Trăng không phải phó-mát chưa chín.*
Nó là món đồ sứ đứng trong phòng này.
Nó có một bóng mười oát và một khẩu hiệu:
Made in Japan.
Mặt sữa, mặt búp bê,
nó đóng kín như một cái răng
và lạnh như người chết
cho tới khi tôi chạm công-tắc.
Khi đó trăng trình diễn
cái trò duy nhất của nó:
nó biến thành trái chuối.
Nó làm ấm các đối tượng,
nó lôi ta vào ánh sáng của nó,
ta biết nó sẽ làm vậy
khi tôi đưa mười đô-la
cho người tính tiền tái mét
trong cái cửa tiệm bán
mọi thứ.
Bà ta hỏi, tôi có xe hơi không?
Bà ta bọc trăng bằng khăn giấy
rồi đặt nó vào một chiếc hộp.
Chiếc hộp không nói Trăng.
Nó nói Mặt này lên trên.
Tôi nhét trăng vào chiếc giỏ xách
và đạp xe vào thế giới.
Bằng ánh sáng mặt trời
Tôi không thể thấy trăng
bên dưới bao đựng táo của tôi,
trăng dưới lát cá hồi,
trăng dưới mớ quần áo giặt sạch,
dưới sữa chị nó
và bánh mì anh nó,
trăng dưới thịt.
Giờ đây bữa ăn đã xong.
Giờ đây quần áo đã gập.
Tôi giũ tung những tấm chăn cũ.
Chín con mèo của tôi tìm vào chỗ của chúng
và mơ tiếp những giấc mơ bỏ dở.
Con trai tôi rúc vào đống chăn gối.
Bố nó mất hút trong một cuốn sách.
Đến giờ để bật trăng lên.
Đến giờ để sống bằng ánh sáng khác.
*Ngạn ngữ Âu châu thời Trung Cổ: “Mặt trăng làm bằng phó-mát chưa chín.”
Theo nguyên tác tiếng Anh “Night Light” trong Nancy Willard, Household Tales of Moon and Crater (1980), in lại trong Ted Kooser, The Poetry Home Repair Manual (University of Nebraska Press, 2005), tr. 157