Trang chính » Biên Khảo, Tham luận Email bài này

“Giàng Búi” ai là ông?

 

Mười tám tuổi, khi tôi bắt đầu chập chững những bước chân vào Sài Gòn phố thị kiếm tìm tri thức, cũng là lúc tôi được nghe kể về những giai thoại của Bùi Giáng. Khoảng hai năm sau, tức tháng 10/1998, ông ngủ yên suốt đời trong lòng Nương Tử Kim Cương và ôm trọn tấm lòng Phùng Khánh Mẫu Thân làm ngôi nhà cổ mộ ven đường, cỏ xanh lây lất tháng ngày bình yên. Suốt khoảng thời gian đó, tôi không có cơ duyên được tận mắt chứng kiến Kẻ Cuồng Si Thống Ẩm Thi Ca ấy, cũng chẳng có cơ hội được tiếp cận tư tưởng vừa ẩn áo thâm sâu cao viễn tót vời, vừa nhà quê thô thiển chân chất xuề xòa. Mãi đến sau này, tình cờ đọc quyển Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại, tôi mới thấy mình như là thằng bé học trò đứng ngoài cửa sổ nghe thầy Bùi giảng về hiện sinh dù chẳng biết Heidegger là gì, Sartre là cái chi chi…

Thế nhưng, chẳng hiểu sao tôi vẫn cứ thích đọc, hay chẳng lẽ hồn ma bóng vía Lão Bùi hiện về lôi kéo tôi chăng. Cứ thế, trăng tàn nguyệt lặn, ngày qua đêm đến, tôi như bị hồn ma ám ảnh, lôi kéo vào cái cảnh cuồng si, buông nhục thân vào lòng con đĩ, cho tiếng đời sỉ vả nát tan. Tôi lặn lội đi tìm, những trang sách phô tô, hay những tác phẩm cũ rích ở các nhà sách cũ khắp nẻo đường Sài Gòn, để tìm cho ra những bức thư tình, mà lúc đó tôi tin rằng Giàng Búi viết cho tôi. Đời sinh viên mì gói là cơm, khói xe là thuốc lá, nước lã là cà phê, ấy thế mà các nhà sách cũ, cứ hễ sờ vào quyển sách của Bùi Tiên Sinh, là y như rằng bỏng tay cháy túi.

Lúc vớ được quyển Sương Bình Nguyên, nhà sách hét 300 ngàn, trời đất tối tăm, mặt mày chao đảo, có phải là thật không trời, bớt mãi nhà sách cũng không chịu, tôi vẫn cắn răng mua mà lòng đứt ruột đứt gan. Chỉ tội cái bao tử nhà tôi, cả tháng trời không có mì gói mà ăn. Nhớ lại một giai thoại kể rằng, có lần Bùi Tiên Sinh đứng trước một cửa sách bày bán những tác phẩm của mình, cô bán sách thấy dáng điệu ông khùng khùng điên điên, cô lấy chổi đuổi đi thật xa, kẻo ông làm mất khách hàng sang trọng đến mua sách Bùi Giáng. Nhớ đến đó, tôi thấy cảnh ngộ của mình có đáng là chi. Họ Bùi kia đẻ ra sách, tận hiến cả cuộc đời cho thi ca tư tưởng, mà còn bị người ta hất hủi, huống chi là mình có hoa thơm cỏ lạ, có thư tình viết sẵn, chỉ bỏ chút đỉnh ra là có được, kêu ca làm gì.

Nói chung, muốn biết được sự vật hiện tượng, ta phải có đầy đủ lục căn là sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Hay nói theo Kant thì muốn tri thức ta phải hội đủ hai yếu tố : trực giác giác quan và quan niệm của trí năng, thiếu một trong hai yếu tố này, hay xem thường yếu tố này mà coi trọng yếu tố kia, ta cũng không thể biết sự vật hiện tượng. Sự vật hiện tượng đã thế, huống chi lại là con người, một tiểu vũ trụ, chỉ có thần thánh mới có thể hiểu hết được con người. Hơn nữa, tôi cũng chỉ một hậu sinh đầu xanh chưa ráo máu, chỉ biết Lão Bùi qua từng trang sách nhỏ, tức là trong sáu giác quan, chỉ có mắt đọc được những dòng chữ được ký tên Bùi Giáng, còn tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì chưa một lần nghiệm qua. Hơn nữa, văn chương chữ nghĩa cũng chỉ là biểu tượng, là ngón tay chỉ trăng, chưa phải là hiện tồn, chưa phải là mặt trăng. Thế thì làm sao có thể biết ông là ai. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn nói : “Viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi Giáng. Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó vậy!”

Nhưng dù sao, văn chương chữ nghĩa cũng phần nào mang cái thần, cái hồn của tác giả, cũng là đứa con tinh thần mà tác giả mang nặng đẻ đau. Cái đứa con tinh thần ấy phải được chiêm niệm và thấu thị bằng chính cái thần, cái hồn của người đọc, thì lúc ấy cái tinh anh thâm mật tuyệt trù mới hé mở phương trời viễn mộng nước non thái thậm nguyên sơ. Còn nếu giương con mắt cận thị, con mắt ốc bươu lên mà nhìn thì thiên tài hoằng viễn uyên nguyên ban sơ cận lập mép bờ quận cố hương thôn sẽ lạc hồn ra mãi tận miền hoang mạc quạnh vắng cô liêu. Nói theo nhà Phật thì nên đọc Lão Điên bằng con mắt Huệ, còn con mắt tục chớ có để cho nó xen vào. Cái năng tính đôn hậu thuần phác của nhịp đập con tim, của cõi lòng phiêu diêu dung nhiếp mọi thiên nhiên tinh thể chưa bị trần cấu nhiễm ô nên được mở ra theo từng trang sách của họ Bùi, còn cái tâm trí so đo tính toán kỳ kèo sắp xếp minh bạch rõ ràng cần được xếp lại, để người thơ thị hiện theo từng con nước Cửu Long Hồng Hà về dắt dìu linh hồn trì ngự vào cảnh niết bàn phiêu hốt hoang hề bồng lai sơ thủy thênh thang.

Vậy Bùi Giáng là ai? Và ai là Giàng Búi? Câu trả lời đã được các bậc nguyên lão, những người đã cùng lăn lộn với lão trong cõi trần ai khổ lụy này giải mã. Lý lẽ của các vị thật hợp tình hợp lý. Với ‘người thơ’, tác giả đã nói lên cái tính bình dân của Lão Bùi, với ‘Cuồng Bồ tát’, tác giả khác đã nói lên tầm mức cứu độ chúng sinh của Giàng Búi thị hiện trong hình tướng của người điên, với ‘thi sĩ kỳ dị’, tác giả cho thấy sức sáng tác kinh hồn bạt vía cũng như những chiêu thức (ngôn từ) mà ông dùng trong thơ thì xưa nay chưa có ai nghĩ bàn đến. Có thể nói, Lão Bùi đã được nói rất nhiều, viết cũng rất nhiều, bàn cũng chẳng thiếu, thậm chí nhà văn Phạm Thị Hoài còn đề xuất một giải thưởng văn học mang tên Bùi Giáng trên talawas.org để tôn vinh. Như thế, kẻ hậu sinh này muốn nói, muốn viết về ông, cũng chỉ là múa rìu qua mắt thợ, thấy người sang bắt quàng làm họ.

Tuy nhiên, dù là hậu sinh, cũng được góp bàn hồi tưởng về một mảnh tâm hồn đã tự thiêu đốt lưu tồn hằng thể mình ra, làm quà tế lễ cho nường Thiên Nhiên, se duyên hôn phối hồng quần, cây khô nở nhụy hư vô hoa cười.

Thế thì ông là ai? Thưa rằng cô bác bây giờ, Lão Bùi đính thị là người nhân gian. Vâng, ông chính là người, là con người thật, thật từ trong ra ngoài, thật từ đầu đến gót chân, thật đến nỗi bất cứ cái gì thanh cao liêm khiết diễm trần, ngổn ngang hui thúi nhụa nhầy máu kinh, đến bờ tịch hạp song trùng, thánh ngôn mật ngữ muôn phùng cư lưu, thiêng liêng thánh thiện tuyệt trù, vô ngôn bất nhiễm thắng thù thanh tao, ta đều có thể gán ghép cho ông mà không sợ ông nổi giận, đồng thời cũng tạo một cảm giác cho người đọc tin rằng, đó là điển tích thật trong đời ông. Đọc ông, ta thấy nhục thân em Mọi, Kim Cương Nương Tử, Marilyn Monroe, Brigitte Bardot hiện thân của cái đẹp trần gian tục lụy và Ni cô Trí Hải (Phùng Khánh Mẫu Thân), Nam Phương Hoàng Hậu tượng trưng cho vẻ đẹp thoát tục bỗng chốc hóa thành Quan Âm Bồ Tát, thành mẹ chúng sinh.

Có lần ông nói rằng : “Phùng Khánh Mẫu Thân là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam. Vậy thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, thì chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, thì chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?”[1]

Thế nhưng, tâm trí chúng ta thường không chịu làm người một cách đơn giản như vậy. Tâm trí luôn ham thích cái gì đó khác người, hơn người. Là người thì được rồi, nhưng phải có danh gì với núi sông chứ, phải có sự nghiệp chứ, phải có huy chương khen thưởng chứ, phải có gia đình vợ con chứ… Và càng tô son trát phất, càng áo bào võng lọng cân đai, tâm trí càng hả hê hãnh diện hỷ hoan khoái lạc ngạo mạn kiêu căng. Nó không bao giờ muốn làm đứa trẻ chăn trâu, trần truồng tắm mưa, bên cội tre già, hòa với đất trời, làm thành nhất thể, thiêng thiêng oát tuyền, mặc dù trong lòng nó luôn khao khát, hồi tưởng về những hoài niệm thơ ấu xa xăm. Nhưng cứ hễ ai đạt được điều đó, tâm trí con người lại ghen tị, dè bỉu, khinh chê, khiến cho tài tử giai nhân, một trang quốc sắc đê mê, đành theo học hỏi nghiệp nghề người điên. Nó mắc cái thói so sánh thiệt hơn, nói đòi cái này phải thế kia, cái kia phải thế này. Nhưng làm sao nó có thể so sánh được hoa mắc cỡ với hoa hồng, chúng là hai thế giới khác nhau. Giống như mặt trời và mặt trăng, làm sao so sánh được. Có điều, ở tận cùng, tiến trình nở hoa thì hoàn toàn giống nhau, mặt trăng và mặt trời cũng chỉ là do những hạt hạ nguyên tử hình thành nên. Giống nhưng mà khác, khác nhưng lại vô cùng giống. Khi tâm trí so sánh, xét đoán, nó tự nói về mình, tự đề cao chính mình, trong khi chính bản thân mình lại chẳng là gì.

Có thể nói, cái tâm trí đó đã được Bùi tiên sinh vứt vào sọt rác mà không mảy may nuối tiếc, cho ma quỷ tha về địa ngục âm ty, dùng lửa tam muội đốt trong lò bát quái, rồi rong chơi theo mây gió non ngàn, gọi châu chấu chuồn chuồn về hóa kiếp, thành giai nhân tuyệt sắc mỹ miều, mở hội hè hát nhạc vô ngôn. Nguyễn Đình Toàn đã viết về ông : “Nồi niêu, soong chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, vắt trên vai những miếng băng vệ sinh, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi , vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không có gì quá đáng.” Chính ông cũng nói : “Thưa em ngôn ngữ quặt què. Làm sao nói được nghiệp nghề người điên.” Chỗ khác ông lại nói : “Một hôm gầu guốc gầm ghì, hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm.” “Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt. Tôi đui mù cho thoả dạ yêu em.”

Trái lại, khi cần tâm trí để trực nhận cái bản tính siêu việt, ông lại có cái nhìn xuyên thủng lục đạo. Trong Lễ hội Tháng Ba, ông viết về Đức Phật như sau : “Còn Phật? Hỡi ôi! Phật hằng trụ ở một cảnh giới thượng thừa bất khả tư nghị. Ngay cả Thần Tiên Thánh cũng không bao giờ đạt tới được, và kẻ phàm phu mọi mọi hãy hiểu cho rằng : Từ cảnh giới thượng thừa đó, Phật tư lự nhìn chúng sinh mà bảo rằng ‘mọi chúng sinh đều có phật tính, mọi chúng sinh đều có thể thành Phật’ thì ấy chính là ngôn ngữ thượng thừa từ cảnh giới bất khả tư nghị phát ra.” (tr. 126).

Thêm vào đó, khi nói về câu thơ “Tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài” của Nguyễn Du, ông đã để lại những lời thiêng liêng linh thánh, khiến cho càn khôn vũ trụ phải nát tan, và toàn thể chư thiên trải hoa cúng dường. Ông viết : “… ấy là bởi dòng ngôn ngữ thênh thang đã ‘thoái tàng ư mật’ trong tự nhẫn mênh mông. Cuộc hội thoại phải được ‘cắt ngang’ một cách đột ngột, lúc tư tưởng quyết nhiên từ tạ hoạt tinh thể nhà ma, du nhiên lặng nghe tiếng gọi của hằng thể, và tạ từ thoắt đã dời chân cõi ngoài.” (Lễ Hội Tháng Ba, tr. 93). Như thế, ông đã làm người, bởi chỉ có con người mới có tâm trí, và cũng chỉ có con người mới có đủ khả năng từ bỏ tâm trí để vượt thoát bến tục cõi mê mà vào Cửa Không, nhập lưu Bát Nhã, thoái tàng ư mật, thành Phật thiên thu.

Theo Vivekananda : “Ai làm chủ được tâm trí người ấy là chủ được vũ trụ.” Ông nói thêm trong tác phẩm Raja Yoga rằng : “Chúng ta phải trở thành những người làm chủ, chứ không phải tự nhiên, thân thể hay tâm trí làm chủ chúng ta; và chúng ta cũng không được quên rằng tâm trí là một phần của thân thể và Ta cũng không thuộc thân xác này.” Về điểm này, người viết không dám khẳng định Bùi Giáng có đạt được hay không, nhưng cứ nhìn vào cái cách lúc thì điên điên khùng khùng, lúc thì như vị tiên tri thấu thị, như nhà hiền triết vô ngôn khiến cho việc gọi ông là gì, xem ông là ai, hiểu ông thế nào trở thành một việc như mò kim đáy biển. Bảo rằng ông là hiện thân của Phật cũng đúng, bảo rằng ông là ma quỷ hiện hồn cũng chẳng sai. Ông là Phật bởi ông đã từ bỏ hoàn toàn thế gian, cái đáng quý nhất chính là cái vốn tri thức về triết học đạo học Đông Tây kim cổ sâu sa mà rơi vào tay ai khác, họ sẽ nổi tiếng trên toàn thế giới thì ông lại buông bỏ không một chút xót thương.

Ông là Phật khi ai chửi ông cũng ừ mà ai khen ông cũng ứ ư. Ông là Phật vì ông chẳng thèm phản ứng lại những trước những ngôn từ như hòn đá ném vào ông. Ông là Phật vì ông chỉ là người bình thường, bình thường đến nỗi ông không ý thức được sự bình thường đó và cũng không đòi hỏi phải thế này, phải thế kia mới bình thường, ấy cũng chính là ý nghĩa của công án “Bình thường tâm thị đạo”. Ông là Phật vì ông không thách thức, không ham muốn chinh phục cuộc đời, ông chỉ là trẻ con mơ mộng bay đến cung trăng, bay lên đỉnh Everest để đùa vui non nước trong ngần, phiêu bồng trăng mọc non ngàn lá sương. Lão là Phật vì dám chửi cha bọn nho hương nguyện đầu xanh còn chưa ráo máu mà chuyên môn gùn ghè bám riết nhe răng hút máu xương tinh thể tài hoa thị hiện trong sát na thống ẩm cuồng ca và thậm chí, nếu cần thí mạng mình để đổi lại máu xương tinh thể thiên tài, da xương làm chiếc quan tài chôn thây, lũ người trước tớ sau thầy, nhai văn nhá chữ miệng đầy máu xương.

Nhưng ông cũng là quỷ khi ông chửi bới, rượt đuổi những đứa trẻ trêu trọc ông bằng những lời không ai hiểu được. Ông là quỷ khi ông mơ mộng được làm tình với Nương Tử Kim Cương. Phan Nhiên Hạo viết trong bài Bùi Giáng Như Tôi Thấy : “Ông dùng ngón trỏ và ngón giữa móc vào nhau tạo thành một dấu hiệu tục tĩu mà trẻ con hay làm. Tay kia cầm một quả chanh, không biết kiếm đâu ra. Ông cố nhét quả chanh vào giữa cái hình ô van tạo nên bởi hai ngón tay, miệng lẩm bẩm: “Ðây là con cặc nhét vô cái lồn Kim Cương. Con cặc to quá nhét vô không được.” Ông là ma trong dáng vẻ khùng điên si cuồng đến nỗi người ta hay lấy ông làm biểu tượng để hù dọa con nít. Con ma Giàng Búi lúi húi loanh quanh dạo quanh khắp nẻo phố phường sẵn sàng trả treo đến cùng với con mẹ hàng cá hàng tôm.

Ông là như thế, cao sang cũng có, thấp hèn cũng có, kiêu hùng không thiếu, bạc nhược cũng không thừa. Ông là con quỷ mang trong mình trái tim của Bụt. Nói theo thuyết Tam Tài thì con người chỉ thực là người khi nó trở thành tổng hòa của Thiên Địa, cụ thể là muốn có một đồng tiền, người ta buộc phải chấp nhận hai mặt, chúng hỗ trợ lẫn nhau đến nỗi không thể bỏ cái này lấy cái kia được. Kahlil Gibran đã chỉ ra cái nguồn gốc thống khổ điêu linh hoang tàn của con người trong tác phẩm Ca Ngợi Cô Đơn như sau : “Thoạt kỳ thủy, con người dang tay thấy : ‘Phía sau bầu trời có một Thượng Đế vĩ đại và từ ái.’ Khi quay lưng lại, nó thấy bóng mình và nói ‘Trong lòng đất có một con quỷ u linh yêu sự độc ác’. Đến khi còn một mình, hắn thì thầm : ‘Ta đứng giữa hai cường lực tương tranh, ta phải nương tựa sức này và chống lại sức kia.” Và cho đến thời buổi bình minh văn minh hại điện này, con người luôn bị phân đôi, chẻ làm hai mảnh như vậy và không bao giờ nhận thức được ý nghĩa của hạnh phúc cũng như sự nguyền rủa. Trái lại, ông là một con người không dùng cái này để che lấp cái kia, không lấy cái kia để chống lại cái nọ, không bao giờ ghét bỏ cuộc đời dù cuộc đời là một màn kịch diễn vở vô thường trong từ sát na vọng động. Hình như Lão Điên đã thấu thị được cái nếp gấp kinh hoàng đó và đã dùng công lực thượng thừa của mình mà hóa giả bằng những cơn cuồng thống thi ca thượng thừa nhà quê rác rưởi.

Ông cũng từng nói rằng ông là người hiện thân của người khác, bởi con người bình thường, dù có là lực sĩ đi nữa cũng không thể múa may quay cuồng suốt mấy ngày đêm như vậy được. Có thể ông luyện công bị tẩu hỏa nhập ma chăng? Hay ông vừa mới vào được Vô Môn, vì không có chân sư dẫn dắt, nên đã lạc lối về chăng? Trong Huyền Thuật và Đạo Sĩ Tây Tạng, bà David Neel có viết : “Càng tu lên cao các thử thách càng lớn.” Chưa vào cửa, ta có thể không cần chân sư, nhưng một khi bước vào thế giới bất khả tư nghì đó, sự chỉ dẫn của thầy là vô cùng cần thiết, bởi cái thế giới đó hoàn toàn khác hẳn với thế giới giác quan thường nhật. Nếu sự thực như vậy thì quả là đáng tiếc. Lẽ ra người Việt chúng ta được hoan hỉ cúng dường một bậc đại bồ tát và tầm mức cứu độ của ông sẽ còn rộng lớn hơn. Nhưng chẳng lẽ ông phá chấp đến nỗi ông chẳng cần cái danh hiệu đại bồ tát đó chăng? Vấn đề vẫn còn là một huyền bí, hy vọng có ngày được đưa ra ánh sáng rõ ràng hơn.

Theo Yoga, khi lực Prana của mình không rung động theo tần số của thế giới mà mình bước vào, thì hành giả dễ dàng bị điên. Mà ở Bùi Giáng, người ta vẫn thường nói rằng, ông là người Vô Sư Tự Ngộ, nhưng cái bệnh điên của ông chứng tỏ rằng ông đã ngộ, nhưng tâm trí vẫn còn một chút gợn sóng, chưa hoàn toàn xả buông tự ngã ngay khi ông bước vào cửa, nên ông đã hóa điên. Có điều cái điên của người thoáng thấy được Thực Tướng, Chân Tâm rất đặc biệt, tức là ở cảnh giới đó, hành giả có thể thấu suốt được toàn thể vũ trụ đều nằm trên đầu một sợi lông. Lúc đó hành giả gặp Phật hiện ra cũng không vui mừng gặp ma đi đến cũng không mảy may hãi sợ, vì các pháp tướng hữu vi đều không thật. Sau đó, sống tràn đầy tỉnh thức trong từng sự kiện với tâm thường. Chính vì thế, các trường phái tâm linh Á Đông đều buộc hành giả phải sống trực tiếp với thầy, nhất là những sát na vượt thoát vào những cảnh giới tối cao.

Tóm lại, tôi chỉ có thể gọi ông là người, một con người chân thật nhất, giản dị nhất, chất phác nhất. Nơi ông toàn thể vũ trụ được thu nhiếp vào và từ trong ông toàn thể thế giới hiện tượng vượt thoát ra. Yêu ghét, ngu trí, giác mê, quỷ thánh, hữu vô, điên tỉnh… đều hội tụ trong tấm hình hài máu da xương thịt hom hem gầy guộc của ông. Thường thì con người tâm trí chúng ta thích khoe cái tốt, và hay che cái xấu, còn ông thì bày ra cả của quý, cả chăn gối phòng the, cho thiên hạ nghe ngóng ngắm nhìn, luận bàn nhặng xị lao xao bầy đàn. Ông điên, nhưng từng bước lịch hành vào thế giới triết học, thi ca, đạo học của ông lại hoàn toàn tỉnh thức, thâm thúy hơn rất nhiều người uyên bác của chúng ta. Ông điên, nhưng tình yêu của ông trào dâng mãnh liệt như phún thạch hỏa diệm sơn. Tình yêu đó được ông thể hiện qua hai câu thơ : “Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi, Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.”

Như thế, Bùi Giáng là một cậu học trò xuất sắc nhất trong trường đời, giữa thời buổi tao loạn của con người kinh tế hoàn toàn mất dấu bèo, lang thang lạc nẻo đường về Nguyên Thôn. Cuối cùng, ông còn là người đi giỏi, là người thiện hành, bởi sau quãng đời phù du, ông chẳng coi gì là quan trọng, nên cũng chẳng để lại dấu vết gì. “Thiện hành vô triệt tích” mà thánh hiền xưa nay khẳng định đã được hiển bày trong nẻo đường ông đi. Hay nói theo nhà Thiền thì ông như bóng nhạn qua sông, chẳng mong in bóng trong lòng sông sâu, sông kia vỗ sóng bạc đầu, cũng không lưu ảnh nhạn sầu bay xa. Chính vì không để lại vết tích, nên hậu bối chúng ta, và còn nhiều thật, thật nhiều đời sau, nhân gian chỗ nào cũng thấy dấu vết, bóng hình của ông. Viết những dòng cuối cùng này, giữa cảnh trời Sài Gòn se lạnh, hình ảnh Giàng Búi chợt hiện về trong dáng vẻ người điên nhảy múa như ma chơi và dường như muốn bảo tôi rằng, đừng có viết thêm nữa, chữ nghĩa chỉ là đo đếm lăng nhăng trường lớp ồn ào, vì đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm, nó chẳng bao giờ khai mở được Nường Thiên Nhiên Tồn Thể Bích Quán Ẩn Tàng U Mật Ban Sơ, thậm chí không khéo nó lại còn dắt lối đưa đường, đẩy người vào chỗ đoạn trường mà đi thì khổ cho ông hơn.

Ông còn là một con mãnh hổ hùng dũng đơn phương độc mã băng mình vào khói lửa vô minh, vận dụng 12 thành công lực trong tuyệt chiêu sư tử hống của mình để đẩy lui con ma điêu linh sa mạc hoang phế lan tràn mém rìa Hương Thôn Cố Quận Cận Lập Vô Ngôn. Nhưng bày cừu đông như kiến cỏ, chúng hè nhau dùng xa luân chiến khiến cho khí thiêng khi đã về thần, nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng! Thật vậy, sư tử chỉ đi một mình, còn những loại chiên dê cừu thì phải sống thành bầy đàn. Ông đã tự nguyện một lần, làm thân sư tử bước vào vòng hỗn mang mà không hãi sợ, ấy chính là cốt cách phi phàm diễm tuyệt của ông mà khó có ai có thể họa lại được.

Có thể mạo muội đoán mò rằng, ông cũng chỉ còn đôi kiếp nữa là hoàn toàn giác ngộ khỏi luân hồi lục đạo, vào cửa Phật trang nghiêm thanh tịnh, giở cảo thơm trì trú niệm kinh, thưa rằng từ lúc đăng trình, qua bao nhiêu kiếp sinh linh ngậm ngùi, thành xưa phố cũ mỹ miều, ban sơ diễm tuyệt một chiều vô thanh. Ở cõi bên kia, mong cho vong linh ông tiếp tục, một lần nữa tái sinh, thị hiện vào quê hương đất nước con người Việt Nam, đang ngầy ngật, nhụa nhầy trong những đống hoang tàn đổ nát của văn minh vật chất để cứu độ con người kinh tế nhà ma khốn đổ điêu linh này. Hỡi ông Điên, ông có biết sa mạc đang lớn dần không???


[1] Đặng Tiến, Bùi Giáng Thi Sĩ Kỳ Dị, http://www.thanhnien.com.vn

bài đã đăng của Nguyễn Minh Vương


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)