Trang chính » Chuyên Đề, Phụ Nữ & Giới Tính, Quan Điểm Email bài này

tự sự: thay lời bạt cho “thư gửi con”

4 bình luận ♦ 20.11.2011

 

LTS: Bài “Tự Sự” dưới đây do Thái Kim Lan viết thay cho lời bạt trong quyển Thư Gửi Con sẽ xuất bản ở Việt Nam, gồm những bức thư tác giả đã viết nguyên thủy bằng tiếng Đức gửi cho con gái là Thái Mai Lan bắt đầu từ thời ấu thơ, cùng những bút ký liên hệ đến tình mẹ con. “Tự sự” diễn tả cách người mẹ sửa soạn trí tuệ, tâm hồn, thể xác, và môi trường sống, để đón chào sự hiện diện của cô con gái trong đời mình.

“Một người bẩm sinh không là, mà sau mới trở thành đàn bà” (On ne naît pas femme, on le devient), Simone de Beauvoir đã nhận xét có phần nào cay đắng trong tác phẩm Le Deuxième Sexe (Phái Tính Thứ Nhì). Qua bài viết này, người đọc thấy rõ rằng mọi sự chăm sóc mà tác giả đã dành cho con gái thật ra không phân biệt giới tính, nhằm đào tạo một nền tảng tâm lý, trí tuệ và đạo đức vững chắc trong một mầm non, giúp nó giữ vững tinh thần trước mọi chi phối của môi trường xã hội bên ngoài gia đình. Thái Kim Lan viết: “Hơi người” hai chữ ấy thật ấm áp. Hơi người ở đây là tình người trong sự tin cẩn, trong sự chung nhau gìn giữ, nuôi nấng đời sống con người thật lành mạnh, tinh tấn mà không phung phí, không xa hoa. Tình ấy dính liền với từng hương thơm, từng hơi ấm kết tụ từ dòng sữa người mẹ, từ cử chỉ chăm nom trìu mến thận trọng của người chung quanh. Thật đẹp để nhận ra ý nghĩa nhân bản ấy trong cách cùng chung nhau nuôi nấng con người.” Qua lời diễn tả của tác giả, người đọc đã cảm nhận được định nghĩa “nữ quyền” rất sâu rộng của chị: nữ quyền chính là tình mẫu tử vô biên vô úy truyền giúp thế hệ hậu sinh –bất kể nam nữ – nhận thức được tiềm năng sung mãn nhất của kinh nghiệm làm người.

Thái Mai Lan, con gái của Thái Kim Lan, hiện đang điều phối chương trình Open Academy Europe tại Đại học Mỹ thuật Huế. Gần đây, cô đại diện Trung Tâm Văn Hóa Goethe (Đức quốc) điều phối các chương trình Liên Hoan Phim Đức tại những thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Sàigòn và Cần Thơ.

 

tkl and tml

Thái Kim Lan bế con gái Thái Mai Lan

 

Có thể nói tôi được làm mẹ trong một hoàn cảnh khá đặc biệt: sinh con ở trên đất khách, xa đại gia đình, xa mẹ và chị, những người phụ nữ thân yêu từng có kinh nghiệm đi trước. Chúng tôi quanh quẩn chỉ có một gia đình nhỏ trong xã hội Đức mà tôi chưa hoàn toàn hội nhập. Hơn một nửa người của mình còn mang nặng quãng đời niên thiếu ở quê hương Việt nam.

Trong thời gian du học, từ nửa thập niên 60, cho đến thập niên 70, sau đó hành nghề, tôi đã chứng kiến – còn là một kẻ ngoại cuộc – những buổi hội thảo rầm rộ tại các Đại học trên nhiều tiểu bang của CHLB Tây Đức do sinh viên Đức tổ chức. Bởi vì một trong những đề tài thảo luận sôi nổi nhất là về phong trào phụ nữ giải phóng, thời ấy ở Âu châu đang lên cao độ. Mọi vấn đề nam nữ trong xã hội được nêu lên công khai, trong đó ngoài vấn đề nam nữ bình quyền, một vấn đề khác cũng được thảo luận không kém sôi nổi: vấn đề giáo dục con cái theo phương pháp dùng quyền uy của cha mẹ hay phản quyền uy (antiautoritaer).

Khuynh hướng giáo dục phản quyền uy đến từ chủ trương giải phóng con người ra khỏi mọi ràng buộc hay áp bức xã hội đến từ truyền thống thế lực gia đình. Bắt nguồn từ chủ trương dân chủ theo hướng tự do là quyền bất khả xâm phạm của con người, từ quan niệm bình đẳng nam nữ, từ khoa phân tâm học về mặc cảm “Oedipus” hệ lụy phụ mẫu, từ khoa tâm thần học về hậu quả điên loạn của con cái do những áp bức gia đình….Phong trào phản đối đường lối giáo dục con cái khắt khe có thể bóp chết sáng tạo cá nhân hầu như nắm ưu thế và chủ trương mới đề nghị một lối giáo dục duy nhân bản nở rộ ở Âu châu.

Những bạn đồng nghiệp người Đức của tôi là những đệ tử trung thành của chủ trương ấy, đến nỗi họ run sợ trước một tiếng ho hay rớt nước mắt xúc động khi nghe tiếng cười của đứa con. Đứa con trở nên “ông vua hơn cả vua“ mới trong gia đình. Chưa bao giờ văn chương về những khủng hoảng trong tương quan mẹ con, cha con lại nở rộ trên thị trường sách báo văn học Âu châu như trong giai đoạn bấy giờ.

Trong hoàn cảnh ấy, tôi chuẩn bị sinh con. Dĩ nhiên điều trước tiên là tìm sách đọc để thu thập kinh nghiệm nuôi con, làm mẹ, tìm bạn bè cùng hoàn cảnh để trao đổi. Trong thời gian này, phong trào nữ giới tự lập đang là “mode“ của nữ lưu trí thức. Tôi còn nhớ đã ngạc nhiên khi nghe một anh bạn Đức phát biểu: “Phụ nữ đẹp nhất khi đang thời thai nghén,” “cái bầu của người phụ nữ” làm tăng vẻ đẹp đàn bà,” ngược hẳn với quan niệm thẩm mỹ mà tôi mang theo từ Việt nam cho rằng “cái bụng bầu“ làm mất vẻ đẹp của người đàn bà. Người phụ nữ mang bầu là phải “trốn,” tránh đám đông với lý lẽ phản khoa học: ra đường gặp đàn bà đã xui mà gặp phụ nữ mang bầu còn xui hơn. Từ đó tôi đã sửa cái nhìn thẩm mỹ về phụ nữ, không còn theo quan niệm kỳ dị ấy và đã sửa con mắt của mình, không dùng con mắt nam giới nhìn phụ nữ như một đối tượng phụ thuộc phái nam về sắc đẹp hay giới tính.

Tôi còn nhớ cô bạn gái của tôi đã hãnh diện thế nào khi chính chị chọn lựa đứa con cho mình, chứ không phải cho gia đình, cho chồng và tuyên bố thẳng thừng trước mẹ của mình,- điều mà tôi không thể nói với mẹ tôi: "Ich will nicht so werden wie meine Mutter" (Tôi không muốn trở thành một người như mẹ tôi) và những bà mẹ cũng tuyên bố: "Ich wollte meine Tochter nicht so erziehen, wie ich erzogen worden bin".(Tôi đã không muốn giáo dục con gái tôi như tôi đã được – hay bị- giáo dục). Mọi cấm kỵ về tương quan mẹ- con đều bị hạ bệ, điều mà tôi- khác với chị bạn người Đức- khó làm.

Cùng chung cảnh ngộ đang trở thành mẹ, chúng tôi đã hăng say trao đổi sách vở về phương pháp dưỡng thai, nuôi con, dạy con, với tâm trạng hưng phấn về đứa con. Tất cả những gì hay nhất tốt nhất làm cho đứa con khoẻ mạnh, hạnh phúc đều được nghiền ngẫm và trở nên một đam mê. Những nghiên cứu sinh lý, tâm lý về mẹ con đều được tham khảo. Chúng tôi, những bà mẹ mang bầu, đã hạnh phúc vô vàn trong viễn tượng làm mẹ, hồi hộp chờ ngày sinh con.

Nhưng trong lúc người bạn gái Đức của tôi muốn chứng tỏ cho gia đình vị trí độc lập của chị trong việc có con, nuôi con, và lắm lúc rất tàn nhẫn đối với bà mẹ, tôi vẫn là một phụ nữ Việt nam “thủ cựu.” Tôi thủ cựu cái chất Việt nam đã được nhào nặn trong tôi từ thời niên thiếu.

Như một bản năng tự vệ, trong môi trường xa lạ ở nước người, tôi “thủ cựu” những gì mà bà tôi, mẹ tôi, chị tôi đã truyền lại qua hành động của họ đối với gia đình, mặc dù không phải tất cả những gì tôi mang theo trong hành lý tinh thần, đều là toàn hảo.

Có lẽ hai điều quan trọng đã theo tôi trong suốt hành trình xa nhà: Vẻ đẹp cao thượng của người phụ nữ VN theo nề nếp gia đình vẫn thường chiếu sáng tâm hồn tôi trong những ngày trên đất lạ – nhớ nhà là nhớ nồi cơm của mẹ, mặc dù trong gia đình tôi nổi tiếng là đứa hay phản kháng, nhăn nhó với mẹ, nhớ đức kiên nhẫn chịu thương chịu khó của mẹ của bà qua bao thế hệ – và song song với vẻ đẹp ấy, tri thức tôi có được từ gia tài tư tưởng Tây phương, những tiến bộ của khoa học trong thời gian học và dạy, trong đó vấn đề bình đẳng nam nữ trên phương diện tư tưởng đã gặp khái niệm khai sáng của triết lý Phật giáo.

Thêm một điều rất may, bên cạnh ấy, sự tìm tòi nghiên cứu và thực hành đạo Phật đã cho tôi nhiều tự tin và hành thâm ý nghĩa của tình thương. Trong khoảng thời gian chuần bị sinh con, tôi vẫn đi dạy môn triết học so sánh và hướng dẫn các khoá học Thiền cho sinh viên Đức. Đây đã là cơ hộ quý báu trao đổi sống động về nhân sinh quan Đông-Tây. Đồng thời tôi tiếp tục những hoạt động trong trung tâm Giao lưu Đức Á do tôi cùng với những người bạn Đức và Á châu thành lập hai năm trước khi sinh con. Một trung tâm lấy Thiền làm cơ sở tinh thần và hoạt động tương trợ xã hội cho người nước ngoài làm mục đích.

Tất cả những điều ấy làm cho tôi khác với những người bạn gái Đức trong cách ứng xử của người phụ nữ, nhưng tôi biết tôi đã nợ những người bạn này, nhờ họ mà tôi điều chỉnh được những thiên kiến về thân phận người phụ nữ, nhìn lại vai trò của những thế hệ đi trước và khám phá những giá trị nhân bản mới của người phụ nữ, người mẹ, người chị, người con.

Có lẽ chưa bao giờ cảm giác “là người phụ nữ” đến với tôi đầy tròn đến thế như trong thời gian sắp sửa làm mẹ. Có một năng lực sống mới chảy bừng trong thân thể đến lạ kỳ. Chưa bao giờ tôi thấy mình lạc quan và hưng phấn đến thế. Mọi buồn chán, uể oải, những nghi vấn, những nhàm chán hiện sinh, cảm giác thấy đời sống đôi khi trống rỗng biến mất nhường chỗ cho sự hăng hái làm việc không mệt mỏi.

Sau ba tháng đầu bị đảo lộn vì cơ thể thay đổi, những tháng sau tôi thấy sức lực của mình như được tăng gấp đôi mà không cần một loại thuốc bổ dưỡng nào. Những hiện tượng đau yếu khắc khoải về thể xác cũng biến mất. Công việc nghiên cứu tại các thư viện quốc gia tiếp tục đều đặn, tôi đi Paris để thăm thư viện quốc gia tìm tài liệu cho đề tài đang khảo cứu, mà tựa như đi dạo trong vườn. Tôi có thể ngồi đọc tài liệu hàng giờ mà không mỏi mệt. Có lẽ vì thế mà con tôi sau này mê đọc sách hơn bất cứ thứ gì chăng?

Trở về lại Muenchen, tôi tiếp tục hướng dẫn lớp ngồi Thiền đều đặn chăm chỉ, cho đến tận ngày sinh con.

Sau này, tôi thường giải thích với bạn bè, con tôi “thương Phật” trong tự tính bẩm sinh của nó mà tôi không cần phải khổ công uốn nắn hay răn dạy, phần nào có lẽ cũng do trong thời gian mang thai, tôi đã giảng dạy về Phật học và ngồi Thiền không ngừng nghỉ …. Ngay cả hai tuần trước khi sanh, bác sĩ cấm không được hoạt động nhiều, tôi lợi dụng thì giờ nghỉ dạy ở trường để hoàn tất một cuốn sách nấu ăn theo yêu cầu của một nhà xuất bản Đức. Lạ thay sau này Mai Lan cũng thích xem những mục biểu diễn nấu ăn và cũng thích nấu các món ăn như mẹ và bà.

Trước ngày sanh một hôm, tôi còn ngồi Thiền định với sinh viên tại Trung Tâm Giao Lưu Đức Á.

Không có bà, mẹ và chị bên cạnh, ở nơi đất lạ, tôi tìm đến bạn và mẹ của bạn để học hỏi thêm kinh nghiệm trong lúc chuẩn bị sinh con.

Những trao đổi này cho chúng tôi ý thức rõ hơn, tình trạng tâm sinh lý của người mẹ trong lúc mang thai ảnh hưởng không ít đến tính tình của người con. Chúng tôi đã lựa chọn những thức ăn, thức uống, cố gắng giữ đời sống tinh thần quân bình trong lúc mang thai để “nhắn gửi“ và chuyện trò với bào thai của mình, hầu tạo một đồng điệu sau này. Tôi còn nhớ, theo lời hướng dẫn trong sách của bác sĩ Dr M. Stellmann, một bác sĩ tiên tiến theo trường phái “nhân tính học,”- Anthroposophie- do R. Steiner khởi xướng, tôi đã bỏ công đi tìm vải lụa màu xanh da trời và màu đỏ, mà theo sách, đó là màu của bào thai, đem về hì hục tự may lấy tấm màn vây quanh nôi của con. Theo quan niệm của trường phái này, đứa con khi mới mở mắt chào đời, sẽ không bị giật mình hoảng sợ nếu những cái nhìn đầu tiên được va chạm với màu sắc mà nó đã “nghe,” đã được “sờ” trong thời gian còn nằm trong bụng mẹ.

Cũng thế, thay vì sắm một cái nôi theo kiểu Tây phương, đầy tiện nghi màng mùng hiện đại, tôi tìm cho bằng được một cái nôi bằng tre, một cái nôi Việt nam y như ở làng quê, buộc bốn tao nôi. Chồng tôi phải nhờ anh bạn Đức ở cùng nhà hì hục treo từ trần nhà để ru con. Dạo ấy, những người bạn đồng nghiệp đến thăm, ai cũng phải vào xem “cảnh tượng lạ” này: một cái nôi tre Việt nam đong đưa một đứa bé ngủ ngon lành trong nôi giữa gian phòng Tây Âu.

Theo nghiên cứu của bác sĩ Stellmann – tôi vui mừng vì ông nói không khác kinh nghiệm người Việt nam xưa- đứa con mới lọt lòng cần được “ru“ trong cảm giác bồng bềnh như khi còn nằm trong bụng mẹ. Ru con là cách dẫn dắt êm ái nhất để đứa bé làm quen với không gian thế giới bên ngoài. Cho nên, để đứa con khỏi bị “sốc“ từ cảm giác được che chở hoàn toàn trong bụng mẹ, cần tránh cảm giác như bị lôi ra, quăng ra trần truồng vào thế giới bên ngoài một cách phũ phàng, có thể phương hại về tâm lý trẻ sơ sinh, gây nên sợ hãi lo âu trong vô thức của đứa bé. Và như thế tôi đã ru con trong căn nhà Tây và … lời ru đầu tiên là lời ru mà tôi đã được nghe khi lọt lòng: „Ru em cho thét cho muồi, để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu…“Ru em cho đến làng Hồ, em mua trái mít em bồ trái thơm“ giữa những tiếng xi lô xi la xa lạ đang bao quanh.

Sách vở thì nhiều, lời khuyên cũng lắm. Từ những thập niên 60, 70, 80 cùng với sự đổi mới vai trò của người phụ nữ trong xã hội, từ nội trợ trở nên công nhân, thư ký, nhà giáo, kỹ sư, giám đốc … càng ngày càng nhiều, việc nuôi con bằng sữa bò thoạt tiên được ủng hộ hầu như triệt để ở các tầng lớp phụ nữ trung lưu, nhất là ở thành phố. Hiệu quả tiết kiệm thì giờ, công sức, sức khoẻ cho người mẹ hầu như được đề cao. Hơn thế nữa công nghệ sữa hộp đã khôn ngoan nhắm yếu điểm của người phu nữ khi quảng cáo nuôi con bằng sữa bò, người mẹ sẽ bảo vệ được sắc đẹp vòng ngực phụ nữ, bảo đảm hạnh phúc gia đình.

Tuy nhiên, cùng lúc với phong trào giải phóng phụ nữ tại Âu châu và trào lưu trở về với thiên nhiên, với kinh nghiệm truyền thống, những điểm tiêu cực trong việc nuôi con bằng sữa bò được đem ra thảo luận. Ví dụ sửa bò không bằng sửa mẹ vì thiếu chất đề kháng. Cho con bú bình sữa không tiết kiệm thì giờ mà ngược lại bình sửa phải đem theo những lúc đi xa gây nhiều phiền toái hơn bầu vú mẹ luôn luôn cận kề với con. Sự ô nhiễm môi trường và môi sinh ảnh hưởng lên thức ăn gia súc và từ đó làm giảm chất lượng dinh dưỡng tốt. Trên phương diện tâm lý, đứa trẻ được nuôi bằng sữa bò có thể thiếu hơi ấm áp, trìu mến của da thịt người mẹ. Thói quen phụ thuộc vào bình sữa vô hồn sẽ ảnh hưởng đến tính tình của đứa con, đứa con có thể mang cảm giác thiếu thốn tình thương, cô đơn, thiếu tự tin về sau…

Chúng tôi triệt để thực hành những lời khuyên mà chúng tôi nghĩ là bổ ích nhất cho đứa con … với tư thế hầu như của một tín đồ … vì con và cho con.

Vào thời điểm ấy, phong trào nuôi con bằng sữa mẹ được đề cao và ủng hộ như một cuộc cách tân. Nuôi con bằng sữa mẹ được xem là cách nuôi con tốt nhất. Sữa mẹ là dòng sữa hiền lành nhất, bổ nhất, tinh khiết nhất trong tất cả các thứ sữa, nhất là những giọt sữa đậm đặc khi con vừa mới lọt lòng, đó là những giọt sữa mang sức sống lành nhất cho bé sơ sinh. Sữa mẹ lại là sản phẩm dinh dưỡng kinh tế, tiết kiệm thời gian (khỏi phải tốn công hâm nóng). Có thể nói trong thập niên 80, người mẹ „mới“ tìm lại nét đẹp phụ nữ ngay trong cách tự mình cho con bú mà không có cảm giác bị cho là cổ hủ.

Bạn gái tôi, Christine, và tôi chọn cách cho con bú. Tôi chọn lựa cách này theo trực giác nhiều hơn theo suy luận. Có gì tự nhiên và như nhiên hơn chuyện mẹ cho con bú? Khi tỉnh giấc sau cuộc phẫu thuật có đánh thuốc mê, việc đầu tiên là nặn những giọt sữa đầu tiên cho con bú, rồi lại chìm vào cơn mê. Trong mê, cảm giác hạnh phúc tràn trề dù vết cắt da thịt rát đau.

Các bà mẹ ở Việt nam theo truyền thống đã làm khác hơn tôi đã làm. Tôi không theo phương pháp hơ hấp vú sữa bằng lá trầu như ở Việt nam mà hoàn toàn theo cách tự nhiên: cho con bú sữa còn tươi, mà các bà mẹ gọi là sữa còn sống, vì không được “hơ háp” theo cách cổ truyền. Ai ngờ sữa sống lại chứa nhiều chất dinh dưỡng cũng như kháng tố cần thiết cho bé sơ sinh và người mẹ lại được bảo vệ hình dáng chứ không như con bò bị vắt sữa!

Khi cho con bú, người mẹ cẩn thận hơn đối với các thức ăn, ý thức hơn đối với thức uống. Cho con bú tự nhiên nhưng cũng đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và lắm khi là một nghệ thuật.

Không phải chỉ dựa vào thời khoá biểu sáng trưa chiều mà tùy lòng, lòng mẹ và lòng con. Sự sẵn sàng “luôn ở đó” cho con không có nghĩa làm cho con hư- bé sơ sinh thì làm sao mà hư được?- mà là tín hiệu không lời cho con cảm giác luôn luôn được bao bọc, không bị bỏ rơi.

Trong những tháng đầu của trẻ sơ sinh, cảm giác ấm áp xác thịt thật là quan trọng. Có lẽ tôi hơn cô bạn của tôi ở tính nhẫn nại cho con bú cho đến lúc nào nó”đã thèm” mới thôi. Có nghĩa bú hàng giờ cho đến khi hết sữa trong thời khắc ấy.

Mai Lan đã được phép bú mẹ hàng giờ, vì thế em không bao giờ cần đến nắm vú cao su mà các bà mẹ thường nhét vào miệng con để con khỏi khóc đòi. Một thứ vú giả vô cảm như thế nếu có ai đưa cho bé Mai Lan là bé phun ra ngay. Em lại được bố luôn bồng ẵm, thay tã, ôm ấp, ru cho ngủ …. Những tháng đầu tiên, hình như em rất bằng lòng và … thích thú. Em không khóc nhè mà luôn cười vui bi bô, ngủ yên và thoải mái, phát âm rõ và sớm so với những trẻ em khác. Đến nỗi những người bạn Đức thường ngạc nhiên về sự hiện diện êm đềm của đứa bé trong nhà. Họ ngạc nhiên hơn nữa là em được ngủ chung với ba mẹ ban đêm, nằm nôi ban ngày mà thôi, cho nên khi đòi bú nửa khuya là có ngay.

Áo quần, “ổ nằm” cho bé cũng là một đề tài cho các bà mẹ đang chuẩn bị sinh nở. Chúng tôi tìm mua cho được tấm nệm lót nôi được bọc bằng vải bông mềm, nệm được bện bằng một lớp lông ngựa đã được tẩy sạch, bọc ngoài bằng bao sợi vài cô tông đã được làm mền, có chức năng thoáng mát chứ không bí bít như nệm ni lông có thể làm hầm da. Mùa lạnh đã được mẹ cho mặc những cái áo bằng sợi len cừu nguyên chất, rất đơn giản, không xa xỉ. Xuân hạ thì mặc áo sợi bông (coton) hay áo tơ tằm. Kiểu may đơn giản không cầu kỳ thêu ren, nhưng vẫn mỹ thuật và hợp với tâm tình của đứa trẻ.

Mẹ của cô bạn tôi thấy tôi xa nhà, xa đại gia đình thì thương và nâng đỡ nhiệt tình. Bà đã trấn an tôi khi con lên bang lên sưởi, cho tôi những lời khuyên qúi báu về các chứng bệnh của trẻ sơ sinh, ngoài lời khuyên của bác sĩ. Ngoài ra bà còn “tiếp viện” cho tôi những tã lót, khăn lót nôi, áo quần bé sơ sinh, xe đẩy trẻ em mà bà còn giữ lại từ những đứa con ngày trước. Bà bảo rằng áo quần cũ cho trẻ tốt hơn là áo mới vì chúng có…hơi người…

Hoá ra tâm tình những bà mẹ dù Đông hay Tây ở đâu cũng giống nhau.

Chữ tình là chữ khởi đầu trong sự nuôi con!

“Hơi người” hai chữ ấy thật ấm áp. Hơi người ở đây là tình người trong sự tin cẩn, trong sự chung nhau gìn giữ, nuôi nấng đời sống con người thật lành mạnh, tinh tấn mà không phung phí, không xa hoa. Tình ấy dính liền với từng hương thơm, từng hơi ấm kết tụ từ dòng sữa người mẹ, từ cử chỉ chăm nom trìu mến thận trọng của người chung quanh. Thật đẹp để nhận ra ý nghĩa nhân bản ấy trong cách cùng chung nhau nuôi nấng con người, trong hoàn cảnh của một người tha hương.Tôi đã giữ những tấm tã lót ấy cho đến khi chuyền lại cho bạn bè sinh nở sau tôi.

Mà sự thật thì những thứ gọi là cũ nhưng lại mới vô cùng, mới vì không có những thứ pha tạp giả dối của các sản phẩm pha chế hoá học, màu sắc diêm dúa loè loẹt chỉ chuộng bề ngoài. Đường kim mũi chỉ của mỗi chiếc áo, mỗi tấm tả lót còn mang sự cẩn trọng thiết tha của người may ra áo, tất cả dụng tâm đùm bọc lẫn nhau. Niềm vui có một đứa con hầu như đều được những người bạn Đức chia chung nhà ở với chúng tôi san sẻ. Trong khi tôi còn nằm trong bệnh viện, các bạn ở chung nhà đã cùng với chồng tôi lo dọn dẹp nhà cửa thật sạch. Nhất là sàn gỗ cũ mà từ trước chẳng có ai nghĩ đến phải đánh bóng, vì đó là một công việc vừa bụi bặm vừa mất thì giờ. Vậy mà tưởng tượng hình ảnh đứa bé sẽ bò khắp nhà trước khi đứng và đi đã thúc dục các bạn Đức cùng nhà xúm nhau thuê máy về đánh bóng, sơn trần nhà, treo nôi, suốt cả tuần sau giờ làm việc. Tất cả vì một đứa bé! Đến khi tôi cùng con trở lại nhà thì mọi góc nhà đều sáng bóng và sau này bé Mai Lan đã thoả thích bò khắp nơi.

Mai Lan đã được thừa hưởng hơi ấm tình những người chung quanh từ lúc mở mẳt chào đời như thế. Lòng tri ân những người bạn, nay có người đã thành thiên cổ, vẫn dạt dào trong tôi mỗi khi nhớ đến những năm tháng ấy.

Thập niên 80 cũng là thập niên của những báo động ô nhiễm môi truờng môi sinh trên thế giới. Người Đức có lẽ là dân tộc nhạy cảm nhất về vấn đề này. Có thể nói nước Đức (lúc ấy là Tây Đức) là một trong những nước tiên tiến trong chính sách môi trường môi sinh, khởi từ những thảo luận và những sáng kiến cá nhân. Phòng trào bảo vệ môi sinh chú trọng đến thực phẩm, thức ăn sạch, điều kiện tiên quyết bảo vệ sức khoẻ. Những sáng kiến cá nhân về chăn nuôi không dùng phân bón hoá học, thức ăn súc vật như cỏ, bắp, rau cải không dùng thuốc trừ sâu bọ …, đã manh nha và được quần chúng hưởng ứng. Một số trí thức và tầng lớp thượng lưu hưởng ứng phong trào này. Sự hưởng ứng của họ thoạt tiên bị phê phán như là một thứ “snob”, kiểu chơi trội, trưởng giả trở lại đồng quê …. Những sản phẩm chọn lọc này lại đắt tiền hơn thực phẩm chế biến thường, tuy nhiên nhu cầu sống sạch trở nên càng ngày càng thiết yếu cho con người. Đến nay càng trở nên cấp bách hơn so với nguy cơ tàn phá môi sinh và sự vô ý thức và vô đạo đức của những người sản xuất.

Chúng tôi không thuộc tầng lớp nào, lại vừa đi làm được vài năm, tiền dành dụm chưa có bao lăm, nhưng đối với đứa con mới sinh, chỉ mong muốn cho con được sức khoẻ bao lâu bé còn nằm trong tay mình. Vì thế chúng tôi nhịn bớt vài thứ – như tôi nhịn không mua áo đẹp! và còn cương quyết hơn chồng – đi tìm mua cho được sữa tươi của giống bò được nuôi bằng cỏ sạch, sau khi con dứt sữa mẹ. Dù đường đi ra tiệm ấy có xa gấp đôi gấp ba những tiệm gần nhà, tôi cũng lặn lội đi mua cho bằng được. Bột ngũ cốc cũng được chọn lựa theo tiêu chuẩn sạch ấy. Bình sữa của Mai Lan gồm sữa bò, bột ngũ cốc, mật ong, chứ không dùng đường trắng. Từ khi sinh ra cho đến lúc hai tuổi, sự dinh dưỡng của bé được chăm sóc cẩn thận, nhất là các thứ nước ngọt hay đường trắng, kẹo ngọt đều tránh không dùng. Đến hai tuổi bé Mai Lan chưa biết ăn kẹo và khó có ai dỗ ngọt bé bằng kẹo, đơn giản vì bé không biết kẹo là gì. Mai Lan được cưng chiều bằng sự chăm sóc trìu mến, bằng lời nói dễ nghe, bằng sự ân cần nơi từng ánh mắt, bằng thức ăn do mẹ và ba chọn lựa mà không nài ép, không dùng kẹo ngọt để dỗ dành, để nín khóc, bởi vì bé được nuôi “ngon”!

Tuy nhiên chế độ ăn uống này chấm dứt một phần khi đại gia đình tôi được đoàn tụ. Mai Lan được 2 tuổi. Mẹ tôi cùng với các cháu sang định cư tại Đức cùng với chúng tôi. Mai Lan được hưởng sự ấm áp của đại gia đình, nhất là tình thương của bà ngoại. Nhưng cũng từ đó, việc kiểm soát ăn uống của bé lại chịu ảnh hưởng của bà ngoại, với những tập quán và nhu cầu của người đi từ Viêt nam thập niên 80, mà hiện tượng nổi bật là thích kẹo tây. Cũng từ đó, “cái kẹo ngọt” của bà ngoại là thú vui mà hai bà cháu ngày ngày tỉ tê với nhau, những bánh ngọt, chips khoai tây, bánh rán…đối với người từ Việt nam sang là những vị cám dỗ, dĩ nhiên cũng được Mai Lan hưởng ứng và là nỗi bận tâm không nhỏ đối với tôi. Nhưng làm sao có thể giữ con hoàn toàn vô nhiễm đối với thế giới bên ngoài?

Đứa con ấy không thể chỉ giữ được một mình như một sản phẩm riêng, nó ra đời cùng với mọi người chung quanh như một chuỗi nhân duyên quấn quýt, trong đó chính nó, bằng trực giác, bằng nhạy cảm với thế giới chung quanh, quyết định một phần sự hình thành con người khi bắt đầu có nhận thức và cha mẹ là người chăn giữ để con đừng té đau, ngã nặng. Nếu nó chia sẻ tiếng nói, nụ cười với người chung quanh, và khoẻ mạnh sống, thì không nên dùng qui luật quá khắt khe để đè nặng tâm trí nó, gây mặc cảm. Nếu nó khiếm khuyết thì cũng đừng dằn vặt xem đó là một lỗi lầm không thế tha thứ. Trong chuỗi nhân duyên không thể tránh, thì bổn phận khai phóng cho đứa trẻ được “tự do” khỏi mọi chấp chặt giáo điều, khư khư dành phần thắng, đồng thời với phát triển tình thương thật quan trọng cho hoà bình nội tâm của đứa trẻ.

Biết bao trăn trở, cuối cùng, tôi đã chọn nhìn ảnh hưởng của bà ngoại đối với bé Mai Lan trong tình thương quan trọng hơn là cái kẹo mà bà thường dấu đàng sau lưng để dành cho Mai Lan. Với ngoại, Mai Lan đã học nói tiếng Huế thật nhuần nhuyễn, gọi là giọng Huế đặc sệt. Có lẽ em là đứa bé tiêu biểu lớn lên bằng hai ngôn ngữ mà không có vấn đề trở ngại về trí tuệ như tôi đã lo âu. Ngược lại, nhờ đó bản ngã của đứa bé thấm đượm được những khả năng vượt giới hạn, và trải nghiệm tự do vượt hàng rào ngôn ngữ được thực chứng trong chính tâm khảm của nó.

Tôi quan niệm rằng, từ khi mới sinh ra cho đến lúc hai tuổi, đứa con cần được đắp một cái nền tinh thần cũng như thể xác bằng tình thương trìu mến bao dung và sự thận trọng dinh dưỡng thì khó có điều gì ngoại lai có thể xô ngã bàn chất đã được hình thành. Cho nên những gì Mai Lan học được hay bị ảnh hưởng của bà ngoại, tôi không vội vàng chống đối hay tranh đấu như những người bạn của tôi, thường xem sự can thiệp của mẹ mình như là một tổn thương cho đứa bé và quyết liệt cắt đứt mọi ảnh hưởng của thê hệ trước.

Đối với tôi, điều quan trọng nhất cho một đứa bé ngoài dinh dưỡng là cuộc đối thoại không ngừng, một thứ truyền thông (communication) không chỉ qua lời nói, âm thanh ngôn từ mà còn cử chỉ, cách đối xử, thái độ sống, ngay cả nét mặt, sắc diện, hơi thở, không gian sống, nói chung, ba yếu tố ngôn ngữ, diện mạo thể xác cũng như môi trường xã hội cần hoà quyện với nhau và người mẹ trong mỗi tình huống ý thức rõ sự hoà điệu là điều thật quan trọng cho sự khôn lớn của đứa con.

Chia sẻ quan điểm giáo dục “phản quyền uy”, đồng thời tham chiếu một phần những tư tưởng của trường phái “nhân tính học” (Anthroposophie) của R. Steiner, và nhất là vẫn luôn có sự sử dụng đối chiếu tinh thần khai sáng Tây phương và khai sáng đốn ngộ của Phật giáo, tôi áp dụng phương cách “nói với con,” ngay từ khi con chưa biết nói và bắt đầu biết nói. Tất cả những câu chuyện bình thường, những chợt thấy trên đường đi, vẻ đẹp của mặt trời mọc hay bóng trăng rọi lên tường, lá vàng rụng trước sân, thoáng gió bay qua, tôi đều gây chú ý cho con để con nhận biết và cùng tham dự cảm nhận. Tấm vải thêu bướm, hoa, chim, cá, cỏ dại treo trong phòng là hình ảnh đơn giản cho em tập nói và nhận diện sự vật với vô số câu chuyện kèm theo. Lên ba em đã thuộc làu làu “cái cò cái vạc cái nông”, “con cò mày đi ăn đêm”, “công cha như núi Thái Sơn….” Em cũng được tham dự … như một “người”… lớn (mà chưa lớn) trong mọi buổi gặp gỡ ngoài xã hội, trừ những nơi ồn ào, đầy khói thuốc ô nhiễm môi sinh. Từ lúc nằm nôi cho đến khi đi học, Mai Lan được mẹ đem theo vào trường học trong giờ dạy mà không quấy rầy- nước Đức là nước hiếm trẻ con nhưng trẻ con lại được yêu mến và quí trọng – những khoá thiền dành cho sinh viên thường có mặt một đứa bé con, cũng nghiêm trang nhìn và bắt chước thực hành im lặng (tuy không lâu) cùng với mọi người.

Đứa con đã có cảm giác tham dự trong xã hội bình thường như tất cả mọi người.

Tôi đã quyết định không cho con đi học trường đặc biệt “Walddorfschule” (theo chủ trương của R. Steiner, phái nhân tính học) như một số bạn bè chống giáo dục phản quyền uy đã làm, một trường đặc biệt với phương pháp giáo dục chọn lọc năng khiếu đứa trẻ. Tôi quan niệm Mai Lan cần “ở giữa” các tầng lớp thanh thiếu niên, cùng ganh đua bình thường với những bạn bè từ mọi tầng lớp trong xã hội. Sự quân bình tâm lý của đứa trẻ sẽ được ổn định hơn là cho con cảm giác như một đối tượng đặc biệt trong xã hội, một thứ “gà nòi” mất thăng bằng nội tâm, được nuôi trong lồng kín, có tính phi xã hội (Walddorfschule sau này đã sửa đổi phần nào yếu tố này cũng như phương pháp, các bộ môn thích ứng với xã hội hơn). Ít nhiều, em đã được trang bị một “tâm không phân biệt” ngay trong “chim có đàn, ngựa có bạn,” đồng thời phát huy năng khiếu cũng như sự truy nhận tập thể thanh thiếu niên cùng tuổi.

Trở lại chuyện “truyền thông” như phương pháp hướng dẫn đứa con của mình mà tôi đã nêu trên. Cũng chính nhờ “kể chuyện” mà Mai Lan theo mẹ và thương luôn quê hương của mẹ. Đó là một tình cảm lạ kỳ đến từ cảm thông (Mitgefuehl). Những cuộc trở về thăm Huế với mẹ, Mai Lan có dịp nhìn thấy con trâu “thiệt” đang ăn ở cánh đồng, người đi cày trong chuyện cổ tích “túi khôn của loài người”…con tôm sống thay vì “sự tích “con tôm vàng”….

Không cần những điều nghiêm trọng. Chỉ cần nói với nhau những mẫu chuyện vu vơ như trong cuốn sách này.

Khác với những gia đình Việt nam lo sợ con không nói giỏi tiếng Đức nên tránh nói tiếng Việt với con, Mai Lan được nghe thanh âm tiếng Việt ngay từ khi được sinh ra, bởi vì biết rằng sau này khi theo học trường Đức, em sẽ khó có cơ hội tập chuẩn tiếng Việt, trường hợp thường xảy ra cho các em nhỏ Việt nam khác. Quanh em hàng ngày mọi người đều nói tiếng Đức, nên chúng tôi tiên quyết nói tiếng Việt với con.

Có lẽ đây là điểm quan trọng nhất trong quá trình nuôi con, tôi kiên nhẫn và kiên trì, không sợ phí hay mất thì giờ – chỉ sợ e không đủ – chuyện trò với con, tập cho con “nhìn”, chú ý đến từng đồ vật. Từ đó trau dồi dần dần cho con quan sát mọi việc chung quanh, tập lý luận và tự do phát biểu độc lập, tự chủ, không bị áp lực của cha mẹ, chỉ bằng vào tri giác quan sát, óc suy đoán từ đơn giản cho đến phức tạp, nói thẳng và thành thật, vì biết sẽ không bị trừng phạt bằng vũ lực, không sợ hãi. Và nhất là tập tính thương người, thương loài vật. Mai Lan dễ mủi lòng và thương loài vật đến ngạc nhiên. Lên hai em đã không cho mẹ đập con muỗi cắn mình, sợ tội con muỗi!

Tự do, tự chủ, độc lập nhưng không bị lạm dụng trở nên vô kỷ cương, Mai Lan thường được mẹ chỉ rõ đến một mức nào đó, sau tất cả mọi lý luận phải trái, cha mẹ mang biểu tượng chấm dứt mọi tranh cãi bằng vô ngôn thương yêu, chứ không phải bằng kỷ lụât. Sức mạnh thuyết phục đến từ tự nguyện mà không cần bị bắt buộc do quyền uy từ bên ngoài. Tự nguyện là một thứ trực giác nội tại, có thể phát huy và nẩy nở sáng tạo sau khi đứa trẻ được hướng dẫn khả năng bày tỏ ý kiến, cảm nghĩ và ước nguyện của nó qua ngôn ngữ, qua thái độ ứng xử trong môi trường xã hội.

Có thể nói trực giác tự nguyện trong mỗi đứa trẻ là điểm hội nhập tình thương và thông tuệ. Có những điều mà mỗi người sống trong xã hội tự nguyện thực hiện mà không cần phải huấn luyện một cách giả tạo, đó là đạo lý trong gia đình, sự kính trên nhường dưới. Về điểm này, tôi theo truyền thống gia đình Việt nam, hướng dẫn cho con biết trọng người già, thương yêu người thân.

Trước khi gặp mặt những người thân trong gia đình, em đã được mẹ “kể chuyện” cho nghe về từng người, nét chấm phá diện mạo, sở thích… Sự làm quen trong trí tưởng tượng này giúp đứa trẻ không bị lạ, không sợ hãi, e dè trước người chưa quen, phát triển tình cảm thân thuộc, trìu mến, quyến luyến với mỗi người. Suốt 15 năm được sống với Bà, được kề cạnh tấm gương hi sinh không quản ngại, chăm chỉ siêng năng của Bà luôn muốn là có ích cho con cái trong bất kỳ một công việc nhỏ nhặt nào. Được hưởng tình thương tràn đầy không cần lý luận (như tôi đang lý luận), Mai Lan và các anh chị em đã xem “mệnh lệnh” của Bà hầu như tuyệt đối. Khi Bà cần điều gì là lũ nhỏ bỏ tất cả để làm theo Bà dặn. Thật đẹp để chứng kiến những giây phút ấy trong một căn nhà Việt nam ở phương trời Tây.

Phải chăng Việt nam khác Tây ở điểm này?

Tự sự có thể triền miên với những câu chuyện khác biệt giáo dục Đông Tây nhưng sẽ vượt khỏi giới hạn của cuốn sách nhỏ bé này. Có thể trong một cuốn sách sau.

bài đã đăng của Thái Kim Lan


4 Bình luận »

  • namgiao says:

    Đọc bài viết của chị Kim Lan tôi cảm động quá. Thật là dễ thương. Tui như được sống lại thời thơ ấu ấm cúng của xứ Huế. Cách chị nuôi dạy con là cách xưa của người phụ nữ VN nói chung và phụ nữ Huế nói riêng, nhưng với một tâm cảm trách nhiệm mới của con người thời đại. Tôi tâm đắc nhất là chị đã để cho con nhỏ mình thấm đậm tình bà cháu, tình cảm này nồng nàn ấm áp cho con trẻ biết bao. Thật khiến cho người ta rưng rưng. Rất là Huế. Những người mẹ trẻ cần đọc bài này. Việc trước tiên là tôi gửi cho con gái tôi đọc, cháu đang mang bầu đứa con đầu lòng và đang ở giữa Sài gòn với những tiện nghi hào nhoáng ồ ạt. Cám ơn chị Kim Lan

  • “ra đường gặp đàn bà đã xui mà gặp phụ nữ mang bầu còn xui hơn. Từ đó tôi đã sửa cái nhìn thẩm mỹ về phụ nữ,…” (TKL)

    Quả đúng là có quan niệm nầy thật. Nhưng tui nghĩ sự thể không đến nỗi. Mặt nào đó, người Việt hay nói lối nhắc khéo hoặc “đau nam chửa bắc”. Sự thật, người phụ nữ VN có bầu mà nhà nghèo vẫn được mọi người chung quanh để ý nhắc nhở cách đi đứng, ăn mặc hoặc tắm gội v.v…

    Bài viết của tác giả Thái Kim Lan thật công phu mà hay.

  • Thường Quán says:

    Cuộc exodus của người Việt từ Nam chí Bắc sau 1975 [Nam trước, Bắc sau] đã tạo những tác động rộng lớn trong và ngoài nước. Lần đầu tiên kinh nghiệm sống lìa quê hương được âm thầm chia sẻ ở con số đông đảo, nghìn, vạn, rồi triệu người. Âm thầm, những nỗ lực làm việc, nuôi nấng và giáo dục con cái, trong một môi trường hoàn toàn mới lạ. Bài tự sự lôi cuốn. Kalil Gibran: “con cái đi qua chúng ta, chứ không phải từ chúng ta mà ra.” Steiner, Phật giáo, Kant và Schopenhauer, và folk wisdom của người Việt – một cộng hợp khác thường cho một nền giáo dục đáp ứng thực tại mới. Trong chia lìa của exodus, chúng ta đã có những thu hoạch, bù trừ. Tôi chờ đợi cuốn sách của chị Thái Kim Lan.

  • Trí Tín says:

    Ứng dụng triết lý Phật Giáo vào đời sống cùng với chắt lọc truyền thống Văn hoá Việt đã đem lại một cách nuôi dạy con cho người mẹ ở cái xứ đặc triết học Tây. Quá trình nuôi nấng chăm sóc, nhớ thương, mong mỏi con, đó là những gì đã và đang là hạnh phúc vô bờ.
    “Thư gửi cho con” làm nhớ lại “Tâm hồn cao thượng” hay “Những tấm lòng cao cả” của nhà văn Ý EDMOND DE AMICIS. Trong một dịp đi chơi Vịnh Hạ Long, tôi có dịp trò chuyện với anh giáo viên người Ý. Anh ta bất ngờ khi biết rằng tác phẩm này rất nổi tiếng và được đưa vào Sách Giáo Khoa nhiều lần ở Việt Nam.
    Tiếc rằng với xu thế kinh tế thị trường hiện nay loại sách này ở Việt Nam hơi hiếm.
    Hy vọng Thư gửi cho con làm người đọc luôn thấy tuổi thơ êm đềm của mình trong đó.

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)