.”

“Ta đi viện bảo tàng?”

“Không” ba đáp, liếc sang tôi. “Ra bờ sông.”

Chúng tôi quay về phố Burlington và đi xuống dốc ra phía bờ sông. Ba tôi dừng giữa cầu. Nước dưới chân cầu trông đen và lạnh, chẩy chậm ở những chỗ bị đông lại vì độ lạnh. Đằng sau chúng tôi sáu đường xe luớt xuôi ngược trên mặt lộ trơn ướt, âm thanh như tiếng rít xé của gió.

-“Con có tin tức gì từ má không?” Ba tôi đứng trước lan can, cái đầu trở nên quá nhỏ bé so với chiếc áo nhồi lông dầy mà tôi đưa ông mặc.

-“Cũng thỉnh thoảng.”

Ba đổi giọng trịnh trọng bằng tiếng Việt: “Má thằng Nam có khỏe không?”

“Má vẫn khỏe,” Tôi nói rất to—cố át tiếng xe tải gào khi nó chạy ngang. Ba gật đầu. Đằng sau ông, bờ đông của con sông hiện ra mờ mờ trong ráng chiều. “Đi thôi ba,” tôi nói. Chúng tôi đi qua cầu và đi bộ tới quán Dairy Queen gần đó. Tôi trở ra với hai ly cà phê trên tay thì thấy ba tôi đã đi miết ra bìa sông. Đứng cạnh ba là một dáng người râu ria xồm xoàm, quần áo trùm đụp nặng nề, đang cúi xuống hơ tay trên một thùng đốt ga đang cháy. Tôi chưa thấy cảnh này ở tỉnh Iowa bao giờ.

“Con trai tôi đấy,” Ba tôi nói, lúc thấy tôi băng qua bờ cát ướt. “Nó là nhà văn.” Tôi liếc nhìn người đàn ông nhưng mặt y chẳng biểu lộ vẻ gì. Ba tôi nhấc ly giấy nóng từ tay tôi. “Mời ông uống cà phê?”

“Cảm ơn, tôi không uống.” Người đàn ông đứng im, chăm chú nhìn xuống hai đôi tay quặp quẹo, lòng bàn tay y ửng cam trên vòm thùng ga. Giọng y nhẹ hẫng, quần áo y nặng trĩu với đời y. Tôi ngửi thấy mùi hôi của súc vật tỏa từ người y, mùi ga cháy, và cả mùi mưa.

“Tôi đã đọc truyện của nó,” Ba tôi tiếp tục trong tiếng Anh trầm bổng, “nó viết về thuyền nhân.” Ba tôi nhìn thẳng vào đôi mắt lèm nhèm trống hoảnh của gã đàn ông, và nói, như cách tuyên bố điểm nút, “Chúng tôi là thuyền nhân Việt nam.”

Chúng tôi đứng đó khá lâu, cả ba chằm chặp nhìn ngọn lửa. Khi tôi ngẩng đầu lên, trời đã tối.

“Con có tiền không?” Ba tôi hỏi bằng tiếng Việt.

Welcome to America,” (Chào mừng bạn đến Mỹ) người đàn ông nói khẽ qua hàm râu. Y không buồn ngẩng lên lúc tôi khép gọn bàn tay y trên những tờ đô-la ẩm ướt.

xxx

Ba tôi thường mủi lòng trước sự yếu đuối của người khác, nhưng ông không chấp nhận sự yếu đuối ở tôi. Ba tôi từng là lính chiến, ông kể với tôi như vậy một lần, làm như thể điều ấy giải quyết hết mọi chuyện. Đối với tôi, ba tôi lúc nào cũng là kho châm ngôn và quy tắc. Không được gọi phôn. Không bạn gái. Không đọc gì ngoài sách học. Khi tôi còn học tiểu học, ba tôi bắt tôi viết thời khóa biểu học mười tiếng mỗi ngày trong kỳ nghỉ hè, và phạt nếu tôi không theo đúng thời khóa biểu. Ba tôi biết cách vụt tôi bằng roi mây hai mươi lần mà chỉ để lại một vạch đỏ bầm chạy ngang trên mông tôi. Sau đó, lúc ông xoa dầu cao con hổ lên vết thương, tôi bật khóc, nhưng lại tức mình đã khóc. Có lần mẹ tôi buột miệng nói mùi sầu riêng làm tôi buồn mửa, ba tôi bắt tôi ăn trước mặt khách. Đói ăn muối cũng ngon. Đói thì ăn gì cũng thấy ngon. Từ đó, tôi học cách căm thù ba tôi với bộ mặt tỉnh queo.

Khi tôi lên mười bốn, tôi khám phá ba tôi đã trải qua một vụ thảm sát. Sau này tôi sẽ tìm hiểu thêm qua hình ảnh, những bản ghi âm phỏng vấn, và sách báo, nhưng ngày ấy, tại những buổi họp mặt gia đình bạn bè ở Melbourne, chuyện ấy chỉ là một trong những câu chuyện của những người nhậu xỉn. Họ ngồi khoanh chân trên giấy báo, quanh tấm nilon xanh, uống tù tì thứ bia rẻ tiền cho đến lúc say mèm. Đó là thời điểm về đêm mà mọi sự bắt đầu va vập vào nhau. Những khuôn mặt đỏ bừng, những tiếng chửi thề, những giòng bia đổ tràn. Chúng tôi đến trễ, vài người đàn ông xê mông, chừa ra một chỗ ngồi cho ba tôi.

“-Thanh ! Đụ má mày! Sao tới trễ vậy – sợ à? Ngồi xuống, ngồi xuống đi.”

“-Cho thằng chả năm chai.” Một người vung ngang, giọng dữ tợn. “Tụi tao tha cho mày đấy. Mỗi cha ở đây đã uống bảy tám chai rồi.”

Đó là lần đầu tiên ba tôi cho tôi ở lại phòng khách. Tôi ngồi vòng ngoài, quan sát đám đàn ông một cách thú vị. Bầu không khí đặc nghịt âm thanh Việt Nam, tiếng chửi thề, cụng ly, rêu rao tru tréo về đám con cái, trêu chọc ai đó đang nói lắp, “Cái đó công suất nă-nă-nă-năm trăm ngựa !” Ba tôi cười khoái chí, mặt ông đỏ lựng như say nắng. Tay ông cầm bát và đũa, trông ông như đứa con nít ngồi lọt thỏm giữa hai người đàn ông đang trao đổi chuyện chiến tranh. Tôi thấy ông gắp từ tốn những món bầy ê hề giữa vòng tròn. Đó là những món nhắm. Những con sò to hum húp được nhúng vào đĩa muối tiêu vắt chanh. Những con ốc biển luộc, với vỏ lớn như trái bóng bi-da. Gỏi gà xé phay kiểu Nam bộ, nhúng dấm ăn với bánh đa dòn. Một người kêu tên ba tôi, ông buông đũa và nói với giọng điềm tĩnh:

“Trời, súng bắn trước rồi tới hỏa châu, và M60. Ông còn nhớ tiếng nổ sao không? Nổ điếc lỗ tai luôn. Tui núp dưới hầm lô cốt dưới cái chùa, má tui với bốn đứa em và bà Trân bán bánh, và vài người khác. Chẳng còn nghe thấy gì hết. Rồi tiếng súng ngớt. Bà Trân bảo phải lên hết. Nếu núp dưới đó, tụi Mỹ nó tưởng mình là Việt Cộng. “Tui không ra đâu” má tui nói. Nhưng bà Trân nói “Tụi nó có lựu đạn đó.” Tui rất sợ vì chưa gặp tụi Mỹ bao giờ.”

Tôi phải mất ít lâu để hình dung ba tôi với câu chuyện ông kể. Ba tôi quay nhìn tôi một lúc, như ông đang chia xẻ một chuyện riêng với tôi. Ba tôi đã say.

“Rồi chúng tôi leo lên. Khói bụi khắp nơi, có tiếng trực thăng và M16. Nhà cháy. Trong khói tôi thấy thằng Mỹ. Tui xuýt phì cười. Nó mặc quân phục trông lôi thôi quá – rộng quá khổ – nó đeo chuỗi hạt và đội nón lưỡi trai. Nó đeo súng M16 trên vai trông như cái mai. Trời đất, tụi nó trông không giống Việt Cộng tý xíu nào, tụi Việt Cộng thường gài nút áo lên tới cổ và giắt áo trong quần kể cả khi bò trong địa đạo bùn sình cả ngày trời.”

Ba tôi cầm đũa gắp miếng tiết canh—một món ăn đặc biệt chế từ thịt băm với máu vịt đã đông. Một vài người đàn ông lúc đó lắng nghe, cười tủm tỉm ra vẻ đồng ý. Tôi nhìn thấy răng ba tôi nhuộm đỏ. Ông vừa nhai vừa kể:

-“Chúng nó lùa tụi tui đi ra phía đông đầu làng. Chúng nó có khoảng mười thằng, tụi tui khoảng năm chục người. Bà Trân cứ nói “No VC no VC.” Chúng nó chẳng nghe gì, qua tiếng ồn của súng máy và súng phóng lựu đạn M79. Nhớ những thứ đó không? Có mỗi mình tui nghe bà Trân kêu gào thôi. Tui thấy những mảnh súc vật tung tóe trên mặt ruộng, có con trâu mất hết phần hông, như chỗ đó bị xúc đi bởi một cái muỗng lớn. Qua làn khói tôi thấy Ông Long đang vái thằng Mỹ. Bà vợ, chị con gái và hai đứa cháu gái, con Mỹ và con Kim, đứng đằng sau còn run run mắc cở. Tui muốn cất tiếng gọi ổng. Thằng Mỹ tiến lên dộng báng súng vào đầu ổng rồi nó quay súng thọc lưỡi lê vô cổ ông già. Chẳng ai dám kêu chi hết. Má tui lấy tay che mắt tui, nhưng tôi còn thấy cái thằng Mỹ đó gạt chốt súng của hắn từ liên thanh sang phát một và bắn ông Long. rồi nó và thằng bạn nó kéo con gái ông vào cái lán, hai đứa con gái nhỏ bám vào chân mẹ bị kéo lê theo.

-“Chúng bắt tụi tui dừng ở một cái mương gần cầu. Xác người chết la liệt trên đường, có đứa bé con chỉ còn phần dưới của cái đầu, có xác ông sư máu nhuộm đỏ áo cà sa. Tui thấy có xác xăm hình át bích trên ngực. Tui không hiểu sao lại như vậy. Mấy em gái tui không khóc.Giờ mọi người đều gào ‘No VC no VC,’ nhưng tụi Mỹ chỉ hằm hè, nhổ nước miếng và cười. Một thằng nói gì đó, thế là bọn chúng xô tụi tui xuống mương, có ngập bùn. Má tôi xuống trước và bế các em tui xuống. Tôi nhìn lên trời thấy quá trời trực thăng, đủ kiểu lớn nhỏ cái cao cái thấp. Chúng bắt chúng tôi quỳ dưới mương nước. Chúng kê súng máy. Chúng lại bắt tụi tui đứng dậy nữa. Một thằng lính Mỹ, mặt tròn mập, khóc nức nở, rồi rên khe khẽ lúc thằng chả nạp băng đạn. ‘No VC No VC.’ Bọn chúng không nhìn mặt tụi tui. Chúng bắt tụi tui quay lưng lại. Chúng lại bắt tụi tui quỳ xuống mương nước. Khi chúng khai hỏa, tui thấy người má tui nẩy lên trên lưng tui rất nhiều lần, và rồi tiếng gầm rú của trực thăng lớn mãi lớn mãi, sau đó tôi chỉ thấy tối đen, ướt, ấm và dịu dịu.”

Vòng tròn trở nên im lặng. Má tôi từ bếp đi ra, ngồi xuống sau ba tôi, quàng hai tay qua cổ ông. Bà đã vi phạm tiểu luật cấm không cho các bà vợ bày tỏ tình cảm với chồng mình giữa đám đàn ông. “Trời đất,” Má nói, “mấy ông hết chuyện kể rồi sao chứ?”

Sau một phút im lặng, ai đó khịt mũi rồi nói lớn, “Mày thắng rồi, Thanh, không cha nào có vận mạng tệ hơn mày!” Thế là tất cả cười ồ, kể cả ba tôi. Tôi cũng cười theo. Họ lại cụng ly và chúc tụng nhau với những lời lẽ mà tôi không hiểu rõ.

Có thể ba tôi không kể chuyện y chang như vậy. Có thể tôi cũng thêm thắt. Nhưng đâu có ai thề là phải nói sự thật khi viết điếu văn, vì vậy tôi thấy chuyện mình nhớ lại như vậy cũng sát rồi. Ba tôi lớn lên ở Quảng Ngãi, làng Sơn Mỹ, thôn Tư Cung, sau này người Mỹ gọi là Mỹ Lai. Năm ấy ba tôi mười bốn tuổi.

Đêm ấy, tôi cắm chiếc máy chữ Smith Corona. Nó ro ro lời hứa hẹn. Tôi lôi chai Scotch dưới gầm bàn ra và rót cho tôi một xuất đúp. Đù má, tôi nghĩ thầm, chỉ còn hai ngày rưỡi. Tôi sẽ viết một truyện mô tả sắc tộc Việt Nam của ba tôi. Truyện này là một truyện hay. Truyện hay đéo chịu được.

Tôi nạp giấy mới. Đầu trang, tôi đánh máy “CHUYỆN SẮC TỘC” viết hoa. Qua hàng. Tiếng trực thăng vọng trong đêm đen. Những phím chữ gõ mạnh lên giấy trắng.

bài đã đăng của Nam Lê


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)