Trang chính » Biên Khảo, Tạp luận Email bài này

Một đêm ngao du với Vũ Ngọc Giao

 

 

portrait of Vu Ngoc Giao

Nhạc sĩ Vũ Ngọc Giao (hình: Cô Gái Đồ Long)

 

Núi tựa đầu hư vô nắng quái
Dấu lệ sầu khóc đá rêu phong
Ngàn năm sau bể dâu đọng lại
Đá có còn nhớ lệ sầu vương…???

Đã từ lâu tôi thu mình cô quạnh, nhìn dòng đời trôi chảy loanh quanh, chẳng muốn nghe muốn nói muốn nhìn, bởi hư vô về đây giăng mắc, đầy mặt người những nỗi điêu linh. Nhưng nghiệp lực đẩy đưa rất lạ, dù cứ muốn cô đơn thăm thẳm ngút ngàn mà sao lòng lại thiếu cái chi chi. Chẳng lẽ trên đời này, chẳng ai nghe ra được cái tâm sự tào lao của mình sao? Hay tại mình say trong huyễn ảnh, lại chê đời mù tối vô minh? Nhiều lần cố bắt chước tài tử văn nhân, anh hùng hào kiệt bằng cách tự cho mình là cuồng điên si dại để cho đời tỉnh cơn say. Thật là nực cười cho cái sự thành tâm bắt chước của mình, bởi còn gì tệ cho bằng kẻ làm theo hay bắt chước người khác. Lịch sử vẫn còn lưu lại chuyện Đông Thi bắt chước Tây Thi nhăn mặt đó thôi.

Cái phương thế ‘từ rày khép cửa phòng thu, chẳng tu thì cũng như tu mới là’ riết rồi cũng bị phá vỡ, vượt qua. Tôi lại chạy đi tìm ảo ảnh, lần này có vẻ thận trọng hơn, không vồ vập, đeo bám tạp phí lù, thượng vàng hạ cám như xưa. Và thế là tôi gặp em, người con gái da vàng miền trung du đầy chất mặn mà của biển. Từ đó, con tim khô cằn lại được tái sinh trong cõi ta bà thương nhớ, nhớ thương… Những cơn mộng mị thuở đầu còn xanh bắt đầu vọng lại, khơi dậy những con sóng yêu đương tưởng đã ngủ yên trong lòng đại dương sâu thẳm. Ôi ta đã luân hồi lần nữa, nhưng vì em địa ngục cũng cam…

Nhờ em, tôi mới được biết Vô Ngôn Thuyết (sau này anh đổi thành copy&paste), tên blog của một chàng trai tóc vẫn còn xanh mà đầu đã bạc. Sau này tôi được biết chủ của blog đó là Trần Xuân Dũng, một con người đặc dị ở Cam Ranh mà tôi khó có thể diễn tả được bằng khả năng hạn hẹp của mình.

Qua Dũng và cũng là lần đầu gặp Dũng, tôi được hạnh ngộ với Vũ Ngọc Giao. Và từ lần gặp gỡ ban sơ đó, tôi đã bị ám ảnh trong những cơn mơ phù trầm hoang hoải bởi những con người đặc dị đó.

Tháng sáu, trời Sài Gòn liên tục đổ mưa. Dù mới chỉ là những cơn mưa đầu mùa, vậy mà đường Sài Gòn cũng đã bắt đầu ngập nước. Tôi gặp ông trong một quán nhậu ven dòng kênh đen ngòm ở Gò Vấp. Bất chấp những dòng nước thải ô nhiễm của con người văn minh thành thị tuôn ra, lục bình vẫn cứ xanh um, lảng bảng trôi về cuối trời xa, khiến cho nỗi nhớ vô thường trào tuôn như thác đổ.

Sau cái bắt tay làm quen và vài lời chào hỏi xã giao, tôi im lặng lắng nghe ông nói. Trước khi tôi đến, ông và Dũng cũng đã thấm hơi bia, nên khi có sự hiện diện của tôi, ông nói có phần phấn khởi hào hứng hơn. Ông nói rất nhiều về Bùi Giáng huyền thoại, về Thanh Tâm Tuyền, và nhất là về Phật giáo.

Với Bùi Giáng huyền thoại, ông kể có lần ông đi ngao du giang hồ với Bùi Tiên Sinh, chợt thấy bà đầm người Nga, Bùi Tiên chạy ra bóp vú bà ta. Ông Giao hỏi : “Tiên sinh sao kỳ vậy, ai lại bóp vú đàn bà giữa nơi công cộng?” Bùi Cuồng Điên đáp : “Mày đéo hiểu gì hết, ta muốn thử xem cặp vú nó có đủ sữa nuôi hết con dân Việt Nam không. Rứa mà kỳ sao?”. Là hậu bối, tôi không có đủ khả năng để thẩm định lời kể đó có thật hay không. Nhưng có hai điều sau đây khiến tôi tin tưởng về giai thoại này. Một là Vũ Ngọc Giao đã nổi tiếng từ trước năm 75 và tính tình ông cũng giang hồ tiêu dao du hí hệt như Bùi Tiên Sinh, nên chuyện ông ngao du với Bùi Giáng là hợp lý. Hai là cái khí toát ra từ bản lai diện mục của Giao khiến cho từng câu chữ của Giao có sức thuyết phục và khiến người nghe cảm thấy hợp tình.

Dù chưa từng gặp ông bao giờ, chỉ nghe anh hùng hào kiệt trên giang hồ ảo (internet) đồn thổi, nhưng khi trực diện, tôi có cảm giác ông đã thân quen với mình từ lâu. Ngồi nghe ông đọc thơ của những tác giả thiên tài, tôi không còn phân biệt được đâu là người đọc thơ, đâu là tác giả bài thơ. Cái biên giới hay cái nếp gấp phân biệt giữa người đọc và tác giả đã bị bôi xóa nhoè đi đến nỗi tôi có cảm tưởng rằng ông đang ngẫu hứng sáng tạo ra một bài thơ hoàn toàn mới, chứ không phải ông đọc thơ của người khác. Có lẽ với công lực thượng thừa của mình, ông không những hiểu cái tinh anh thâm mật của lời thơ mà còn thể nghiệm trực tiếp cái bất khả tư nghì của cõi thơ vào trong đời sống thường nhật. Nói khác, cái dụng là câu chữ vần điệu, ông mượn của người khác, còn cái thể ẩn tàng là điều mà ông đã sống, đã giác ngộ, và đã vượt qua.

Suốt buổi nói chuyện, hầu như tôi không nghe ông bình giải về thơ theo điệu luận lý nhà trường. Trái lại là khác, ông ít bình giảng, chỉ nói bâng quơ câu này là trời cho, câu kia là quỷ khốc thần sầu. Đời Đường người ta cũng nói : “Thi thị khả giảng bất khả giảng chi gian” nghĩa là : Thơ có cái giảng được và có cái không thể giảng được. Nhưng với Giao, ông lấy chính câu thơ để giảng câu thơ, rồi để cho câu thơ bay về những phương trời viễn mộng, mặc cho người nghe có hiểu được những gì ông nói hay không.

Hơn thế nữa, có thể tâm thức của Giao đã viên dung vô ngại với tâm thức của tác giả, giống như lời của G. Bachelard nói về cái đồng thanh đồng khí của hai tâm thức : “Đó là tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng giúp ta sáng tạo những gì mà ta nhận thức”. Ở cảnh giới này thì tất cả những thứ trích dẫn học giả nhà trường thư viện luận lý đều trở thành những cái lố bịch, trẻ con. Cũng có thể nói, ở cái cõi trầm mặc phiêu bồng vừa có vừa không, vừa tĩnh vừa động này, mọi ngôn ngữ chỉ là phù phiếm hoang vu.

Có nói ra cũng chỉ là cưỡng bức bạo hành đày ải cái bất khả ngôn bất khả thuyết thành lời, thành thanh, thành tiếng. Hồn của mây trắng lang thang hư phù trên đỉnh núi thì chỉ có cái im lặng của đá non ngàn và cái lạnh heo hút tha ma mộ địa của tuyết mới có thể hoát nhiên trực ngộ được diện mục bản lai của mây trắng. Nếu như mây ngàn ngao du lơ đễnh quanh trời viễn mộng, chẳng bao giờ hạ cánh thăm hỏi khách phàm nhân, và đỉnh núi tuyết phủ im lìm, chẳng bao giờ cúi mình trước thế lực của phàm phu, thì cõi thơ vô lượng vô biên điệp trùng ẩn ngữ kia cũng thế, chẳng bao giờ chịu một lần, để cho phường hủ nho hương nguyện luận luận bàn bàn chỉ ra cái chỗ ảo diệu khôn lường của nó.

Trái lại, ta chỉ có thể chiêm nghiệm được cái tinh anh thâm mật của Nàng thơ nếu ta đã một lần tuốt trụi lá hư vô, hai lần trút bỏ xiêm y để cho nhục thể cuồng si vinh quy cố quận. Hay nói trắng ra là nếu ta chưa nghìn lần lịm tắt cõi lòng để cho hoang vu sa mạc tàn khốc dâng lên, đến nỗi ngay cả ý niệm sa mạc hoang vu lịm tắt cũng không còn, thì Nàng Thơ sẽ chẳng hoát nhiên thức tỉnh giữa làn gió thoảng chiều buông lay nhẹ lá vàng lả tả bên cầu Tham Lương Sài Gòn phố thị ngầy ngật người ta…

Chỗ khôn lường đó, Giao đã thể nhập một cách nhẹ nhàng như hồn mây trắng, như lục bình lảng bảng trên sông. Phải nghe chính Giao nói, phải nhìn tướng Giao đi, phải nghe hồn Giao rung động, may ra ta mới thể hội được phần nào.

Dưới đây là một vài cảm nghiệm của riêng tôi về cõi thơ của Giao.

Với Xuân Diệu, qua bài Giục giã, cụ thể là câu : “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”, Giao nói đại khái là chỗ thấy của Diệu vẫn còn la cà quẩn quanh trong cái cõi ta bà thương ghét, giận hờn, được mất, có không. Diệu đã bị tiêm nhiễm cái thói nhị nguyên của Tây phương máy móc khoa học, luôn bị quá khứ ám ảnh, đến nỗi ngay trong cuộc hạnh ngộ với Em Thơ nương tử bồ tát diễm tuyệt, Diệu cũng không dám mù lòa để cuồng si thống ẩm một lần với Em.

Giao nói tiếp, tại sao không chỉ là ‘gặp gỡ’ trần trụi không thôi? Sao lại phải có ‘mầm ly biệt’ chi răng rứa? Theo tôi hiểu, chẳng qua ‘mầm ly biệt’ ở đây là một cách ngụy trang, nói khéo để che đậy bên trong một bảng giá trị, một ý thức hệ, một triết lý máy móc mà nếu bỏ đi, Diệu sẽ không có khả năng để sống còn. Thật ra có chi mô là thật, tất cả là huyễn ảnh, là hư vô. Bám vào những ảo ảnh đó, ta đã vô tình giết chết hay làm hoang vu một phương trời viễn mộng thênh thang và tệ hơn nữa là vô tình đọa đày biết bao lữ khách mà ta vẫn cứ tưởng là mần răng như thế là tốt cho đời.

Cũng khó mà trách Xuân Diệu, ở cái cảnh thời thế thế thời thời phải thế ấy, nhìn ra cái mầm ly biệt trong cuộc gặp gỡ ban sơ cũng là ảo diệu lắm rồi.

Với Thanh Tâm Tuyền, qua bài Dạ Khúc, ông than thở : “Anh là thằng điên khùng. Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới”, Giao nói : Tuyền cao hơn Diệu một bậc. Tức là Tuyền vượt thoát ra khỏi những ướt lệ cũ kỹ mốc xì của truyền thống, của những quy định xã hội đã từ lâu rêu phong đeo bám, làm tắt lịm, chết ngất những mái đầu xanh. Quá khứ ấy đối với Tuyền chỉ là những cơn mơ phù trầm huyễn hoặc, chúng có rồi không như con sóng bạc đầu, gào lên phút chốc rồi len lén trở lui, quan tâm mần chi, để ý làm gì cho mệt. Nhưng có điều, thật là khó buông xả những cơn mơ về một ngày mai, dù đã ý thức rằng cái ngày mai đó có cũng như không, bởi sớm mai thức dậy chắc gì đã đã thấy mình còn đây hay đã nằm ngoài bãi tha ma mộ địa quạnh vắng đìu hiu.

Giao hỏi tôi : Có ngày mai không, NMV?!! Tôi lắc đầu nhẹ. Giao tiếp : Đã không có ngày mai rồi thì nhớ nhung làm gì? Điều này chứng tỏ, Giao đã chí ít đã một lần, vượt thoát cái cõi không – thời gian hay cái cõi người ta buồn nôn, nhầy nhụa, tù túng, chật hẹp này. Phải một lần lên cao chót vót, mới nhìn ra nếp gấp nhị bội trong lòng mình để bôi xóa những biên kiến, thường kiến đã xây thành đắp lũy từ tiền kiếp xa xăm ngăn chia hai bờ thử ngạn bỉ ngạn. ‘Ôm em trong tay’ dù chỉ một lần, sao không đốt chúng mình ra hoang vu tro tàn ngất tạnh mù khơi, cớ sao lại bóc tách hay triết lý tồn thể Em ra thành từng mảnh rồi xếp đặt Em trong cõi ta bà dâu bể đo đếm, cân đong, nay mai, nọ mốt? Em đây vừa là một vừa là tất cả càn khôn đại địa, anh có biết mô???

Thời của những con người chỉ biết sống cho ngày mai, nên chi nhà nào cũng có tivi tủ lạnh, tivi thì để xem thời tiết nắng hay mưa, tủ lạnh để dự trữ thức ăn cho ngày mai. Con người bị ám ảnh cái ngày mai, bị nô lệ vào ngày mai mà không ý thức mình, một thực tại, lại bị nô lệ bởi cái ngày mai có có không không. Huston Smith đã viết : “Nếu mắt người ta luôn luôn hướng về ngày mai, ngày hôm nay sẽ bị lướt qua và không được nhận biết. Đối với Phương Tây… đang để cho cái hiện tại của cuộc sống – cuộc sống duy nhất mà chúng ta thật sự có được – lọt qua kẽ tay một cách nguy hiểm… [1] Thanh Tâm Tuyền đã ý thức được cái hư huyễn của ngày mai, nhưng buông bỏ nó lại là một chuyện khác.

Phải đợi đến Nguyễn Đức Sơn, thì cái ‘chuyện khác’ trên được giải quyết một cách bất khả tư nghì. Đọc xong mấy câu của Sơn, Giao im lặng, cái im lặng như sấm nổ ngang đầu này chỉ có thể thị hiện giữa hai tâm thức mà giữa những lao xao vọng động cuồng si điên đảo của kiếp người, đã lịch nghiệm vào phương trời tịch tĩnh qua những đoạn trường dâu bể tang thương, những chuỗi ngày cô đơn heo hút, những mặn nồng nhạt nhẽo môi hôn, những cuồng si đê mê cái hĩm, những hằng hằng triệu triệu vấn vương… để lời thơ càng ngày càng trơ trụi, càng ngày càng trầm trọng âm u. Cái “Mặc như lôi” của Mañjuśrī (Văn Thù Sư Lợi) phải chăng đã được Giao thể nghiệm khi ông đẩy ngôn từ và tư tưởng của Nguyễn Đức Sơn vào hố thẳm hoang vu?

Giả như vác búa chém càn khôn, băm thành tro bụi, chưng cất thành đá tảng như núi Tu Di, rồi ném về đại dương sâu thẳm, còn lại là gì? Vâng, theo thiển ý của tại hạ, thì chỉ còn lại là mấy lời thơ của Nguyễn Đức Sơn qua lời của Giao:

Ta đứng đó cởi quần cho em đái
Em đái đi, đái nữa đi em
Em chưa đái mà hồn ta đã ướt.

Ở đây, cũng cần chú thích thêm một chút là ngay cả cái hiện tại cũng chỉ là không không, là hư huyễn điệp trùng, nói chi là quá khứ của Diệu hay tương lai của Tuyền. Nhịp thơ tràn đầy sinh lực sống và sống. Chỉ sống ngây thơ cái sống hay chỉ đái hồn nhiên cái đái, ta còn gì để hạnh ngộ hay biệt li, ta còn chi để quên và nhớ. Có thể nói, Sơn đã cưỡng bức cái “Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha” (Chảy đi, chảy đi, chảy trôi đi, chảy trôi tất cả đi…) trong Bát nhã Tâm Kinh thành ‘đái đi em, đái nữa đi em, em chưa đái mà hồn ta đã ướt.’ Nói cho giống điệu Bát Nhã là : “Đái đi, đái đi, đái trôi đi, đái trôi tất cả đi em…” Còn Giao mượn từ của nhà Phật để nói cái này là Nhân quả đồng thời.

Và cũng chính từ cái im lặng đó, Giao đã buộc mình phải thốt lên bằng những vần thơ quái dị như sau :

không từ vô thuỷ vô chung
chân không chạm đất-đầu không đụng trời
trước sau không hé nửa lời
sững sờ cát bụi-ngậm ngùi trăng sao
[2]

Tóm lại, về thơ, Giao là một bí kíp võ lâm phủ đầy những lớp bụi thời gian và nếu phủi những lớp bụi đó đi, ta sẽ đọc được rất nhiều những câu thơ tuyệt chiêu thượng thừa qua từng trang sách cũ của Giao. Nhưng Giao hoàn toàn không phải là người chuyên sưu tầm hay con vẹt đọc thơ, điều này chỉ được hiểu nếu ta có duyên hạnh ngộ với Giao. Thêm vào đó, đối với những vần thơ trác tuyệt, Giao thường hay nói : “Của trời cho”. Câu thơ của Văn Cao : “Từ trời xanh, rơi vài giọt tháp Chàm” cũng được Giao nói như thế. Khen chê đối với Giao cũng chỉ là huyễn, là mộng, là bào, là ảnh… Ấy cũng là cái lẽ mà Lão Tử đã viết trong Đạo Đức Kinh : “Hy ngôn tự nhiên” (ít nói để cho tự nhiên) là vậy…

Cõi Thơ khó nghĩ khó bàn, khó giảng khó thuyết bao nhiêu thì cõi Thiền còn khó biện phân chân ngụy bấy nhiêu. Nhưng với Giao, ta có thể phần nào thấy được cái Tâm Không, cái Tính Không mà Giao đã thể hiện qua bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi của Giao. Tôi nói đùa với Giao rằng : dáng người cao cao mảnh khảnh của Giao giống với dáng lão tăng quắc thước trong bộ phim Xuân Hạ Thu Đông rồi lại Xuân của Kim Ki Duk. Dĩ nhiên, với bậc cao tăng (Phật Ấn) thì xác thân chỉ là ‘tứ đại giai không, ngũ uẩn phi hữu’, nên dù nó có giống hệt đức Phật đi chăng nữa mà không thấu lẽ vô thường, ngộ được tính không thì cũng chỉ là huyễn mộng không hơn. Thế nhưng ‘vạn pháp duy tâm tạo’, xác thân này do tâm tạo nên, mà tâm có hư tĩnh mới sáng tạo ra những dáng vẻ, cốt cách, hành trạng tốt lành, tựa trẻ thơ bú lo bầu sữa mẹ mà chẳng mang trong lòng tam mộng tứ mơ… Khách phàm tình ai mà không thấy 34 tướng tốt của đức Phật?

Từ cõi thơ, Giao nhảy qua cõi thiền, một bước nhảy lượng tử, vào ngay Kinh Kim Cang, kinh mà Phật đã thuyết cho hàng đại thừa, bậc thượng căn. Từ khi tâm lòng lặng lẽ tự mình quy y Đức Phật, không cạo tóc, không áo cà sa, không thầy ấn chứng đến nay, tôi cũng đã nhiều lần đọc tụng Kinh Kim Cang. Tôi cũng đã từng lướt qua nhiều bài bình giảng, nhưng khi Giao hỏi : Sao gọi là bài kệ lục như? Tôi mới ngớ người ra, lạnh cả xương cốt. Thì ra là trong bản dịch tiếng Hán, Cưu Ma La Thập đã giản lược thành mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ, điện. Tổng cộng là 6 ví dụ, nên chi gọi là Lục như. Hơn thế nữa, Giao còn hỏi ý nghĩa của các từ đó, đến từ ‘bào’ thì tôi không giải thích được. Việc này khiến tôi thấy thẹn trong lòng.

Nhờ đó, tôi mới có cơ duyên tìm hiểu kỹ lại từng câu từng chữ của bộ kinh Sấm chẻ này. Nguyên bản tiếng Phạn, ký âm theo mẫu tự La tinh như sau

“Tàrakà timiram dipo
Màyà-avasyàya budbudam
Supinam vidynd Ăbhram ca
Evam drastavyam Samka tam”

Đoạn trên có nghĩa là : “Như sao đêm, như mắt loạn, như ngọn đèn, như huyễn thuật, như sương mai, như bọt nước, như cơn mộng, như ánh chớp, như đám mây những gì hữu vi nên được quán chiếu như vậy”. Tổng cộng trong nguyên bản tiếng Phạn có 9 thí dụ, nhưng do thể thơ ngũ ngôn của Trung Hoa, Cưu Ma La Thập đã cưỡng bức thành 6 thí dụ trong bản dịch chữ Hán, một bản dịch dị thường thù thắng. Hòa thượng Thích Thanh Từ nhận xét như sau : “Nếu xem lại bản của ngài Nghĩa Tịnh cũng như của ngài Huyền Trang, chúng ta thấy cả hai bản dịch đều nặng về văn nghĩa. Ngài La-thập không kẹt trong văn nghĩa, chỉ cốt làm sao cho ta nhận được lời Phật dạy, ý Phật nói, nên văn dịch của Ngài thâm thúy và gẫy gọn dễ hiểu.

Bản dịch của Cưu Ma La Thập như sau :

一切有爲法
如夢幻泡影
如露亦如電
應作如是觀

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.

Thật ra, muốn hiểu bản kinh như thật thì nhất thiết phải trở về nguyên bản tiếng Phạn. Nhưng do khả năng hạn hẹp, đành phải mượn ngón tay chỉ trăng, chỉ mặt trăng, tức bản dịch của La Thập để hiểu kinh. Như thế, thật khó có thể vén màn khai mở thể tính thâm mật chân không diệu hữu của chân kinh. Đành phải mượn gió bẻ măng, té nước theo mưa để phần nào uống được mạch nước nguồn của lời kinh.

Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu thì

夢 : mộng – chiêm bao, mê, mông mông mờ mờ. Chiết tự chữ 夢 ra, ta có dưới là chữ TỊCH 夕 (đêm tối), trên có chữ MỤC (con mắt). Chữ MỘNG 夢 vốn là chữ MĂNG 瞢 (mắt mờ) ghép chữ TỊCH 夕 (đêm tối). Khi ghép lại thì chữ MỤC bên dưới chữ MĂNG lược bỏ, thế chữ TỊCH vào. Đại ý: mắt mơ màng không rõ, nhìn thấy điều gì đó trong đêm tối.

幻 : huyễn – dối giả, huyễn thuật, ảo thuật. Chữ  này vốn là một cái thoi có sợi chỉ đưa đẩy tới lui – ý nghĩa là "có thể thay đổi" (possibly a shuttle with a string which goes back and forth – changeable).

泡 : bào[3] – Theo từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh thì ‘bào’ là ‘bọt nước’, còn ‘bào ảnh’ (泡影) là ‘cái bọt cái bóng’, nghĩa bóng là ‘hư ảo’. Chữ 泡 BÀO khi chiết tự ra thì bên trái là bộ THỦY (nước), bên phải là chữ BAO 包 dùng ghi âm. Ý nghĩa: bọt nước (bubble).

影 : ảnh – bóng, cái gì có hình tất có bóng. Chữ  影 ẢNH, bên trái là 景 CẢNH, dùng ghi âm; bên phải là 彡 SAM, tượng trưng tia nắng (sun rays).

露 : lộ – sương móc, hơi nước. Chữ 露 LỘ, dưới là 路 LỘ (dùng ghi âm), trên là bộ 雨 VŨ (mưa). Ý nghĩa: sương móc (dew).

電 : điện – chớp, nhanh chóng. Chữ 電 ĐIỆN, bộ 雨 VŨ (mưa). Tia chớp từ mây mưa 雨 VŨ xuống đất ruộng 田 ĐIỀN (lightning from clouds 雨 to the ground 田.[4]

Tuy nhiên, theo Phạm Công Thiện viết trong Ý Thức Bùng Vỡ, ông cho rằng, chữ ‘ảnh’ dịch là ‘bóng’ thì không đúng. Nó chỉ đúng theo nghĩa thường nhật hạn hẹp. Còn theo tinh thần Bát nhã thì ‘ảnh’ phải được dịch là ‘hình ảnh phản chiếu lại’, bởi chữ Phạn ‘pratibimba’ ở đây chính là ‘ảnh tượng’.

Tầm chương trích cú, đo chữ đếm từ thật ra chỉ là một phương tiện giúp ta đạt được cùng đích. Nếu quá chú trọng hay bám chấp vào chữ nghĩa, ta sẽ chẳng thể hội vào cái Như như bất động của Như lai. Nhà Phật đã từng khuyên nhủ rằng : “Y kinh giảng nghĩa, tam thế Phật oan.” Vai trò của kinh sách chỉ giống như một chiếc bè không hơn không kém, qua sông rồi thì ngay cả phàm phu cũng chẳng dại gì mà vác nó lên vai mà tiếp tục cuộc hành trình, huống chi là các bậc thiện tri thức. Cái lý này, Trang Tử cũng từng nói : “Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn” (Nhờ lời được ý, được ý hãy quên lời’. Lẽ thường này ai cũng hiểu, nhưng để thực hành được diệu nghĩa của nó lại là một chuyện khác.

Cái chuyện khác này được Giao thể hiện rất nhẹ nhàng. Giao không phải là người phủ định hay xem thường chữ nghĩa. Cụ thể là Giao đã hỏi tôi ý nghĩa của từng từ, từng chữ trong đoạn kinh. Nhưng Giao không bám chấp vào từ ngữ. Ông lại dùng gai để nhổ gai, dùng từ ngữ để bôi xóa từ ngữ, khiến cho con chữ bay nhảy phiêu bồng về phương trời hư vô chất ngất. Cụm từ ‘quán vô thường’, Giao đọc nhái lại là ‘thường vô quán… nhậu’, ‘quán vô ngã’ thì là ‘ngã vô quán’. Còn ‘hư vô’ nghĩa là ‘vô thì thế nào cũng phải hư’. Họ tên của Giao là Vũ Ngọc Giao, ông đọc theo giọng người nam miệt vườn là Dzú Ngọc Giao, rồi ông nhảy cái vèo ra ‘Vú Ngọc Giàu’, một nghệ sĩ sân khấu cải lương nổi tiếng.

Không chỉ chắp đôi cách cho những con chữ, những câu kinh bay về huyễn mộng, Giao còn thể hội diệu nghĩa của nó vào bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi của mình. Tôi thật bất ngờ khi tận mắt chứng kiến hình ảnh ông nằm thẳng cẳng ngáy khò khò bên vệ đường Phạm Văn Hai. Sau khi nhậu ở Gò Vấp, chúng tôi quyết định đi giang hồ một phen. Ra Cầu Bông nhậu một tăng nữa, rồi lang thang giữa Sài Gòn phố thị. Lúc đó khoảng 2 giờ sáng, tôi và Dũng lạc nhau nên tôi phải để Giao chờ ở gần chợ Phạm Văn Hai và quay lại tìm Dũng. Khá lâu sau, tôi mới gặp lại được Dũng và khi quay lại thì thấy Giao nằm im, hai chân hai tay duỗi thẳng, Giao ngủ rất ngon lành.

Không biết có phải vì quá mệt sau một ngày ngao du mệt mỏi hay không, nhưng nếu so với con mọt sách như tôi thì tôi không thể nào ngủ được trong hoàn cảnh như thế, còn so với người hạ căn đầu đường xó chợ thì họ không có thế nằm thẳng như vậy mà thay vào đó là những thế nằm cong queo, vặn vẹo. Chúng ta đã biết, trong nhà thiền thì khi nằm ngủ không được nằm sấp, tay chân không được để lung tung. Tốt nhất là nằm nghiêng về bên phải, tay phải gối đầu, tay trái để xuôi theo hông, chân duỗi thẳng. Tiếp đến là nằm ngửa, hai tay hai chân duỗi thẳng. Giấc ngủ phải thật sâu, và nếu không mộng mị, mơ màng thì chứng tỏ hành giả đã làm chủ được tâm ý mình. Nhìn tư thế Giao đang ngủ, cộng thêm lúc Giao ngủ trong khách sạn, tôi có thể khẳng định rằng, Giao đã ăn nằm ngủ nghỉ với thiền rất nhiều.

Về ăn uống, tôi thấy Giao không phải là người ăn chay cũng chẳng phải là người ăn mặn. Gì có thể ăn được là Giao ăn, nhưng ông ăn rất ít. Bằng chứng là sáng hôm đó, chúng tôi đi ăn phở bò, nhưng Giao chỉ ăn được gần một nửa tô. Sát sinh để ăn uống thỏa thuê là một việc mà nhà Phật lên án gắt gao, nhưng Tuệ Trung Thượng Sĩ hay Tế Điên Hòa Thượng và cả Tiểu Thừa đều ăn thịt. Thời Đức Phật còn tại thế, người ta cúng rau ăn rau, cúng thịt ăn thịt. Tuy nhiên, giữa những biên kiến trái ngược như vậy, phải hành động thế nào cho đúng? Giao trả lời rằng : cần phải biết mình là ai, công lực ở mức độ nào, rồi từ đó mà hành động cho phải phép. Đừng thấy người ta ăn thịt cũng ăn thịt theo, cũng đừng thấy người ta ăn chay mà ăn chay theo. Và nhất là đừng thấy Duy Ma Cật lấy vợ mà cũng lấy vợ theo. Giao còn kể sự tích Tần chủ Diêu Hưng nói với Cưu Ma La Thập rằng : “Ðại sư thông minh, biện tài vô song. Sao lại để hạt giống Pháp không nối tiếp được!” Rồi đem mười cung nữ ép nhận. Sư từ đó không ở trong tăng phòng, cất nhà riêng ở. Chư tăng có người muốn bắt chước. Sư bèn lấy một bát đựng đầy kim, bảo mọi người: “Nếu ai bắt chước ta ăn được bát này thì cho phép cất nhà riêng để ở.” Sư nói xong, lấy bảy cây kim đưa vào miệng nhai nuốt. Chư tăng nể phục bèn thôi.

Ngay cả việc ngồi thiền cũng thế, ngồi và không ngồi cần phải hành vân lưu thủy, tự nhiên như nhiên không cứ nhất thiết phải ép mình ngồi vào giờ này giờ kia. Nói bắt buộc phải ngồi thiền là nói cho kẻ sơ cơ. Còn đối với người đã quen thì ngồi thiền giống như ăn uống vậy, không ăn thì đói, không ngồi thì thấy chút ít bất an, chứ không còn chuyện buộc hay không buộc, phải hay không phải ở đây nữa. Giao nói : Ngồi thiền tốt lắm con, nhưng đừng quá lệ thuộc vào nó, ngồi chỉ để ngồi thôi, buông nó đi… Vì tổ dạy, đi đứng nằm ngồi ăn ỉa đái cũng là thiền đấy thôi…

Sau rất nhiều những chuyện triết lý, văn thơ, thiền thọt, Giao cũng bày tỏ niềm mong đợi được trở về với núi rừng, bỏ lại thị thành đầy những bước hoang vu. Tài hoa của Giao về Guita có thể nói là bậc nhất ở Việt Nam, tiếc là tôi chưa đủ duyên để thưởng thức ngón đàn của Giao, nhưng Giao hy vọng rằng ông có thể đốt cháy tất cả để làm một cuộc Lữ nhảy vào hố thẳm cô đơn heo hút điệp trùng. Sau bao năm tháng cống hiến tuổi trẻ của mình cho nghệ thuật ở quê hương, giờ ông muốn trở về, im lặng, rộng lượng và không hy vọng quê hương ghi nhận, đền đáp. Giao để những tháng ngày còn lại của đời mình ngao du cho hết những con đường mà nghiệp lực bắt Giao phải đi. Giao đi cho hết nợ trần, cho đàn lỗi nhịp cho lòng hoang vu. Nói khác, Giao đang sống cái tinh túy của Lão tử là : “Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi.

Có thể nói, con đường còn lại của Giao là con đường mây trắng, lang thang phiêu bồng cho hết những phương trời viễn mộng, để rồi ngay cả bản lai thể tồn của Giao cũng chẳng còn bóng hình in trên sóng, chẳng còn ý niệm ta là thằng Giao. Cái ‘Thiện hành vô triệt tích’ của Lão Tử, cái ‘vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ’ của nhà Phật và công án ‘Không tung tích’ của Thuyền Tử Hòa Thượng chính là nét chấm phá duy nhất trong những cung bậc đàn thơ của Giao cuối đời.

Tôi mong Giao đừng giống như họ Trịnh cuối đời, tụ tập quanh mình một số đệ tử, đêm ngày chén tạc chén thù, nịnh nọt bợ đỡ, rồi trêu hoa ghẹo nguyệt, thỏa thuận với thế quyền để đổi lại miếng cơm manh áo, căn nhà nho nhỏ, vài chai rượu tây, vài cô em nhỏ… theo lời kể của Trịnh Cung. Và tôi tin Giao có thể là cánh nhạn bay qua dòng sông, chẳng mong để bóng không mong để hình, dù tài hoa và những đóng góp của Giao đáng được ăn tằm nhả tơ, đáng được ghi vào sử sách cho hậu thế noi theo.

Ngao du với Giao một đêm, tôi vừa thương vừa giận. Thương vì tài hoa của Giao đáng được nâng niu trân trọng thì lại bị bỏ hoang, trôi dạt như những cánh bèo. Giận vì lòng người hạn hẹp nhỏ nhen, không đủ bao dung để lưu lại, dù là vài dấu chân, của thiên tài được khí thiêng sông núi đất Việt sản sinh. Nếu Nguyễn Du còn ngậm ngùi cho mình, không biết ba trăm năm sau hậu thế có còn khóc Tố Như không, thì Giao bẻ gãy cung đàn, dây tơ phím bạc vất ngang giữa trời. Để rồi từ đó, Giao sống hồn nhiên tiêu sái như ‘Vân tại thanh thiên, thủy tại bình’ của Dược Sơn Duy Nghiễm, như cái ‘Bình thường tâm thị đạo’ của Mã Tổ Đạo Nhất mà sau này tổ Nam Tuyền dùng để khai ngộ cho câu hỏi ‘Đạo là gì?’ của Triệu Châu hay cái ‘Đói ăn khát uống mệt ngủ liền’ của Trần Nhân Tông. Giao trụ cái vô trụ, Giao đến và đi như mây trắng, nhưng cánh chuồn chuồn. Để rồi ‘Thần thông kiêm diệu dụng, vận thủy cập ban sài’ là cách mà Giao thể hội cho tôi thấy qua một đêm ngao du bất tận.

Câu chuyện sau đây chứng tỏ rằng, Giao đã thể nghiệm cái Không Tính vào đời sống hằng ngày. Một lần Giao lại chơi là người bạn Joseph Huỳnh Văn. Cả hai đều quen thân Thanh Tâm Tuyền. Nhưng hôm Giao đến thăm Huỳnh Văn thì bác Tuyền cũng đến tạm biệt Huỳnh Văn để qua Mỹ định cư. Dù bác Tuyền thấy Giao ở đó, nhưng không hỏi một lời theo thể điệu kiểu cách nhà quan, mà chỉ chào tạm biệt Huỳnh Văn rồi bỏ đi một mạch không bày một cử chỉ cho thấy có sự hiện diện của Giao. Lẽ thường thì người ta sẽ giận, làm mình làm mẩy, và thầm trách dù gì thì mình cũng ngồi đó thế mà không hỏi một tiếng sao. Trái lại, Giao chỉ cười thầm, cùng ông bạn Huỳnh Văn tiếp tục câu chuyện. Giao giải thích thêm cho tôi hiểu : “Thằng Giao này là cái gì, bất quá chỉ là cái thằng người thôi chứ có là cái chi mô. Mà cho dù là nghệ sĩ, văn nhân, chính trị gia hay thượng tọa thì cũng có là gì đâu, trong khi mục đích của Tuyền là đến tạm biệt ông bạn kia thôi mà. Xong việc thì về, dây dưa mần chi nữa.”

Nhất tâm nhất niệm chính là ở chỗ đó. Khi làm một việc nhỏ, dù là ăn uống đái ỉa hay làm tình… thì hãy làm cho chuyên nhất, bằng tất cả máu da xương tủy mình, rồi thả cho gió mây ngàn lơ đãng cuốn về hư không. Giao còn lấy câu chuyện Thiền Trong Mọi Phút trong Góp Nhặt Cát Đá để minh chứng cho hành động khác thường của Tuyền. Trong câu chuyện đó, Tenno đã tu thiền 10 năm và đã trở thành thiền sư. Nhưng khi Tenno đến viếng Nan-in thì bị Nan-in cật vấn : “Giả sử anh bỏ đôi guốc ngoài tiền đường. Tôi muốn biết anh bỏ nó bên phải hay bên trái của anh”. Tenno bối rối không trả lời được. Ông phải học thêm 6 năm nữa với Nan-in mới đủ công lực thiền trong mọi phút giữa đời thường.

Như thế, một hành giả đạt Ngộ, tức là ở trong trạng thái Samadhi thì sự tập trung phải đẩy nên tuyệt đỉnh, đến nỗi không còn phân biệt người hành động hay việc được thi hành, bất kể việc đó lớn nhỏ thế nào. Nếu như thực sự đạt đến trạng thái dung hoát hay nhảy vào đất Như Lai thì sẽ thấy mình viên đồng như thái hư, vô khiếm vô dư (tròn đầy như thái hư, không thiếu cũng không dư), tức là trong ngoài chẳng có thân tâm, cũng chẳng có thế giới ta bà thị phi tranh chấp.

Bấy nhiêu đó đủ cho thấy, công lực của Giao thâm hậu thế nào. Tuy nhiên, để hành phục tâm, Giao vẫn bảo mình còn phải trở về nhiều lắm. Quê hương cố quận vấn còn xa, dù cuộc Lữ đối với Giao đã là triêu dương, là bên kia sườn dốc của cuộc đời. Tôi thấy Giao thật sự là một hóa thân của Bùi Giáng thượng thừa. Nhưng tôi thích Giao là Giao hơn, chẳng giống ai, dù là Phật và thích nhất là ngay cả mệnh đề ‘Giao là Giao’ cũng chẳng còn. Như như bất động, một niệm chẳng sanh. Và cũng chính từ cái một niệm chẳng sanh đó khiến Giao phải thở dài :

“thả hồn bay với cơn mê
về đây ngó sững bốn bề tịch yên
thả đời trôi với cơn điên
về đâu cũng chỉ một miền hư vô”

(Miền hư vô)

Thủ Đức

Những ngày mưa tháng 6/2010


[1] Trích từ Lời giới thiệu quyển Ba Trụ Thiền của Philip Kapleau, Đỗ Đình Đồng dịch, tr 7.

[2] http://vietart.free.fr/index1.938.html

[3] Không thấy chữ này trong từ điển của Thiều Chửu

[4] Tất cả ý nghĩa từ nguyên của các chữ Hán trên, tôi đều lấy từ trang này : http://www.chineseetymology.org/

bài đã đăng của Nguyễn Minh Vương


25 Bình luận »

  • capheden says:

    Chào Bác Đỗ Trung Quân
    Cho phép tui dược phát bieu, Bác cái gi cũng đúng hết, nhưng cái vụ phong traò guitar thì Bác trât lất rồi, thời kỳ đầu tiên không có dính gì tới anh Võ Tá Hân cả,tối đầu tiên ra mắt CLB Guitar PN là vào ngày 15.5.1980 do CĐKhoa va PTVũ trình tấu.không tin vao Google ma xem.những bài báo đầu tien cũng đâu thấy bài nào của Bác đâu, mà là của Nhà báo Nguyễn Nguyên { Ông đã mất rồi}, Chinh Văn, Cát Vũ…Tham gia biểu diễn tiep theo là Nguyễn Thái Cường,Vũ Ngọc Giao,Phùng Tuấn Khanh, còn Trần Văn Phú,Huỳnh Hữu Đoan,Bùi Thế Dũng là sau đó nữa rồi.PTVũ,HHĐoan thì định cư nước ngoài rồi,còn CĐKhoa o VN, không tin thì gặp Khoa hỏi cho chắc .Từ CĐKhoa co 1 thể sẽ gặp dược nhiều người thời kỳ đó lắm Bác ạ.Còn Ông Vũ Đình Khoa nữa, ông la người phụ trách CLB Guitar PN đó Bác, Ông biết hết trơn luon. Nhà Ông là nhà may Khanh ỏ đường Phan Đăng Lưu q. PN, rất tiếc tui không nhớ số nhà. Chúc Bác luôn vui đúng.

  • Phong Nguyen says:

    Sau khi nghe bài “Người về đêm mưa”, dù rằng chưa bao giờ nghe nói về anh, tôi vẫn có một cảm giác Vũ Ngọc Giao  là một người nghệ sĩ rất nhiều “nghệ sĩ ” tính, đầy lãng mạn, không màng lợi danh…bài hát rất hay, mang đến cho tôi chất ngất nỗi niềm…
    Tôi nghĩ các bạn hãy xem bài viết của NMV như một lời tâm sự của một người lần đầu gặp một người…mà anh ấy “cảm” được, thế thôi…cuộc đời vốn dĩ đã quá phức tạp rồi…hãy làm nó đơn giản hơn đi…
    Hình như anh VNG là người Huế.
    Phong Nguyen

  • Tiêu Kiến Xương says:

    “Như một bàn nhậu, ai muốn thì cùng ngồi, ai không thì đi qua”. Cám ơn ông nguyên minh huyền vũ, nhờ ông giải thích tôi mới vỡ lẽ ra đây không phải là một áng văn mà chỉ là những lời tán gẫu của một cuộc nhậu. Vậy đề nghị ban chủ biên Da Màu mở thêm một góc nhậu để đưa những bài như thế này vào, tránh hiểu lầm nhập nhằng giữa văn thơ với nhậu nhẹt, khỏi mất thì giờ bình phẩm, gây tranh cãi phiền hà.
    Sẵn cũng muốn nhắc ông nguyên minh huyền vũ: có lẽ ông đang say nên gọi nhầm tên tôi. Tôi không phải là Kiếm Xương hay kiếm thịt gì hết cả vì tôi không biết nhậu. Cám ơn ông.

  • nguyên minh huyền vũ says:

    Trả lời T Kiếm Xương
    Trước nhất, cũng như TKX, tôi cũng cảm thấy phản cảm và buồn cười với comt của Viễn Khánh, dù lời lẽ ấy thì còn xa mới đạt được cái mà TKX gọi là ddrug effectcs. phản cảm và buồn cười, vì cái lẽ “chịu đấm ăn xôi”, khích tướng như thế, chỉ giúp những ai chỉ trích ông Vương càng thêm khó chịu có cớ mà hạch sách.
    tiếp đến, thì cần phải giải thích cho TKX cái hỏa mù mà tôi vốn không có chủ định lại tự nó tỏa ra, khiến TKX như đã cho rằng. bản thân tôi, chưa phải là bạn của ông Vương, nhưng vì cái “Để cho minh bạch mọi lẽ” mà ông Thiện Huy lên tiếng, làm tôi có một sự trọng đến một con người. bởi vậy, comt của tôi, thừa nhận là từ sự tác động của cái khí chất nghiêm trang-đứng đắn-vừa phải ấy.
    về comt của chính mình, tôi không bao biện gì cho ông Vương – cùng với chủ ý không moi móc bơi xới gì. ông Vương dở chỗ nào, nhiều người thấy và nhiều người biết. nhưng lại, từ sự lên tiếng của BTD mà khiến tình hình lại căng lên, vậy tôi chỉ có cách phát biểu một cái nhìn khác. lấy chữ Duyên, ngoài việc giải đáp được vài vấn đề, còn dễ cho sự nhìn nhận lại của số đông hơn – mà không có một dòng mang tính bao biện hay bênh vực. còn như, tất cả những người có ý phản bác, chỉ trích ông Vương đều lên tiếng, tôi e là phải hơn nhiều nhiều so với vài ba comt như trên.
    về câu hỏi “nó là cái gì”, thì tôi xem “bài viết chỉ ghi lại một vài kỷ niệm của một lữ khách chẳng may hạnh ngộ một quái kiệt giang hồ” như chính tác xác nhận.
    cuối cùng – cũng như ông Thiện Huy – tôi mong là chỉ với một bài viết, đừng từ cuộc vui của vài người mà hóa ra cuộc giận của nhiều người. nên nhìn về nó như một bàn nhậu, ai muốn thì cùng ngồi, ai không thì đi qua.

  • Tiêu Kiến Xương says:

    Thoạt tiên bài của NM Vương được xem là một áng văn.
    Sau đó bài này bị BTD phê bình.
    Trần Thiện Huy bênh vực NMV bằng cách tung hỏa mù đẩy sang chuyện “thành tâm”.
    NM Huyền Vũ đẩy sang cái “duyên”, đi hẳn ra khỏi phạm vi văn từ.
    Viễn Khánh đẩy sang drug effetcs.
    Cuối cùng độc giả chỉ thấy hỏa mù.
    Nếu bài của NM Vương không phải là văn chương, không nên bị phê phán như một áng văn, thì nó là cái gì?
     
     

  • Bài viết của anh NMV, tôi chỉ nhìn nhận bằng con mắt thô kệch: một đêm NMV gặp gỡ VNG và bị Giao “thuốc”. Đơn giản và dễ thương thế thôi.

    Ghé thăm Da màu, thấy có lời bình của ông BTD cho bài này, tôi vui. Ít ra ông đã dành nhiều thời giờ quý báu của mình mà đọc, mà xem xét, mà soạn một lời bình khá dài. Nghĩa là ông đã trở thành một độc giả quan tâm nhiều tới không những bài viết của anh NMV mà cả anh NMV nữa. Nếu tôi có được một độc giả như thế, tôi sẽ lấy làm vinh dự và hài lòng lắm thay.

  • nguyên minh huyền vũ says:

    tôi thấy có một điều ở những bài chỉ trích ông Vương đó là không ai nhìn thấy được cái ông Vương muốn viết: không phải ở ngôn từ, không phải ở cái tôi muốn hiện, mà đó là ở niềm vui, sự mừng trong tâm thái một kẻ sĩ khoáng đạt.
    theo nhìn nhận của tôi, ông Vương có viết hơn những điều mà chính ông Giao cũng khó nuốt, thì cũng không là quá vô lý hay điên cuồng gì hết. người với người hội diện nhau trong một sát na, đã là một niềm may mắn – mà may mắn ấy thường là vô thức, còn có ý thức người ta sẽ gọi đó ở chữ Duyên.
    còn, người với người hội diện nhau trong một sát na, nếu là định mệnh, thì cái ấn tượng gặp gỡ ấy còn lưu giữ được đến hết cả kiếp người chứ đừng nói là chỉ mới một lần hay hai lần gặp mặt. vì tôi thấy có một điều rất thực, rằng có những người tôi gặp họ hơn cả chục lần, nhưng nào hề có thể thiết lập nên được một mối quan hệ nào. nhưng, với một vài người khác, thì chuyện lại khác.
    nếu là tri âm tri kỷ của nhau, thì hai-con-người-nào đó, họ không cần nói mà vẫn nhận, vẫn nghe vẫn đáp, vẫn hiểu được bao điều của nhau. vậy thì một đêm giao du với Vũ Ngọc Giao, tôi thấy rằng, tất cả những gì ông Vương đã viết nên, chỉ là để muốn bày tỏ cái tâm thái ấy của mình mà thôi. một-đêm-ngao-du… chứ đâu là một sát na ngao du, bấy nhiêu đó, riêng tôi cho là đủ cho sự viết – ở điều kiện “người chấp bút thấy ở người và cảm được trong mình”.
    một cánh bướm vỗ ở phương Đông còn có thể gây nên cơn bão ở phương Tây, huống là người với người trực diện. hai cái tâm thái tỏa-hút, hút-tỏa là điều không ai làm chủ được. ông Vương viết nên được bấy nhiêu dòng về ông Giao, cũng chúng tỏ là ông Giao đã tỏa ra được bao nhiêu, thế thôi.
    và cũng không thừa, khi giả sử rằng: nếu chính tôi cũng có một cuộc tương ngộ như thế, thì chắc gì cái tâm thái mà ông Giao tỏa ra, sẽ đủ cho tôi viết nên được một bài thơ ? vì thế đó, lại nhắc đến chữ Duyên thêm một lần nữa: hữu duyên thiên lý năng tương ngộ – vô duyên đối diện bất tương phùng.
    vấn đề là tôi hiểu được niềm vui chân phương của ông Vương, còn những người chỉ trích thì nhìn vào ngôn từ mà chấp.


    những dòng này riêng gởi đến ông Vương cho một lời san sẻ:

    cuộc đời này cái gì là thật ?
    biết đấy mà vẫn đau đấy!
    đâu phải nhất thời đều nói được nên lời.

     

  • Trần Thiện Huy says:

    Người Việt chúng ta dạo này nảy ra một cái thói nên tránh: đó là ưa phê bình bằng giọng điệu hách dịch, hoặc hằn học miệt thị, nghĩ rằng làm như thế để tỏ ra con người thẳng thắn, cương trực.
    Cổ nhân thường dạy “đối với người phải thành, đối với mình phải nghiêm”. Thành ở đây là thành tâm vậy. Thiết tưởng, trước khi lên tiếng góp ý về vấn đề văn hóa, người góp ý cũng nên tự chấn chỉnh lại hành vi tác phong của mình, giữ sao cho từ tốn ôn hòa. Không cứ gì phải dao to búa lớn mới có người hiểu.
    Để cho minh bạch mọi lẽ, tôi nhìn nhận rằng tôi là bạn của ông Nguyễn Minh Vương, và điều đó có thể đã tác động phần nào đến quyết định của tôi viết phản hồi này.
     

  • BTD says:

    Xin lỗi ông Nguyễn Minh Vương, tôi muốn nói thẳng với ông vài điều nho nhỏ.

    Ông viết “Tài hoa của Giao về Guita có thể nói là bậc nhất ở Việt Nam, tiếc là tôi chưa đủ duyên để thưởng thức ngón đàn của Giao, nhưng Giao hy vọng rằng ông có thể đốt cháy tất cả để làm một cuộc Lữ nhảy vào hố thẳm cô đơn heo hút điệp trùng.”

    Ông viết như một kẻ cuồng. Nếu ông “chưa đủ duyên để thưởng thức ngón đàn của Giao”, làm sao ông biết “tài hoa của Giao về Guita có thể nói là bậc nhất ở Việt Nam”?

    Giao là chỗ không xa lạ gì với bọn tôi. Riêng tôi tự xem mình là vô danh nên chỉ viết tắt cái tên, không muốn chường ra làm gì.

    Ngón đàn của Giao, thơ của Giao ra sao thì anh em chung quanh đều biết cả mà. Thì cũng hay. Nhưng lấy hết gân để ca tụng như đại thiên tài thì hơi kỳ cục cho Giao. Tôi nghĩ Giao không thích đâu. Hay là Giao thích? Thì đành chịu thôi. Biết nói sao.

    Ông Nguyễn Minh Vương bị ám ảnh lùng bùng bởi những cuốn sách của Phạm Công Thiện từ thời đó tới bây giờ vẫn chưa thoát ra được nên hầu như bài nào của ông cũng “mượn đỡ” quá nhiều của PCT. Mà có lẽ ông không ngờ ông “mượn đỡ”. Chứ lẽ nào ông lại ăn cắp.

    Nhiều quá. Chỉ xin đưa ra một ví dụ dễ kiểm tra nhất:

    Trong bài này – “Một đêm ngao du với Vũ Ngọc Giao” – Nguyễn Minh Vương viết:
    Sau bao năm tháng cống hiến tuổi trẻ của mình cho nghệ thuật ở quê hương, giờ ông muốn trở về, im lặng, rộng lượng và không hy vọng…

    Trong bài “Nổi loạn” (Nhân đọc Ký ức của người loạn tính của Đặng Thơ Thơ), Nguyễn Minh Vương kết luận:
    “Vậy còn chờ gì nữa, sao lại không bước đi, một cách im lặng, rộng lượng và không hy vọng.”

    Trong cuốn Im Lặng Hố Thẳm của Phạm Công Thiện có câu:
    “Bổn phận mi là lên đường đi đến Hố thẳm, một cách im lặng, rộng lượng và không hy vọng”.

    Thôi đi ông Nguyễn Minh Vương. Viết về ai ông cũng tán lăng nhăng ầm ĩ. Chữ thì nhiều mà ý thì loảng xoảng lộn xộn ồn ào như cái nhà kho chứa đồ lạc xoong, chẳng đâu ra đâu.
    Ông nên tĩnh dưỡng một thời gian. Khoan viết đã. Không khéo thì kẹt cho ông lắm đó.

  • đỗ trung quân says:

    Thưa anh Quế Sơn

    Tôi không có ý định tham gia vào nội dung bài viết của anh Nguyễn Minh Vương.dù thật sự tôi có biết anh Vũ Ngọc Giao đã 30 năm nay. Ở đây chỉ xin minh xác một việc nhỏ nhưng chưa thật chính xác. Việc phục hồi phong trào Guitar cổ điển ở Nhà văn hóa Phú Nhuận trong thập niên 85-95
    1- Từ một lá thư của ông Võ Tá Hân một giáo sư kinh tế kiêm Chủ tịch hội Guitar cổ điển của Singgapore lúc ấy (ông Hân đã sống ở Singgapore hơn 30 năm. Hiện vẫn làm việc ở sing ) qua nhạc sĩ Huỳnh Hữu Đoan (hiện đang sống ở Hoa Kỳ ) khi ấy đang là giảng viên khoa Guitar của Nhạc viện Thành phố. Tôi và dịch giả, họa sĩ Hoàng Ngọc Biên tham gia việc thúc đẩy phục hồi phong trào này. Logo đầu tiên và sẽ sử dụng nhiều năm sau đó là do hs Hoàng Ngọc Biên thực hiện (Dịch giả, hs hiện đang sống ở San Jose-Cali). Riêng cá nhân tôi giúp phần thông tin trên báo chí những chương trình tổ chức ở đây. Nhiều ns danh tiếng của Guitar cổ điển sài gòn (và thế hệ sau đó) đã có nơi trình tấu sau một thời gian vắng  bóng như Ns Phùng Tuấn Vũ, Trần Văn Phú, Châu Đăng Khoa, Huỳnh Hữu Đoan, Nguyễn Kim Dũng, Nguyễn Trí Đoàn, Ngô Thị Minh, Nguyễn Thị Kim Chung vv… (Xin thứ lỗi vì không thể kể hết tên …)
    Ns Vũ Ngọc Giao tất nhiên cũng có tham gia chương trình một đôi lần nhưng chắc chắn anh không phải là người khởi xướng cho phong trào phục hồi Guitar cổ điển tại đây. Anh có góp mặt thì đúng hơn.

    Tôi trình bày lại vấn đề cho  chính xác vì lẽ chuyện cũ vẫn còn rất gần và hầu hết những nhân vật liên quan, được nhắc tên đều còn sống cả.
    Kính.
    Đỗ Trung Quân

  • Quế Sơn says:

    Tôi đã phải đọc đi đọc lại bài viết của anh Nguyễn Minh Vương và những comment đã được Da Màu đăng tải. Không bình luận gì, chỉ muốn góp thêm vài nhận định của mình về Vũ Ngọc Giao và tác giả (NMV).
    Thú thật, chỉ với “một đêm ngao du với” qua một người chỉ mới gặp lần đầu sau khi đã đọc blog (Dũng CR) mà tác giả đã dám nhận định, dám viết và nhất là dám đưa bài viết của mình lên net với văn phong, vốn từ, bút pháp và tri kiến của một người học rộng, hiểu nhiều, thậm chí trích cả thiền học Phật giáo, Lão Trang, văn học Tây Phương, triết học Ấn Độ. . . để nói về một người qua sơ giao thì Sơn tôi xin bái phục, bái phục ! ! !
    Tôi thật sự bị choáng về những cảm nhận này và rất đồng tình với TĐ, với Đami, chắc chắn khi VNG sẽ shock khi đọc bài này và tự hỏi tác giả có “hậu ý” gì không qua bài viết này hay chỉ là viết “để giải tỏa cơn nghiện của mình“, “trong cơn say túy lúy” ? vì VNG chưa đến mức là “thiên tài được khí thiệng sông núi đất Việt sản sinh” và “tài hoa về guitare của Giao có thể nói là bậc nhất ở VN” để rồi kết luận “bấy nhiêu đấy đủ cho thấy công lực của Giao thâm hậu thế nào” vì chắc chắn khi đã nói ra điều này thì hẵn (theo lẽ thường) công lưc anh Vương phải thâm hậu hơn Giao.
    Mọi thứ về VNG, tôi nghĩ chưa đến mức như tác giả đã viết, Giao chỉ là một guitarist, soạn nhạc, làm thơ, thỉnh thoảng viết bài về mảng âm nhạc đăng báo, bạn bè nhờ thì biên tập thơ cho bạn. Giao cũng đã cùng với Châu Đăng Khoa (em ruột Giao) va Phùng Tuấn Vũ phục hồi phong trào guitare cổ điển Sài Gòn qua việc thành lập CLB Guitare Phú Nhuận và cách đây khá lâu bạn bè đã tổ chức “đêm thơ nhạc Vũ Ngọc Giao” tại NHV Lao động (q.I) ( Đỗ Trung Quân làm MC, hôm ấy có cả hai nhà thơ nữ Phạm Thị Ngọc Liên và Lê Thị Kim đến đọc thơ) nhưng phải ghi nhận rằng anh đọc và nhớ khá nhiều, nhớ có hệ thống dẫu rằng những tháng ngày giang hồ, ăn ngủ thất thường cùng với bia rượu thuốc lá có thể làm ký ức anh không còn mạnh.
    Giao cũng thường xuyên đi, khi ra Bắc, khi thì Tây Nguyên, lúc ra Trung, khi về miền Tây mỗi khi có cơ hội và bởi đó, anh quen biết khá nhiều những người làm thơ, soạn nhạc, vẽ tranh, làm báo. . .vì chính anh cũng rất quảng giao và sống với bè bạn hết lòng. Nhiều năm trước đây, giới văn nghệ Sài Gòn đã gọi anh là “tên lãng tử cuối cùng còn sót lại của thế kỷ XX” và tôi cho rằng cách gọi này phần nào đúng với con người và cốt cách của Giao.
    Để hiểu rõ về Giao, mọi người có thể tìm đọc bài viết của nhạc sĩ Quốc Bảo (Nhớ Vũ Ngọc Giao) và của Đàm Hà Phú (Nghệ sĩ giang hồ) mà người viết bài này cho là chân tình và lột tả khá rõ nét về VNG giống như một mảng trong cuộc sống đời thường mà Thanh Hoa đã viết khi dùng chữ “Bố Giao”.
    Sau cùng, có lẽ hơi mạo muội khi nói với anh Vương rằng tôi không tin là VNG đồng tình để anh được thay mặt Giao “gữi lời cám ơn đến quý vị đã quan tâm đến bài viết” (vì đôi lúc -với Giao- đó là sự phiền hà) và chưa chắc Giao chấp nhận cùng anh “xin ghi tâm tạc dạ tấm chân tình của ông…” nào đó. Điều đáng tiếc ở đây là tôi không rõ anh Vương có được sự đồng ý của anh Giao trước khi gũi bài này ??

  • Nguyễn Minh Vương says:

    Thưa quý vị độc giả, đúng như ông Trần Thiện Huy nói, bài viết chỉ ghi lại một vài kỷ niệm của một lữ khách chẳng may hạnh ngộ một quái kiệt giang hồ và từ cái sát na hạnh ngộ đó, người viết cầm lòng chẳng đặng, đành mượn dăm ba mớ chữ để giải tỏa cơn nghiện của mình. Chính vì thế, trong cơn say túy lúy, người viết khó có thể kìm nén được cảm xúc của mình và hệ quả là đã viết những lời ‘có cánh’ mà ngay cả Giao cũng cảm thấy khó chịu khi tôi gửi bài viết này cho Giao, điều này xin chân thành ghi nhận sự đóng góp ý kiến của quý vị độc giả. Nhưng chuyện gì đã qua, nó đã qua rồi và tôi không hối tiếc, bận tâm, mặc cảm hay tự hào gì về nó cả. Bài viết đã xong và tôi chấp nhận nó là như thế, như thế, như thế…
    Nhân tiện, tôi cũng xin thay mặt Giao gửi lời cảm ơn đến tất cả quý vị đã quan tâm đến bài viết, nhất là những người đã trực tiếp và thẳng thắn bày tỏ quan niệm của mình, dù phản đối hay ủng hộ. Riêng với ông nguyên minh huyền vũ, Giao và tôi xin ghi tâm tạc dạ tấm chân tình qua món quà thơ độc đáo, mong có ngày được hạnh ngộ. Chân thành cảm ơn ông.

  • nguyên minh huyền vũ says:

    yêu đi em!

    yêu đi em, kiếp đoạn trường
    ngày sau sổ sách còn thương lấy mình
    yêu, như tất cả sinh linh
    lầm than bởi chốc tự mình họa ra
    yêu cho sáng cả thiên hà
    vạn năm hội tụ tìm ra linh hồn
    yêu cho đến buổi hoàng hôn
    hồn hoang vĩnh quyết lâm bồn sử thi
    yêu cho tất cả vô nghì
    hằng hà sa số ra đi một lần
    yêu, dù sốt cả phù vân
    không nên áy náy một phân sự tình
    yêu đi! bởi gã tinh linh
    mồ yên mả đẹp màu kinh khốc rồi
    yêu, cho hết kẻ lạc loài
    cho lòng lạnh hết mồ côi dương trần
    yêu từng sớ thịt làn gân
    để người viễn kiếp bâng khuâng niệm cười
    yêu từ ác quỷ, đười ươi
    yêu luôn tất cả con người hỗn danh
    yêu cho hết gã tan tành
    {như thằng uẩn tịch từng canh giấc này}

    yêu đi em! giữa hôm nay
    còn người-chưa-hết cạn ngây chén nồng
    yêu và cứ để trong mong
    yêu và cứ để trong lòng
    thản nhiên
    yêu bằng tự tính của hiền
    để ngôn ngữ dữ người điên rã cuồng.

    tặng người tất thảy miên muôn
    làm hoa lễ cưới trong buồn-tân-hôn.

    yêu đi em!
    yêu cho thế giới tại tồn
    thiên trường địa cửu càn khôn, nhân loài…

     
     
    kẻ ít đọc-ít biết-ít viết tự cảm, vui mừng vì còn có con người như Vũ Ngọc Giao, thêm mừng là còn người viết được về người như Nguyễn Minh Vương.
    vài dòng san sẻ.

  • says:

    Cũng là người hay nhậu với anh Vũ Ngọc Giao, tôi cho rằng anh Giao sẽ khó mà “nuốt” cho trôi bài viết này. Anh Giao không thuộc cái mẫu người “ghê gớm” như bài viết này tán tụng. Đọc bài này cứ tưởng tác giả đang nói về ai đó, giống như “Lý Bạch” chẳng hạn. Con người anh Giao khác, rất khác. Đây là chỉ nói về tính tình, còn về tài năng thì, thú thật, tôi chưa được biết. Cũng nghe nói anh ấy là nhạc sĩ nhưng vẫn không thấy tác phẩm nào. Chỉ biết là anh ấy có một người em trai là cầm thủ ghi ta có hạng của Việt Nam, đó là Châu Đăng Khoa.
    Anh Giao rất vui tính và “cà rỡn”. Ví dụ có lần ngồi nhậu trông thấy cái hình “bác Hồ, bác Tôn” anh liền nói Bùi Giáng có làm thơ bình bức hình này:

    “Bác Hồ đứng cạnh bác Tôn,
    Bác Tôn rót quá ôm hôn bác Hồ”

    Thực hư Bùi Giáng có làm 2 câu thơ trên không thì…xin chịu. Cũng như nhiều câu chuyện “cà rỡn” khác của anh trong các bữa nhậu, không ai lại đòi hỏi kiểm chứng làm gì. Cốt cho vui vẻ thôi mà!

  • Phan Đức says:

    Thưa bạn Viễn Khánh,
    Theo thiển ý của tôi,bài này không phải thuộc loại phiếm luận như bạn nghĩ…

  • Thanh Hoa says:

    Mỗi con người dù đẹp, xấu, hiền, dữ, nổi tiếng tài ba hay chỉ là những con người bình thường giản dị mà ta gặp đều để lại cho ta ấn tượng ban đầu khi tiếp xúc. Chính cái ấn tượng đầu tiên ấy cứ theo ta mãi mãi và khó có thể thay đổi được nếu có yếu tố trái ngược nào đó từ bên ngoài tác động vào. ” Bố Giao” hai từ rất đổi thân thương ấy ngay từ lần gặp đầu tiên đã tạo cho tôi cảm giác thân thiết, gần gũi. “Bố không có con cái nên Bố coi tất cả các con như là con của Bố” nhưng thưa Bố dù con có người để con gọi là Ba nhưng con đã coi Bố là người Bố của con và có một điều mà mọi người trên thế gian này đều biết là dù Bố là người thế nào đi nữa thì Bố vẫn là niềm tự hào và đáng kính trong trái tim của con và những ai gọi Bố là Bố.
    Cảm ơn anh Vương đã viết về Bố điều mà chắc 50 năm sau em cũng chưa làm được!

  • Là người đã được nhờ chuyển bài này đến tay Ban biên tập Da Màu, tôi xin có một lời ngắn gọn, may ra giải quyết được vấn đề:

     

    Khi tác giả gửi bài viết, không có kèm theo hình và hàng chữ “Nhạc sĩ Vũ Ngọc Giao”; sau này Ban biên tập mới thêm vào trước khi đăng. Hy vọng rằng sau khi tạm gác được tấm hình và hai chữ “Nhạc sĩ” ra khỏi tâm tưởng, nhiều vị độc giả sẽ dễ chấp nhận được dụng ý của tác giả, vốn không phải là viết một bài giới thiệu danh nhân, hay bình luận âm nhạc, mà chỉ là viết về kỷ niệm một đêm đi ngao du nhậu nhẹt của tác giả, còn mỗi chúng ta có thu hoạch được gì từ đó thì tùy vào mức độ cảm thông của từng người.

     

    Trân trọng.

  • Phan Đức says:

    Theo thiển kiến của tôi,dựa vào bài này thì nhạc sĩ VNG.giỏi đàn guitare thì phải? Hình
    như VN.có 2 danh tài ở nhạc cụ này là Hồ Đình Phương và tiếp theo sau đó là Đào Đình
    Trịnh,nếu tôi nhớ không lầm.
    Về giai thoại “bóp vú” của Bùi Giáng,tôi được một đàn anh,lúc ấy làm giám đốc “Bệnh viện
    tâm thần ban ngày Phú Nhuận” cho biết đó là chuyện thật.Khi nhập viện,anh này thấy trên
    giấy giới thiệu có ghi bệnh nhân (BG) có biểu hiện lệch lạc… bóp vú nữ ngoại nhân. 
    Xin góp ý với Viễn Khánh,
    Tôi thiển nghĩ tác giả nào muốn bày tỏ luận điểm của mình thì cũng tạo hay mượn cớ,
    nhưng hầu hết cái cớ là người hay vật phiếm định,như Nguyễn Huy Thiệp trò chuyện với
    hoa thủy tiên chẳng hạn.
    Chính vì bài này mà tôi có tính…lo xa ông ạ,thậm chí lo…bò trắng răng rằng một ngày
    nào đó,bỗng có Trần Xoài,Lê Ổi v.v.cũng bình phẩm thi ca còn siêu hơn cả nhà phê bình
    chuyên nghiệp hay hiểu thông suốt hơn cả chính tác giả cũng không chừng ? Cái lo nữa
    là e rằng mai kia một nọ sẽ diễn ra cảnh 2 người mặc áo thụng vái nhau rất ư là kính cẩn ?
    Nhưng cái lo này hóa ra…mình nằm mơ. May thật ! 
    Xin trả lời Levinhtai,
    Anh hỏi đùa thì tôi xin nói cho vui rằng vĩ nhân không phải là nhân vật vĩ đại mà là người
    có…đuôi vì sau họ có sự xếp hàng…nối đuôi của những người muốn bày tỏ lòng ngưỡng  
    mộ họ ?
     

  • Bình Hằng says:

    Ai xứng đáng được ca tụng hay cho lên mây xanh? còn khuya. Lịch sử nhân loại xưa nay, “KẺ” được ca tụng nhất là cái “VÔ” và kẻ đó chưa bao giờ lên tiếng, có chăng con người nào đó mạo danh hay nhân danh lên tiếng thôi. Thật tội nghiệp cho những người theo chủ nghĩa NHÃN TIỀN và DUY LÍ TRÍ. NMV khen hay chê một người là thằng điên hay khùng hoặc là vĩ nhân hay hèn nhân có là vấn đề gì, vấn đề là NMV ngộ thế nào. Chẳng nhẽ vĩ nhân mới đáng nói đến còn lại thì không. Không có hèn sao có vĩ nhân, không có cái thối thì sao biết có cái thơm, hai đều có. NMV nêu tên ông Giao làm gì cho thiên hạ biết, nói ông gặp thằng mất dạy nào đó cho rồi, sau viết gì thì viết, ông khen hay chê có ảnh gì đến thằng đó đâu, nó vẫn sống như là nó thôi, có ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới đâu. Tôi không dám khen hay chê ai cả bởi vì khen hay chê cũng là tỏ ra mình hơn người mình khen hay chê mà thôi, vì sao ư: nếu khen thì cũng tỏ ra là mình biết cái hay của kẻ khác, nếu chê thì cũng tỏ ra là mình biết cái dở của kẻ khác mà thôi. Nhưng cái biết của ta có thật sự là biết hay không? Tôi không dám chắc.

  • Mến chào ông Phan Đức. Đọc bài viết này và đọc đến lời bình của ông, tôi bỗng muốn chia sẻ đôi lời.

    Về câu nói của ông: “Tôi đồng ý với NMV.khi có lần viết về Bùi Giáng nhưng thất vọng qua bài này.” Tôi hoàn toàn không đồng ý. Thiển nghĩ viết về một người đâu nhất thiết người đó phải là bậc tài hoa uyên bác thượng thừa? Gặp một người mà ta thấy yêu mến, xem như bạn thiết, thì đã đủ để cây bút muốn ngọ nguậy lắm rồi. Cô Kim Cương là ai mà Bùi tiên sinh đưa lên tận trời cao? “Mẹ” là ai mà có ức triệu tác phẩm của những đứa con viết về người mẹ của mình? Khi tác giả NMV viết bài này, tôi thấy anh như hòa chung vào nhịp đập của Vũ Ngọc Giao, hít thở cái khí chất của Vũ Ngọc Giao vào trong cơ thể. Viết về một người bằng cái cảm nhận như thế đã là quá tuyệt rồi. Và nếu không tin? Sao ta không thử một lần gặp chính Vũ Ngọc Giao mà nghe ông đàn, nghe ông nói, thấy ông say? (Dẫu rằng chuyện gặp được Giao hay không, cái đó còn tùy vào nhân duyên nữa kia.)
    Tôi chợt nhớ tới một đoạn trong Hoàng Tử Bé mà tôi rất tâm đắc, xin được phép chia sẻ cùng mọi người:
    “Vậy đó, nếu anh bảo: “Bằng chứng hoàng tử quả có thật ở trong đời, ấy là chú rất quyến rũ dễ yêu, chú cười, chú muốn một con cừu. Một phen người ta muốn một con cừu, thì đó là một phen có đủ bằng chứng là người ta hiện hữu”, thì những người lớn sẽ nhún vai và coi anh là con nít! Nhưng nếu anh bảo: “Tinh cầu từ đó hoàng tử tới đây là tiểu tinh cầu B 612″ thì khi đó họ sẽ tâm đầu ý hiệp với anh ngay, siết tay du khoái hả hê ngay, gọi rằng tâm phúc tương cờ ngay, và để yên cho anh túc mục an lành với bao câu hỏi họ lăng xăng ngay. Họ là như vậy đó. Cũng chẳng nên hờn giận họ làm chi. Con trẻ phải nên rất mực độ lượng với những người lớn.”

    Có thể những điều này ông đã nghĩ qua, và việc tôi nói chỉ là nói lại những chuyện cũ rích mà các cuộc phiếm luận như thế này thường hay mắc phải. Tôi rất trân trọng sự thẳng thắn của ông, vì thế, tôi xin phép lấy sự thẳng thắn để đáp lại sự thẳng thắn.
    Thân mến!

  • vuong minh says:

    – quả tình
    tôi chưa được hân hạnh nghe bất cứ một ca khúc nào của nhạc sĩ vũ ngọc giao.
    hay
    ông nổi lên sau khi việt cộng chiếm được miền nam! và hình thì có đấy!
    nhưng
    bài bản/ ca khúc
    nay đâu?

  • levinhtai says:

    Không biết anh Phan Đức nghĩ thế nào là “vĩ nhân”?

  • Phan Đức says:

    Thú thật xin lỗi tôi chưa hề nghe tên tuổi của nhạc sĩ Vũ Ngọc Giao cho đến khi đọc được bài viết
    này và bỗng tự hỏi tác giả viết thế có dụng ý gì nhỉ ?
    Nếu viết về hoạt động nghệ thuật thì lẽ ra NMV.nhận định hay phê phán tác phẩm của VNG.mới
    phải,chứ ai lại ca tụng VNG.lên tận mây xanh về những chuyện đời thường mà chỉ những vĩ nhân,
    văn thi gia,nhạc sĩ hay họa sĩ…danh trấn giang hồ… mới xứng đáng được nhận ! 
    Tôi đồng ý với NMV.khi có lần viết về Bùi Giáng nhưng thất vọng qua bài này.  

  • Hoàng says:

    Tôi có quen anh Giao, thậm chí trên 15 năm. Thú thật đọc bài viết này tôi ước chi tác giả đợi… 15 năm sau đã viết!

  • Đami says:

    Bài viết hay quá, lột đúng khí chất giang hồ và cá tính Giao!

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)