Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Phỏng vấn, Sang Việt ngữ Email bài này

Những Điều Sâu Thẳm của Đất Mơ: Nói Chuyện với Elizabeth Alexander


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 21.01.2009

caricature venus

 

 

 

(Nguyên tác, The Far, Deep Things of  Dreamland: An Interview with Elizabeth Alexander, đã xuất hiện trên Tạp Chí Poets & Writers (10/11-2001).

Lời Giới Thiệu của Natasha Trethewey:

Lần đầu tiên tôi nói chuyện với Elizabeth Alexander là một ngày đầu tháng Sáu ở một tiệm ăn tên Out of Town News (Tin Từ Phố Xa) tại Harvard Square. Chúng tôi đã hẹn gặp ở đây lúc giữa trưa. Chị phải du hành từ New Haven, nơi chị dạy học ở Đại Học Yale và sinh sống với chồng cùng hai con. Tôi đứng đợi ở ngã ba đường để có thể nhìn thấy chị ở bất cứ hướng nào. Trong lúc chờ đợi, tôi cũng nghĩ thật ý nghĩa chuyện tôi hẹn chị ở địa điểm với cái tên Tin Từ Phố Xa, nó như hứa hẹn những chuyện kỳ diệu từ một giang sơn xa lạ và đa hóa—cũng ý nghĩa vì Elizabeth Alexander là một nhà thơ của trường phái … Đất Mơ.

Sinh ra tại thành phố Nữu Ước năm 1962, Elizabeth Alexander lớn lên ở Hoa Thịnh Đốn. Sau khi tốt nghiệp cử nhân Đại Học Yale, chị trở lại Hoa Thịnh Đốn làm phóng viên được một năm cho tờ báo Washington Post. Sau đó chị tốt nghiệp bằng Thạc Sĩ  Đại Học Boston và bằng Tiến Sĩ Đại Học Pennsylvania về ngành văn chương Anh ngữ.

Elizabeth Alexander đã đoạt nhiều giải thưởng thi ca và những học bổng trợ cấp có giá trị, của National Endowment for the Arts, hai phần thưởng Pushcart, và giải thưởng Quantrell cho sự xuất sắc trong việc giáo huấn sinh viên khi dạy học tại đại học Chicago. Thi tập đầu tiên của chị, The Venus Hottentot (University of Virginia Press), đã xuất bản năm 1990 [nói về cuộc đời của Saartje Baartman, một phụ nữ da đen với thân thể lùn và cặp mông vĩ đại, đã làm nghề trình diễn trong các đoàn xiệc vào thế kỷ 19. “The Hottentot Venus” là cái tên người ta đặt cho Saartje (“Sarah nhỏ con”) từ một luận đề nhân chủng học thời bấy giờ để hàm chỉ “những quái nhân da trắng cùng những con người có hình dạng bình thường nhưng xuất thân từ những chủng tộc và văn hóa xa lạ.] Thi tập thứ nhì của chị, The Body of Life (Thân thể của Sự Sống) (nxb Tia Chucha Press), ra mắt năm 1996. Thi tập thứ ba của chị, Antebellum Dreambook (Sách Giải Mộng Thời Tiền Chiến) (nxb Graywolf), xuất hiện tháng 10 năm 2001.

 

 

Natasha Trethewey (NT) : Trong những thi tập của chị, có những bài thơ sáng tác như tụng ca (odes) về nhiều thành phố khác nhau, và đã cho tôi cảm giác về nhân vật trong thơ như một kẻ vừa là cư dân, vừa là khách viếng thăm đến những thành phố đó. Chị diễn dịch khái niệm về du hành và địa thế ra sao trong những tác phẩm của chị?

brownstones, 1958 by Jacob lawrence Elizabeth Alexander (EA): Tôi là một người yêu thích thành phố. Tuy tôi cảm nhận được cái đẹp của miền quê và tất cả những cái êm đềm của nó, tôi vẫn nghĩ thành phố là những nơi thật đẹp, thật quyến rũ. Bất cứ lúc nào tôi đến một chỗ mới, những chi tiết đều như chờ đợi được dịp biểu lộ. Có lẽ vì thành phố là một chốn nhân tạo, tôi muốn tìm hiểu vì sao những chốn nhân tạo này đã gần như trở thành những địa thế thiên nhiên.

Hôm qua tôi vừa đọc một cuốn sách về những bức tranh sơn tường ở Chicago—thành phố này có một truyền thống phong phú về những bức tranh tường công cộng—và tôi đọc được câu thơ của Carl Sandsburg về Chicago như “tên đồ tể thịt lợn của thế gian, thành phố với hai vai ngang rộng.” Tôi cũng nghĩ chuyện người da đen chúng tôi hay nói về con diều hâu oai hùng, thật ra là cái tên đặt cơn lốc cuốn xoáy người ta lên khỏi mặt đất ở miền Trung Tây nước Mỹ và có lẽ làm nhiều người da đen bị khiếp sợ nếu họ đến từ những tỉnh lỵ của miền Nam. Tôi cũng nghĩ, “làm sao tôi có thể tả về [Chicago], thành phố mà tôi đã sống trong sáu năm trời trong một ngôn ngữ không hạn hẹp hay sáo mòn? Làm sao có thể biểu lộ tất cả những khía cạnh xô bồ linh động và hết sức đa hóa của nó? Chuyện du hành và thay đổi chỗ ở cho tôi được nhiều cơ hội phiêu lưu hơn là khi tôi ở mãi tại một nơi quen thuộc …. travel image by jacob lawrence

NT: Chị thấy sống và lớn lên ở Hoa Thịnh Đốn như thế nào? Thành phố này có ảnh hưởng đến những tác phẩm của chị?

EA: Hoa Thịnh Đốn là một nơi tuyệt diệu trong thập niên sáu mươi và bảy mươi. Tôi lớn lên giữa môi trường của những cuộc bầu cử chính trị, và cũng hấp thụ lối chính trị của phố chợ và những cuộc biểu tình xuống đường vào cuối thập niên sáu mươi. Chuyện xuống đường [của những lãnh tụ nhân quyền da đen] tại Hoa Thịnh Đốn năm 1963 cũng là năm gia đình tôi dọn về thành phố này từ Nữu Ước. Chuyện Hoa Thịnh Đốn không được quyền cử đại biểu vào Quốc Hội—ngay đến ngày hôm nay thành phố này vẫn bị bắt buộc đóng thuế mà không có đại biểu—là một vấn đề thường được bàn cãi trong quãng đời thơ ấu của tôi, và bố tôi là ứng cử viên trong cuộc bầu cử thị trưởng đầu tiên của Hoa Thịnh Đốn vào năm 1974. [Thân phụ của Elizabeth Alexander là ông Clifford Alexander, một luật sư, chính trị gia, và Bộ trưởng Lục Quân da đen đầu tiên của Hoa Kỳ]. Vì vậy từ nhỏ tôi đã có một khái niệm về những vấn đề quốc gia diễn tiến trên diễn đàn địa phương [ngay trong khu xóm tôi ở], hoặc ngược lại. Chuyện những cuộc đời dân sự trở thành chuyện đại sự của quần chúng cũng là điều tôi được hấp thụ từ bé.

parade by jacob lawrence Hoa Thịnh Đốn cũng là một thành phố quốc tế, một thành phố quốc tế của người da đen. Bà ngoại tôi cũng lớn lên ở Hoa Thịnh Đốn và thuờng trượt patin đến những tòa đại sứ “để chứng kiến phần lớn thế giới ở đó,” như tôi đã viết trong “Feminist Poem #1” (Bài Thơ Nữ Quyền Số Một). Tôi nghĩ chuyện tôi muốn khai phá thế giới của người da đen, ngoài biên giới thành phố da đen của tôi, và làm sao để tôi hòa nhập vào cả hai môi trường này, là điều cốt yếu trong thơ của tôi, cho dù khi nó không được biểu lộ rõ rệt.

Bố mẹ tôi là dân Nữu Ước—nói đúng ra thì họ xuất xứ từ khu Harlem, nơi tôi chào đời—và đó là một lý lịch bền chắc, nó không bao giờ rời tôi. Tôi thấy mình may mắn không bị hạn hẹp bởi yếu tố địa phương—bất cứ địa phương nào cũng có những hạn hẹp của của nó—mà lúc nào cũng có một môi trường khác để hòa nhập vào, để mơ ước tới, và vì thế tôi thường nhắc tới Nữu Ước trong những bài thơ của tôi. Hình như tôi rất bận tâm về chuyện những lý lịch “hiện thực” hay “bẩm sinh” thường xung khắc với những lý lịch được cấu trúc, và chuyện những tương quan địa lý và chủng tộc được thêu dệt.

NT: Chị có một bài thơ trong thi tập Sách Giải Mộng Thời Tiền Chiến, gọi là “Race” (“Chủng Tộc”). Đọc bài thơ này, nhất là hai câu sau cùng, “Thật là điều kỳ cục, chủng tộc, kỳ cục hơn, gia đình,/Bài thơ này kể chuyện, một câu chuyện về chủng tộc,” tôi tiếp nhận không những cái thâm trầm trong thơ của chị, mà còn cả cái khôi hài nữa. Tôi hiểu đây là cách chị muốn nói, “Thôi thì ta cứ đương đầu với chuyện này một lần cho xong việc—đây, đây là cái tựa cho đập thẳng vào mặt.” Xin chị vui lòng bàn về vai trò chủng tộc trong thơ của chị.

EA: Trong nhà tôi có nhiều người kể chuyện rất hay, nhưng không phải lúc nào những chuyện họ kể cũng có thể mang thẳng được vào thơ. Những chuyện về màu da, về cách họ dấu nguồn gốc da đen và sống như người da trắng vì máu họ đã bị pha loãng, về những mối liên hệ tình cảm và sự khó khăn cố gắng trong những mối liên hệ ấy, như chị đã thấy trong bài thơ này là những câu chuyện mà ai ai trong chúng ta cũng có, đã kể hoặc không thể kể ra.

Còn về chuyện tôi cố ý dùng tựa đề “Chủng Tộc” như “đập thẳng vào mặt,” thì đúng ra tôi luôn lấy làm thú vị cách ông nội tôi, và đôi lúc bố mẹ tôi, dùng từ “chủng tộc” để nói đến “chủng tộc duy nhất” là chủng tộc da đen—như một khái niệm họ có thể ôm choàng lấy, sờ thấy nó. Đây là một khái niệm tùy thuộc vào từng thế hệ, như thế nào là một “người đàn ông của chủng tộc,” “người đàn bà của chủng tộc,” như thế nào là “cống hiến cho chủng tộc” hay “sỉ nhục chủng tộc.”

NT: Đó là một khái niệm tùy thuộc vào từng thế hệ, như chị nói.

EA: Vâng, lúc bố tôi ở đại học vào thập niên 50, trường mà ông ấy theo học—một trường phần nhiều toàn là sinh viên da trắng—không cho phép ông ấy được một bạn học cùng phòng người da trắng. Điều đó không còn được áp dụng khi tôi lên đại học, nhưng có những thử thách khác, ngấm ngầm và phức tạp hơn, chúng cần một định nghĩa khác trong thế hệ của tôi, tuy những thử thách này không khắc nghiệt như thời bố mẹ tôi. Ở tầm nhìn này, tôi thấy thế hệ của bố mẹ tôi, thế hệ ông bà tôi, người ta biết rõ hơn về lý lịch và chỗ đứng của họ, vì vào thời của họ có những nơi họ không thể góp mặt, và những điều họ không có quyền được làm. Dù sao, khi tôi đã vượt qua những dằn vặt về màu da và văn hóa, chủng tộc, mà tôi nghĩ là chặng đường ai cũng phải đi qua để thành người, tôi cảm thấy được sinh ra và lớn lên trong văn hóa này, được làm một người thích đọc sách và nói chuyện với những người chung quanh tôi, đó là một sự may mắn, một món quà mà định mệnh đã cho tôi, một nền văn hóa và truyền thống vô cùng phong phú. Đây là một đặc quyền, cái khả năng tận dụng truyền thống văn hóa của mình, qua chuyện học hỏi, sáng tác, và dạy học.

….

NT: Tôi đã nghe những nhà văn khác nói về sự tương quan giữa chuyện mang nặng đẻ đau một đứa con và chuyện cho ra đời một bài thơ. Chị có nghĩ hành trình làm mẹ của mình đã ảnh hưởng đến thơ của mình, và chuyển nghệ thuật thi ca của chị qua một chiều hướng khác?

EA: Trước đây, tôi không thể tưởng tượng đời sống sáng tác của tôi sẽ thay đổi như thế nào khi tôi có đứa con trai đầu lòng, vì tôi dồn quá nhiều sức lực thể xác, tình cảm, vào thằng bé, vào lần sinh nở đầu tiên trong đời. Nhưng món quà lớn lao nhất, tôi còn nhớ, là giữa đêm khuya, lúc mờ mắt cố cho con bú, lúc mệt rã người mà vẫn phải vật vờ mang nó kè kè từ chỗ này đến chỗ nọ …khi tôi đã quen với tình trạng vật vờ nửa mê nửa tỉnh này tôi cũng khám phá ra là chính nó cũng cho tôi một cái gì đó rất bình yên và sung mãn, một thế giới như chìm nửa trong mơ. Dần dà, những đoạn thơ nhỏ đến với tôi …. Tôi thấy chuyện mình tin vào thân thể kết trái, đau đẻ, bú mớm cũng đi song song với điều tôi thấy mình được giải phóng trong khía cạnh sáng tác. Tin vào điều siêu thực giúp tôi làm những bài thơ-mơ, tin vào ngữ vựng của những giấc mơ, đi theo cái lô-gíc của một thế giới tượng hình nhưng huyền diệu, cũng không khác gì kinh nghiệm sinh đẻ của tôi, tôi sinh hai đứa con liên tiếp trong một thời gian cực ngắn …. Có thật nhiều điều tuyệt vời, tròn trĩnh, hữu cơ về chuyện mang thai, sinh nở, về tuổi ấu thơ, và tôi nghĩ việc trải qua những thời kỳ này đã giúp tôi khai phá nhiều cái tròn trĩnh bất ngờ và mới lạ qua dòng thơ, khổ thơ, hình hài, và nhịp điệu của thơ.

NT: Vậy bây giờ mình nói chuyện về quyển Sách Giải Mộng Thời Tiền Chiến của chị nhé, nhất là về tựa đề. Tựa đề này đã xuất xứ từ đâu?

EA: Đó là một tựa đề đến với tôi nghiễm nhiên trong một giấc mơ. Tôi nghĩ đến từ antebellum (thời tiền chiến) cũng như chữ race (chủng tộc), là những từ cổ điển, mà lúc nào cũng vang trong tai tôi thời thơ ấu vì lịch sử của giòng giống người da đen ở xứ sở này: Mới đầu nước Mỹ có thời kỳ này, rồi sau đó là thời kỳ khác, rồi tới thời tiền chiến [là thời “huy hoàng” (bellum) trước thời Nội Chiến Hoa Kỳ vì lúc đó những chủ đồn điền da trắng ở miền Nam Hoa Kỳ vẫn có quyền được giữ nô lệ da đen như tài sản], và sau Nội Chiến là thời Phục Hồi [thời kỳ Reconstruction, khi miền Bắc Hoa Kỳ ban ân xá cho những tướng lính miền Nam và tài trợ công cuộc tạo dựng lại nền kinh tế và những cơ sở hạ tầng của miền Nam] …. Lúc đó tôi cũng thích tìm hiểu thêm về những sách giải mộng thời xa xưa, antebellum dreambook vì người da đen trong thời ông bà nội ngoại của tôi cũng tham khảo những sách này. Họ có thể nói với nhau, “Đêm qua tôi nằm mơ thấy cá,” rồi mở sách giải mộng đến chương nói về cá để xem cá là biểu tượng gì trong giấc mơ, và bên cạnh hình con cá cũng là một con số, để họ dùng chơi sổ số, hay đánh cuộc. Tôi nghĩ chắc cũng thú vị nếu mình nghĩ về cuốn sách này như một thứ cẩm nang [của người da đen trong thế kỷ 19], và tôi dùng thời kỳ tiền chiến trước biến cố Nam-Bắc Phân Tranh như một thời kỳ nhiều mơ ước và triển vọng, truớc khi những thay đổi, những khủng hoảng bùng nổ, làm tan tành mọi thứ, cũng không khác gì chuyện sinh nở vậy. Nhưng tóm lại, thì tôi chỉ cho tập thơ một tựa đề đã đến với tôi, toàn vẹn, trong mơ.

NT: Xin được hỏi câu chót: Thi tập đầu tay, The Venus Hottentot (Vệ Nữ Giòng Hottentot) [*Hottentot xuất xứ từ tiếng Hà Lan, hiện nay bị coi như một từ xúc phạm, dùng để ám chỉ giống người Khoikhoi sống ở vùng Tây Nam của Phi Châu, có ngôn ngữ với những âm đứt quãng, lách tách, như người nói lắp—stotteren—từ động từ tiếng Hà Lan], bắt đầu với bài thơ về tiếng nói của một người đàn bà đã bị tẩy xóa thành biểu tượng, cho nên chỉ còn được đề cập đến như một thân xác. Rồi thi tập thứ nhì của chị có tựa đề The Body of Life (Thân Thể của Sự Sống); đến thi tập thứ ba là Sách Giải Mộng Thời Tiền Chiến, cũng chú trọng về thân xác qua nhiều khía cạnh hơn hai quyển trước. Theo chị, thế nào là “viết thân xác” (“write the body”)?

coronation of the hottentot venus EA: Tôi nghĩ, vói nhiều phụ nữ, những câu chuyện về thân xác là những câu chuyện chưa được phổ thông, không phải ai cũng được nghe kể về những chuyện như vậy. Tôi nhớ, khi dạy học khoa căn bản (core curriculum) ở đại học Chicago, tôi đã dạy một lớp về Descartes [là lớp bắt buộc cho những sinh viên muốn được tốt nghiệp trong ngành nhân văn]. Lúc đó một người bạn đồng nghiệp [cũng dạy cùng chương trình về Descartes nhưng hướng dẫn lớp khác] nói với tôi chị đã hỏi lớp của chị rằng, “Nếu Descartes là đàn bà và vừa mới đẻ xong, ‘ông’ có viết xuống câu, ‘Tôi nghĩ, cho nên tôi hiện hữu?’ Nói một cách khác, câu tuyên ngôn của Descartes sẽ được viết xuống như thế nào nếu nó có một thân xác? Tôi suy nghĩ nhiều về câu hỏi của người bạn đồng nghiệp, và tôi cũng tự hỏi mình, “lịch sử sẽ biểu lộ điều gì, nếu thân xác của người đàn bà bị hành hạ, thân xác của người đàn bà được toại nguyện về chuyện tình dục, thân xác của người đàn bà mắn đẻ, thân xác của một nô lệ, thân xác của một người ở đợ đều “mở miệng” kể chuyện qua kinh nghiệm trực giác của chúng, để phát hiện ‘những kinh nghiệm có thân thể’’? Đó là một giang sơn thật bao quát, mênh mông. Nếu chị cho phép thân xác được mở miệng tự thú, nó sẽ hướng dẫn chị đến mọi cảm giác cụ thể, linh động, vật liệu chính của thi ca, cách một bài thơ thuyết phục. Khi thằng con đầu của tôi nhận ra rằng nó biết ngửi, nó bắt đầu nói cho tôi về mọi thứ mà nó ngửi thấy, “Căn phòng này có mùi bánh mì nướng,” hay “chỗ này ngửi như có người bệnh.” Nó dùng mũi để thử nghiệm thế gian. Thật nhiệm mầu khi biết trong cuộc sống chúng ta được ban cho những giác quan, và điều chúng ta nên sống qua những giác quan này: một cái gì để nhìn, để ngửi, để nếm—tất cả là món quà.

bài đã đăng của Natasha Trethewey


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)