Trang chính » Biên Khảo, Quan Điểm Email bài này

Quan điểm về dịch thuật – trả lời độc giả Pantan

5 bình luận ♦ 30.12.2011

 

LTS – Năm trước, độc giả Pantan có góp ý đến bản dịch bài phỏng vấn Herta Mueller của Thái Kim Lan. Trong đó, Pantan đặt một số câu hỏi quan trọng về phong cách dịch thuật. Tuy nhiên, vì một số lý do cá nhân, chị Thái Kim Lan không trả lời ngay được dù đã nhận được thư mời từ Da Màu.

Vì nội dung bài viết, và cũng vì phần góp ý đã quá lâu, Da Màu xin được đăng bài phản hồi, nhận được từ chị Thái Kim Lan tuần này, như một bài viết độc lập.

 

 

Nhân chuyện dịch thuật, tôi xin trở lại ý kiến của độc giả Pantan viết cách đây đã lâu. Phần vì quá bận rộn, phần ở xa vào thời điểm ấy, sau đó mất luôn tính thời sự và tôi bỏ mất cơ hội trả lời ngay. Người Đức hay nói tuyết hôm qua, nghĩa là chuyện không còn hôm nay, nhưng cái đúng – sai thì vẫn còn.

Ta thán của Pantan, – người tự xưng mình là "tông đồ chính tông của văn chương" – về hai từ ngữ trong bản dịch cuộc phỏng vấn nữ văn sĩ được giải Nobel văn chương 2010 Herta Müller mà tôi dùng liên quan đến bài phỏng vấn: "sự phát vãng" – và Möglichkeit – tôi dịch "khả thể", là khó hiểu. Nếu ông chịu khó tra cứu các cuốn tự điển tiếng Việt, hay các cuốn tự điển song ngữ, Đức-Việt, Anh-Việt hay Pháp-Việt, cả Hán-Việt thì sẽ thấy các từ ngữ này nằm trong đó, chúng đơn giản không phải là những từ ngữ "có âm vang phô trương…trình diễn cái hãnh tiến…khoa trương cái sở học bí ẩn…". Với đôi khái niệm ấy mà Pantan đã gán một lô cáo buộc về dụng ý cá nhân của người dịch, – một lối đoán mò hậu ý của người khác theo kiểu "suy bụng ta ra bụng người", thật buồn cười.

Tại sao tôi chọn chữ "phát vãng" mà không dùng "trục xuất" hoặc "lưu đày"? Thật ra cụm từ "phát vãng" thuộc lãnh vực luật, pháp lý, đã được thông dụng trong tiếng Việt từ lâu. Nhân vật trong tác phẩm "Atemschaukel" không hẳn bị trục xuất cũng không bị tù đày mà bị phát vãng đi lao động do chính quyền Nga dưới sự lãnh đạo của Stalin, một trong bốn đồng minh thắng trận thế chiến thứ hai. Tù binh Đức hay người bản xứ có liên hệ với Đức chịu hậu quả của những hiệp ước ngưng chiến. Bối cảnh lịch sử của tác phẩm "Atemschaukel" vào năm 1945, sau thế chiến thứ hai, với các hiệp ước ký kết giải giáp, phân phối tù binh, người Đức không là tù binh cũng lo sợ cho số phận họ bị phát vãng. Trên danh nghĩa, họ không bị trục xuất về nước Đức, không bị lưu đày biệt xứ, mà bị đưa đi lao động quản thúc, bị "phát vãng". Nga đã hành xử khác với các đồng minh khác vào thời điểm ấy dưới chỉ đạo của Stalin. Sự quyết định dùng cụm từ "phát vãng" có lý do từ những đối chiếu trên.

Tại sao "khả thể" mà không dịch "tính có thể" cho "Möglichkeit"? Pantan cho rằng tôi tạo ra chữ này? Nếu ông bỏ chút thì giờ đào sâu văn chương chữ nghĩa một chút ông sẽ thấy cụm từ "khả thể" không hiếm trong các tiểu luận, tác phẩm dịch, trong văn chương Việt nam. Nó không phải thứ của cấm mà Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, quí giáo sư Trần Thái đỉnh, Lê Tôn Nghiêm… tại miền Nam đã sử dụng khi các ngài dịch Kant, Heidegger. Từ đó nó không xa lạ gì và tôi cũng không phải là người phát minh, bày đặt chữ để khoa trương. Trong ngữ cảnh bài phỏng vấn, nếu dịch "tính có thể" cho "Möglichkeit" nghe không gãy gọn và không cân xứng với cuộc đối thoại của người vừa nhận giải Nobel văn chương. Theo nguyên tắc NHÃ, "khả thể" đã được chọn cho "Moeglichkeit" mà không vi phạm tín và đạt của dịch thuật là thế.

Về việc dịch và giới thiệu thơ Hölderlin, phê bình của Pantan vô hình chung lại là một lời khen – dù khá đen – cho dịch giả! Ít nhất cái không khí thơ Hölderlin đã được Pantan cảm nhận, mà Pantan cho rằng tôi đã phù thủy hoá. Mặt khác, phê phán tôi là "thầy cúng" muốn bẻ gãy chữ nhằm "khoe rỗn rảng" sở học của tôi, dịch giả – lại cho ta thấy ông chưa hiểu hay hình như chưa tiếp cận nhiều với thi ca của Hoelderlin. Thế giới thi ca của Hölderlin phần lớn mang tính huyền thoại, trong đó cuộc đối thoại giữa con người và thần linh hầu như bất tận: con người "là một với tất cả, đó là đời sống của thần tính, thần tính là bầu trời của con người". Trong khi R. M. Rilke băn khoăn với bản chất người như là một animal rationis, Hoelderlin linh cảm tính thần thánh của con người. Lý tính đối với ông không chỉ là intellectus (trí tuệ) mà bao gồm thần tính, thánh tri. Trái tim thơ của Hoelderlin kêu gọi "con người linh thiêng", trao tặng cho nó sự hiện hữu trên trần thế. Những khái niệm "Heilig" (thần linh), "Gott" (Thượng đế nhưng không phải vị độc thần), "Goetter "(các vị thần), "Gottheit" (tính thần linh) – trong ngôn ngữ Đức là bình thường chẳng có gì ma quái – thường xuất hiện trong các bài thơ, nhất là trong những tụng thi (Hymne) của Hoelderlin. Cái không khí…"phù thủy", tiêu cực như Pantan phê phán tôi bày đặt ra, thật sự lại tích cực, vì đó là tính đặc thù của thi ca Hoelderlin, như những nhà phê bình văn học về sau nhận định. Pantan không hiểu Hoelderlin không có gì lạ. 300 năm trước, thi ca của ông đã từng bị người đương thời cho là kỳ bí, khó hiểu – tương tự như trường hợp của Pantan – và chối từ. Bởi vì, như Hoelderlin đã nhận rõ, con người vô thức không biết được "thần linh" đang cư ngụ trong tâm của mỗi con người: "Ach wir kennen uns wenig, denn es waltet ein Gott in uns" (Hoelderlin, thơ, Der Abschied): "Ôi ta khó tự biết ta, bởi lẽ thượng đế ở trong ta". Thơ, đối với Hoelderlin không khuấy động phần súc vật của con người, mà khuấy động thần tính trong con người, chính trong những lúc đời người đen tối và bi thảm nhất. Dĩ nhiên trong bối cảnh niềm tin nhất thần tại Âu châu 300 năm trước đây, quan niệm con người ngang bằng Thượng đế khó được chấp nhận. Ý thơ của Hoelderlin đẩm chất "thần thánh" (heilig). Ngôn ngữ thi ca (mà tôi viết gọn là ngôn thi) Hoelderlin, như Heidegger nhận định, là "tiếng nói linh thánh" – "heilige Worte" – Heidegger cho rằng với tiếng nói thần linh, thi ca Hoelderlin đã sáng thế điều gì mới mẻ, gây nên một điều gì đang xao động trở thành, một thứ trầm tư mới khởi động, thi ca trở nên một thứ cư ngụ mới của con người trên trái đất, một cuộc gặp gỡ tân kỳ giữa con người và Thượng đế. Thi ca trở nên sự liều lĩnh, cú nhảy, có khả năng thiết lập một chân lý mới. Tư tưởng "người – thần"của Hoelderlin đã được ông hoá thân trong một thứ ngôn ngữ diệu kỳ, trong đó hoan ca tưng bừng cuộc hợp hôn giữa con người và thần linh, từ đó CON NGƯỜI của Nietzsche,- chàng thanh niên 18 tuổi khám phá vẻ đẹp của thơ Hoelderlin trước nhất – "ecce homo" được sản sinh trong ánh sáng thi ca. Này đây con người cất lên tiếng nói thần linh! Tiếng nói của nhà thơ là sức mạnh sáng thế của chính con người. Nói "thi ca Hoelderlin chạm đỉnh thần linh ngôn ngữ Đức" chính trong ý nghĩa mà nhà triết học hiện sinh M. Heidegger đã thấy, cảm nhận và lý giải thơ Hoelderlin. Chẳng có chuyện bịa đặt, bẻ gãy để phô trương như Pantan vu vạ. Chúng ta cũng thường nói ngôn ngữ xuất thần nhập thế, với Tagore với Nguyễn Du và với Hoelderlin, thi ca chạm tuyệt đỉnh của ngôn ngữ. Mỗi nhà thơ đã ban phát cho ngôn ngữ của họ vẻ đẹp và chân lý thấm đẫm thể tính "NGỪỜI" trong nỗi rung động hiện sinh tột cùng về thân phận con người.

Đọc Nguyễn Du – "trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau" – để lấy một ví dụ gần nhất và đầy thú vị -, mà Thanhha Lai, nữ thi sĩ vừa nhận giải thưởng NBA 2011- bắt gặp và tâm đắc đến nỗi đã xem chúng như những "lời tụng niệm bí mật" trong những giây phút bất an, và đã "gần té ngã" trước vẻ đẹp của câu thơ "con tằm đến thác hãy còn vương tơ", là một chứng từ cho sức mạnh của tiếng nói thi ca. Lời thơ Nguyễn Du đã hoá kiếp mỗi giây phút tại thế của con người trở nên cuộc gặp gỡ con người với thần thơ "run như run thần tử thấy long nhan" (Hàn Mạc Tử). Truyện Kiều, đã được thánh hoá mà người Việt cung kính "lạy", "lạy vua Từ Hải lạy vãi Giác Duyên lạy Vương Thúy Kiều", lời thơ và người thơ trở nên những biểu tượng đại đồng cho muôn kiếp, có thể tiên tri tương lai đời người như tục "bói Kiều", cũng nằm trong ý nghĩa ấy.

Cũng thế, đọc Hoelderlin, những dòng thơ gây sửng sốt về ngôn từ xuất thần, đẹp mới mẻ như vừa tróc vỏ mọi giả hợp phù du, người đọc như đáo bờ hội nhập tận nguồn cội "căn nhà thể tính" – mà đó là ngôn ngữ – (phát biểu của Heidegger "ngôn ngữ là căn nhà của thể tính" hầu như được chứng thực qua thi ca của Hoelderlin): sau hơn 200 năm chìm đắm trong "quên lãng thể tính" (Seinsvergessenheit), thơ Hoelderlin cho ta nhận diện được tự tính "Thượng đế trong ta" như "Phật trong nhà" qua trực cảm bản lai đồng nhất của mỹ và chân đến từ nhạc thơ và ý thơ: Có lẽ nỗi kinh ngạc của chàng trẻ tuổi Nietzsche khi khám phá vẻ đẹp của những câu thơ Hoelderlin cũng tương đồng như trường hợp của Thanhha Lai chăng?

Ngay cả bài thơ về Heidelberg cũng mang bóng dáng của nữ thần Minerva, nữ thần của minh triết, quán tưởng và nghệ thuật, bức tượng đứng trên chiếc cầu Alte Bruecke bắc qua con sông Neckar. Trong bài thơ, Heidelberg được ông âu yếm gọi là EM, cũng chính là nữ thần Minerva trong nghĩa NÀNG và thành phố là một trong vẻ yêu kiều của non nước ấy. Từ nguồn suối thần linh ấy – nét đa thần tiêu biểu của thơ Hoelderlin – những dòng thơ bất tuyệt tuôn trào. Bài thơ Heidelberg của Hoelderlin đã trở nên một quốc bảo văn chương Đức.

Vâng nếu Pantan chịu khó tìm hiểu thêm, hẳn ông sẽ không đi đến những giả thuyết hồ đồ về dụng ý của người dịch. Không hiểu hay không biết thì nói không biết, để tìm hiểu thêm, hiểu sâu hơn, điều đó chứng tỏ sức mạnh tri thức và nhất là đức lý, nhân cách của người cầm bút, dù là một góp ý. Pantan, "tông đồ chính tông của văn chương" như ông tự phán, lại vi phạm ít nhất là hai lần đức lý ấy. Từ không hiểu, ông suy diễn nguyên nhân của sự không hiểu của chính mình bằng những giả thuyết vu khống người dịch muốn phô trương, trình diễn, khoa trương sở học dịch."Bởi có lẻ cái mục tiêu cuối cùng mà dịch giả mong muốn ở người đọc thông qua những bài chuyển ngữ của dịch giả mà biết được cái sở học bí ẩn khổng lồ của dịch giả chăng" (Pantan) Qua đó Pantan đã đánh giá quá thấp công việc dịch thuật, cũng như đạo lý trong dịch thuật mà tôi đã có dịp nêu ra. Dịch đối với tôi rất nặng nhọc chính vì tôn trọng trách nhiệm chuyển tải trung thực, nó tương tự ít nhiều công việc của một người khuân vác, người dịch trước tiên không có niềm hạnh phúc hay tự hào tự do của một nhà thơ hay nhà văn, mặc dù công việc dịch thuật đòi hỏi khả năng văn chương, tri thức nhạy bén và kiến thức đa dạng. Nhưng dịch là giới hạn mình vào khuôn khổ tư duy, nội dung của tác phẩm gốc. Sự giới hạn này nằm trong nguyên tắc "tín" của dịch thuật, trung thành với bản dịch là một thứ đức lý đối với niềm tin của người khác vào tính trung thực của người dịch. Ngay cả khi dịch cho mẹ tôi hay một o bán hàng rong một câu đơn giản, tôi cũng không quên nguyên tắc ấy, như vẫn thế trong suốt công việc dịch thuật trên lãnh vực đời thường, pháp luật, triết học hay văn chương. Từ chữ "tín", nhã và đạt, – đẹp và toàn hảo -, phát sinh. Từ đó công việc dịch mang ý nghĩa chân thiện mỹ đối với người dịch. Mỗi chữ đều được cân nhắc, dù thế, có thể nó chưa được toàn hảo và gây nên ngộ nhận, khó hiểu. Tuy nhiên xem những chữ mình chưa hiểu để hấp tấp một cách ấu trĩ giả thuyết rằng những chữ, khái niệm ấy được người dịch dùng vào việc phô trương, đáng bóng cá nhân, chứng tỏ người phê bình đã hiểu sai ngay từ đầu công tác dịch thuật, không những thế, người ấy còn bộc lộ chính dụng ý kém đạo lý của mình khi suy diễn và gán ghép dụng ý ấy cho người khác. "Phải có thánh thiện trong người thì mới tin được thần linh", Hoelderlin nói, "Đám đông chỉ thích đồ dùng nơi chợ búa, kẻ nô lệ khúm núm trước cường quyền". "Vẻ đẹp" thi ca…có lẽ là tấm hình đối mặt Thượng đế trung thực nhất"…và thi ca Hoelderlin đã đạt, có nghĩa "chạm đỉnh thần linh (vẻ đẹp) ngôn ngữ Đức!"

Cuối cùng, nếu giữ gìn vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt đáng là một bổn phận, thì có lẽ bổn phận trước hết của Pantan là nên đọc lại đoản văn góp ý của ông xem vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt có hiện tiền trong đó không, cho một "tông đồ chính tông của văn chương" như ông tự xưng. "Trong sáng" trên cả hai phương diện văn phong và ý tưởng, góp ý của Pantan gây ấn tượng trái ngược – khá thất vọng – về một mệnh danh gọi là "tông đồ chính tông của văn chương".

 

 

Xin đọc: Hoelderlin, Heidelberg, Thái Kim Lan dịch

Và Hoelderlin, Haelfte des Lebens, Thái Kim Lan dịch trong các links sau đây:

http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&view=article&id=2774:friedrich-hoelderlin-&catid=11:vanhoa&Itemid=15

http://phanba.wordpress.com/2011/10/13/m%E1%BB%B9-nhan-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-non-d%E1%BB%87-nh%E1%BA%A5t/

http://www.diendan.fr/sang-tac/dich-va-gioi-thieu-mot-bai-tho-cua-friedrich-holderlin/

http://www.baomoi.com/Nhan-doc-bai-tho-H%C3%A4lfte-des-Lebens-Nua-doi-cua-Friedrich-H%C3%B6lderlin/152/4590820.epi

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-27-friedrich-hoelderlin-thi-ca-cham-dinh-than-linh-ngon-ngu-duc-

http://www.nguoiduatin.vn/my-nhan-nuoc-non-de-nhat-a21059.html

 

Thái Kim Lan

bài đã đăng của Thái Kim Lan


5 Bình luận »

  • Lê Thanh Huấn says:

    “Ở ngoài Bắc còn cực đoan hơn như lính thủy đánh bộ thay vì thủy quân lục chiến…”

    Thưa chị,

    Nhiều cán bộ văn hóa bị mất chức vì đã không quét sạch tàn dư Hán Việt. Đúng ra, phải là “lính nước đánh bộ”.
    Tương tự, phải là “chữ mười đỏ” thay vì “chữ thập đỏ”.

  • thái kim lan says:

    Cám ơn anh Đoàn Vinh đã thấy được viên sạn, mà do đinh ninh viên sạn ấy không thể có nên mắt và ý mờ đi như mù. Đúng như anh Đoàn Vinh tìm ra, “ecce homo” chứ không phải “ecce home”. “Ecce homo” là tiêu đề của tác phẩm cuối đời của F. Nietzsche (viết khoảng 1888- 1889), lấy từ điển tích trong Kinh Thánh,lời của Pontius Pilatus giới thiệu đức Jesus: “Hãy trông đây, một con nguời thế ấy!”, một hình thức chơi chữ của triết gia đã tuyên bố cái chết của Thượng đế và làm sống con người như Thượng đế. Trong ngữ cảnh bài viết, ecce homo được dùng như một dẫn chứng về con người thần linh mà Nietzsche đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của thi ca Hoelderlin. Ngoài ra “Ecce homo” còn là tiêu đề bài thơ nhỏ của Nietzsche về sức mạnh chống trời, mà câu cuối “Chính ta là lửa đỏ” (bản dịch Thái Kim Lan trong tiểu luận “Nguyễn Du nghĩ gì về thơ, thử tìm một lý giải”).
    Cũng xin cám ơn Black Raccoon, “tiên Thúy Kiều” có lẽ đúng hơn Vương Thuý Kiều, mẹ tôi thường dùng VTK và kể thêm các nhân vật Kim Trong, Thúy Vân, Thúc Sinh…họ đều là á thánh trong từng cốt cách nhân vật, theo bà, nếu chỉ gọi Thúy Kiều là tiên thì các nhân vật kia bị thiệt chăng?
    Tôi cũng tán đồng ý kiến của anh ĐV về vấn đề bảo vệ tiếng Việt,- thật đắc “lời quê” của anh, làm tôi nhớ “lời quê góp nhặt dông dài” của Nguyễn Du mà bài viết nói trên về Nguyễn Du của tôi đã thử triển khai, “mộc” là thẩm mỹ -; Thật đúng nên bảo vệ tiếng Việt đồng thời không mặc cảm e sợ khi dùng chữ Hán Việt. Nếu dùng đúng sẽ là một cách làm phong phú thêm cho tiếng Việt. Trong thời đại toàn cầu hoá, nhiều ngoại ngữ như tiếng Pháp đã được phiên âm thành tiếng Việt (bơ, phó mát…), ngay cả tiếng Nhật, Đại Hàn, và tiếng Anh Mỹ cũng đã xen vào, nhất là về các danh từ khoa học, triết học, văn chương, tiếng Hán Việt đã chứng tỏ vai trò tiện dụng ngữ nghĩa của nó. Đã có một thời sôi nổi chống chữ Hán trong tiếng Việt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Ở ngoài Bắc còn cực đoan hơn như lính thủy đánh bộ thay vì thủy quân lục chiến, tàu bay bay thẳng thay vì phi cơ trực thăng, cửa hàng đồ ăn thay vì tiệm thực phẩm…Nhưng rốt cuộc, bởi vì tiếng Hán Việt là một bộ phận thiết yếu của tiếng Việt nên vẫn không thoát khỏi chữ Hán, hộ khẩu, lý lịch, hồ sơ vẫn nhan nhãn và công việc hô hào lắm lúc trở nên một thứ ngụy tín để diệt khẩu còn ta thì vẫn “hãnh tiến” “phô trương”.
    Cám ơn anh (chị) Vân Võ Hoài Phương đã dẫn chứng và giải thích cụm từ “phát vãng”.
    Và xin hỏi anh/chị Thường Mộng tại sao không có đất cho một chuyện trò nhỏ mặc dù mọi người đều có thể vào nơi đây???
    Cám ơn Da Màu và các bạn độc giả.

  • + Đúng như tác giả Thái Kim Kan viết. Động từ “phát vãng” là thuật ngữ trong ngành luật (thời VNCH hay dùng). Tui nghĩ trên diễn đàn này mấy vị cựu luật sư chắc còn nhớ rõ và biết rõ nghĩa hơn nữa.

    + Về câu khấn: “Lạy Vua Từ Hải lạy Vãi Giác Duyên lạy Tiên Thúy Kiều”, hay được dân gian dùng trong khi bói Kiều. Dường như trong tác phẩm Lều Chõng, Ngô Tất có ghi lại.

    Thái Kim Lan viết là Vương. Tui nhớ là Tiên. Vì câu trên gồm có 3 tôn giáo: Vua là Nho; Vãi là Phật; còn Tiên là Đạo. Tam giáo đồng nguyên. Trong Kiều có nhân vật sư cô Tam Hợp, có lẽ là ý này.

  • Đoàn Vinh says:

    Kính chị Thái Kim Lan,
    Rất thích khi chị nhắc “Hoelderlin không khuấy động phần súc vật của con người, mà khuấy động thần tính trong con người, chính trong những lúc đời người đen tối và bi thảm nhất”!Và riêng không hiểu “ecco home” có nghĩa gì ở trong bài, tôi đoán lỗi đánh máy, phải “Ecce Homo” không chị? Tôi là kẻ cô lậu (xin lỗi ông Pantan, để nói về cái nếp sống quê mùa lủl thủi một mình của tôi). Mới biết Da Màu mấy tháng nay, nhưng đọc bài chị tôi thấy cũng trong sáng, và hai chữ “khả thể” hay “phát vãng” cũng thường dùng . Tiếng Việt có chứa một phần không nhỏ chữ gốc Hán, điều đó cũng tự nhiên thôi, vì con người có giao lưu, đừng mặc cảm vay mượn . Tuy nhiên nếu ta có thể dùng được “lời quê” mà diễn tả được thì quá hay rồi! Tôi trân trọng những bản dịch nghiêm túc. Nhưng cũng có khi gặp những bản dịch “làm dáng” tôi thú thật cố gắng đọc mà không hiểu, đành phải mượn một bản dịch ngoại ngữ khác, chẳng hạn bản dịch của T.H.”Chân Lý và Biểu Tượng” của Karl Jaspers !
    Kính chào chị.

  • Thân mến chào Bạn Văn Nghệ gần xa,

    Cụm từ “phát vãng”, nhiều người đọc báo chí Việt ngữ đã biết đến từ lâu. Điều này đúng như tác giả THÁI KIM LAN khẳng định.

    Còn nhớ trong truyện ngắn “Chiều Lạnh” của tác giả Bắc Đẩu (Tạp chí văn nghệ Tiền Phong, số 395/từ 1 đến 15.7.1992), đã dùng đến cụm từ “phát vãn”.

    Nhân dịp xin nói thêm vài cảm nghĩ, truyện ngắn “Chiều Lạnh” của Bắc Đẩu, hình như ít nhiều được viết theo thể trào phúng, có thêm vài nét châm biếm nạn tham nhũng có thể ảnh hưởng phong cách vở hài kịch “Quan Thanh Tra” của nhà văn/nhà viết kịch nổi tiếng Nikolai Gogol.

    Thiết nghĩ, cụm từ “phát vãng” dùng trong truyện ngắn “Chiều Lạnh” [một truyện ngắn nên đọc và nên chuyển ngữ !], tác giả Bắc Đẩu dùng gần đúng như cách hiểu bài viết trên.

    Xin cảm tạ Tạp chí Da Màu vì đã được tham gia góp vài ý kiến ngắn.

    Vân Võ Hoải Phương ( THỤY ĐIỂN )

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)