Trang chính » Học Thuật, Lịch Sử Email bài này

Sơ thảo: Bài Sử Khác cho Việt Nam – Chương XVI

CHƯƠNG XVI:

CON ĐƯỜNG SUY SỤP CỦA ĐẾ QUỐC ĐẠI NAM

Những mảng sáng của một thời đổ vỡ

Lịch sử đánh mất chủ quyền phần rất lớn đều nằm trong thời đại của một ông vua: Tự Đức (niên hiệu 1847-1883) cho nên những chê trách về sau đều nhắm vào đấy khiến người ta dễ thấy chỉ có toàn những rối loạn nội trị, lúng túng trước ngoại xâm dẫn đến suy sụp toàn bộ. Tuy nhiên sự chiếm lĩnh thuộc địa của người Pháp kéo dài gần nửa thế kỉ không phải chỉ vì khả năng có hạn của chính quốc mà còn vì họ đã gặp ở Việt Nam một tổ chức quốc gia có cơ sở đến tận tầng đáy xã hội để có những phản ứng từ trên triều đình, xuyên suốt đến dân chúng khiến có lúc họ phải chùn bước trước những khó khăn gây lúng túng cho những người cai trị mới. Các sự kiện chòng chéo như vậy khiến người ta không thể bỏ qua những thành công trong giới hạn của đất nước trong giai đoạn đổ vỡ này.

Những cải tiến tổ chức cai trị dưới thời Minh Mạng đã tạo được một hệ thống vững vàng để sự cải đổi tên nước từ Việt Nam sang Đại Nam không mang một tính cách huênh hoang rỗng tuếch, để ông vua không hổ thẹn trên nền tảng tinh thần ông thụ nhận và ban phát cho thần dân. Đất nước rộng lớn tính bằng những con số diện tích, số người dân để đánh thuế, tuy còn xa với thực tế quyền lực bao trùm diện địa nhưng cũng là một chỉ dấu thăng tiến. Khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) số dân (đóng thuế) là 620 246 người, qua 20 năm sau đã thành 970 516 người, chênh lệch đó hẳn có phần là do hiệu quả cai trị sít sao do tổ chức đưa lại, trên một vùng đất đã mở rộng hơn. Cứ theo đà đó mà đến cuối đời con ông (Thiệu Trị 1847) dân tăng đến số triệu: 1 024 388 / 1 029 501. Tuy đất nước trải qua những thời kì thiên tai thuỷ hoạ trầm trọng (1820, 1839, 1849 “người sống không còn đủ để chôn người chết”…) nhưng có vẻ sự chịu đựng và thích ứng của dân chúng đã lên rất cao. Lấy chứng dẫn từ một biện pháp cai trị mang tính đạo lí của nhà cầm quyền: Đó là việc thường xuyên có những ban thưởng cho các người già 100 / hơn 100 tuổi, và trường hợp còn sống 5 đời / “ngũ đại đồng đường”. Tất nhiên Tự Đức thừa hưởng thành quả đó: Trong 20 năm cầm quyền, Minh Mạng có 18 lần thưởng, trong khi với Thiệu Trị, tỉ lệ đó là 7/7 còn Tự Đức lên đến 73/36! Và cũng có lẽ thấy tình trạng dân đông trước mắt nên chính các quan cho ngay vào sử cái giả định có vẻ hiện thực là quân số đời Đinh có thể lên đến một triẹu người để ngày nay có khá nhiều sử gia hãnh diện tán đồng!

Cũng như trên vấn đề ruộng đất, nền tảng thịnh vượng của một quốc gia nông nghiệp. Minh Mạng trong tổ chức cai trị ở Nam Kì sau loạn Lê Văn Khôi, đã giao cho Kinh lược sứ Trương Đăng Quế đo đạc lại ruộng đất ở đấy khiến có sự nhất thể hoá về danh xưng với toàn quốc mà cũng là nhân tiện biết được thực lực trong vùng. Hơn 630 075 mẫu (1836) tổng kết xong dẫn đến việc quy định thuế má một tháng sau. Trên bước đầu chấn chỉnh đó, tiếp theo là việc khẩn hoang có thưởng phạt (1839) để các đời sau tiếp tục. Hình trạng khẩn hoang này không phải chỉ là đồn điền như ngày xưa với Trần, Lê mà còn phối hợp với việc vạn động dân chúng, chứng tỏ có một tình hình sâu sát với cả những người dân riêng biệt. Đồn điền khai thác với binh lính và tù phạm thì rõ rệt là trên đất Trấn Tây đang được cai trị theo hướng Đại Nam hoá, hay quanh các vùng kề cận (Hà Tiên, An Giang) như một yểm trợ cho đất chiếm giữ. Và vì nhận ra được sự quan trọng của loại vị trí yểm trợ này mà triều đình Huế phát triển hình thức khai khẩn ruộng đất tự phát của dân chúng trong tình trạng đơn lẻ và tầm vóc nhỏ có trước (1840), ra thành một chủ trương lớn có tác dụng lâu dài và mạnh mẽ trong thời Pháp mới chiếm đóng.

Năm 1850 Kinh lược sứ Nam Kì Nguyễn Tri Phương đề nghị cho dân nghèo toàn vùng tổ chức khai hoang để có nơi mưu sinh. Lại cũng như mọi sáng kiến khác thường bị bài bác lúc mới đưa ra, triều đình lúc đó thấy “chưa tiện” nhưng ông quan Chánh bàn với ông Phó Phan Thanh Giản “lách” lệnh trên, tổ chức thành công ở hai tỉnh An Giang, Hà Tiên. Thế là chủ trương lớn được đưa ra năm 1853, cho phép người dân (cả người Thanh) mộ dân khai khẩn ruộng đất, ban đầu là tổ chức đội ngũ: 50 người thành một Đội, 500 người thành một Cơ rồi sẽ chuyển sang thành ấp, tổng của cơ cấu hành chính. Suất đội, Quản cơ sẽ thành ấp trưởng, tổng trưởng. Năm sau (1854) Nguyễn Tri Phương báo cáo đã thành lập 21 Cơ trong 124 ấp cho chủ trương mới, riêng tỉnh Gia Định, theo lí thuyết là được 3 000 người nhưng tính trừ già yếu bệnh tật… thì còn 2 515 người. Về phía Vĩnh Long thì một bản tổng kết năm 1867 cho thấy có 6 Cơ, 109 đội nằm trong các tổng, ấp với 2 186 tráng hạng, 1 279 lính, tù trốn. Tất cả công trình đó khiến cho ông Thượng thư bộ Công ngoài danh tiếng chống đánh xâm lược còn lưu dấu lâu dài ở phía nam với một chức vụ nhỏ hẹp hơn: Kinh lí Đồn điền Nam Kì.

Đây là phương pháp dinh điền đã từng được Nguyễn Công Trứ thi hành ở Bắc Kì nay tiếp tục trong điều kiện riêng ở Nam Kì mà danh xưng chính thức của tổ chức Dinh điền sứ thì lại thấy muọn hơn ở vùng Nam Trung Kì (1865), tất nhiên cũng với một số hình thức có khác. Khi Ba tỉnh Miền Đông bị mất, dân chúng tị nạn ra Bình Thuận liền được quy tụ vào tổ chức dinh điền có sẵn. Trước khi người Pháp chiếm Ba tỉnh Miền Tây, Hà Tiên, An Giang tổ chức được 149 thôn ấp. Thế là khi người Pháp đến, có 500 lính đồn điền giữ đồn Chí Hoà (25-2-1861) dưới quyền Quản cơ Trần Văn Lũ. Chánh quản Nguyễn Thường Xuân chận quân Pháp ở rạch Bảo Định tháng 4-1861. Và nổi danh dài lâu, đến tận triều đình Huế là Quản cơ Trương Định chống đánh ở Gò Công (chết 20-8-1864), một phần cũng là được sự khuyến khích của Tự Đức, phần khác là do có cơ sở dân chúng để tăng thêm lòng cương quyết của ông, không chịu rút đi tị nạn như những quan viên khác. Về phía tây, người Pháp gặp một quản cơ khác, tuy cũng là dân dinh điền nhưng mang thêm bản chất địa phương, vượt tầm mức trung trinh Khổng Giáo thường tục: Quản cơ Trần Văn Thành, chức sắc lớn của đạo Lành / đạo Phật Đường, một giáo phái Phật Giáo mới, có tên văn hoa là Bửu Sơn Kì Hương. Danh tiếng can đảm của những người chỉ huy đồn điền khiến cấp dưới thần thánh hoá họ, như trường hợp lời đồn Tạ Tri Hiển có đến 4 lóng tay! Còn Tứ Kiệt được thờ ở Cai Lậy (14-2-1874) có vẻ chỉ là dân dinh điền bình thường hay chức việc cấp thấp.

Tình thế chiến tranh thúc bách khiến triều đình Huế phải nhìn quá khu vực các châu thổ quen thuộc để đưa tầm mắt đến khu vực rừng núi của các tộc người thiểu số. Các năm 1875, 1876 có việc thành lập Nha Sơn phòng với chủ trương khai thác ruộng đất vùng các nguồn sâu, đồng thời cũng là để trấn áp chống đối, nghĩa là một hình thức mở rộng quyền lực diện địa. Kết quả không nhiều nhưng ta thấy ở Bình Thuận, Nguyễn Thông sẽ biết đến các bộ tộc vùng Langbiang nhiều hơn các quan đồng thời, còn phía bắc thì các Sơn phòng sứ sẽ là lực lượng chống đối người Pháp dữ dội và bền dai nhất.

Ngày nay, khi nói về tình trạng mất nước người ta hay nhắm vào chê trách một triều đình bạc nhược, chỉ biết ngâm nga thi phú, nhưng không thấy rằng sự bất lực dẫn đến thất bại của nó là do nằm vào một phạm trù văn hoá khác với đối phương, cho nên sự thất bại, tuy không tránh khỏi, cũng không làm mất một dạng hình văn minh khó phủ nhận. Thực lục của nhà Nguyễn đã được hoàn thành với các đời vinh quang nhất. Quyển sử Việt toàn vẹn, quyển Khâm định Việt sử cương mục, được Tự Đức ra lệnh biên tập để khỏi có sự đứt đoạn sau thời mất Lê. Bộ Đại Nam nhất thống chí được hoàn thành trước khi ông mất. Và thể chế triều đại cũng đã được tập họp trong Đại Nam hội điển sự lệ. Có nghĩa là triều Tự Đức đã tập trung được những tài năng sáng giá đào tạo theo truyền thống khu vực.

Ngoài những tuyển lựa thông thường, Thiệu Trị và Tự Đức hay mở các ân khoa, chế khoa. Người ứng trực đông tất cũng khiến xảy ra những bất trắc nhưng đó là cả một trường thành bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước dù có khi bị chê trách, có khi bị mắng chửi thậm tệ bởi những kẻ chống đối đương thời, bởi những người về sau mạnh mẽ lên tiếng “dạy” họ cách làm quan, cứu nước. Chính triều đình cũng gặp khó khăn vì đội ngũ khoa bảng hay ứng viên đông nghìn nghịt ở tỉnh thành, huyện tổng – những văn thân, hào mục, gây nên các vụ hò reo bãi thi chống đối các hiệp ước, tổ chức các cuộc diệt trừ tả đạo làm tình hình rối ren thêm (1864, 1874). Đạo nghĩa lấy từ kinh sách tuy có thể bị chê bai chỉ vì không chống lại được với súng đạn nhưng nó cũng tạo được một hình ảnh lí tưởng để người ta ôm ấp khi bị thất bại. Cứ nghĩ một anh Tú tài mù, văn thơ triết lí thô thiển, mà được tôn vinh quá khả năng đó, chỉ vì đã đưa nhiều nhiệt tình quăng ra giữa cả một tình thế sôi động: “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà…” Lời kêu gọi đó, nhìn ở một phía khác, là sự ngang ngược không khoan nhượng trong tinh thần Tống Nho nhưng khi được tung ra theo đạo lí dắt dẫn ngâm nga hàng ngày: “Trai thời trung hiếu làm đầu…” thì nó trở thành một lời kêu gọi cứu nước hợp tình hợp lí không thể bài bác được. Tự Đức khi phải chịu những lời chê trách tất cũng không hổ thẹn với những điểm sáng trong thời đại của mình.

Đe doạ đến từ phía khác trở thành hiện thực

Thế suy sụp là đến từ đâu?

Trong thế kỉ XVII, XVIII, Đàng Trong và Đàng Ngoài thoát nạn thực dân của thời kì Trọng thương tiền kĩ nghệ không phải chỉ vì khả năng chống đỡ trong nước (quân Trịnh Tráng, chúa Sãi, chúa Hiền) mà vì đất nước không giàu đủ để các đế quốc dốc toàn lực làm cuộc phiêu lưu. Bồ không có ý định mà cũng không đủ sức chiếm đất. Anh, Pháp, Hà Lan mang tính tổ chức hơn với các Công ti Đông Ấn thì lo nhắm vào các xứ sở giàu có hơn, nằm ở vị trí chiến lược nhưng lại phân tán quyền lực hơn: Ấn Độ, bán đảo Mã Lai, vùng quần đảo Đông Nam Á sau này là Nam Dương, một phần Mã Lai Á. Thế rồi trong lúc Đàng Trong Đàng Ngoài tiếp tục loay hoay tranh chiến thì Âu Mĩ bước vào thời kì kĩ nghệ. Từ 1783, nước Pháp đã cho chạy thử tàu hơi nước thành công trên các sông nội địa. Hoa Kì độc lập không lâu thì đã có R. Fulton làm tàu ngầm chạy bằng cánh quạt xoắn ốc (1800) và tiếp tục thực hiện tàu thuỷ chạy máy hơi nước trong lãnh vực công nghệ (1807).

Nguyễn Ánh chắc có “nghe nói” hay thấy tận mắt các tiến bộ tương tự qua những người Âu phụ giúp cho mình (giáo sĩ thả khinh khí cầu) trong khi xây dựng cơ sở thuỷ quân vĩ đại trên sông Sài Gòn, gây kinh ngạc cho người tường thuật với Jh. Barrow nhân chuyến đi 1792. Nhưng lúc ấy hạm đội châu Âu vẫn không khác các thương thuyền mấy nên Gia Long đã đề ra chính sách tách biệt. Hẳn là ông tuy có”sợ” / “kị” nhưng cứ tưởng rằng Ta không động đến người thì người không động đến Ta, và có bị “động” đến thì vẫn đủ sức đối phó. Chứng cớ là những thành luỹ Vauban xây cất sau chiến tranh, có lúc rất xa về sau (Bắc Ninh 1841). Chứng cớ là vô số súng đồng, gang, sắt đúc trước, sau chiến tranh thống nhất được đặt trên các thành luỹ, cửa biển được coi là xung yếu, vào lúc tàu Tây đã bắn chìm thuyền đồng trong khoảnh khắc. Người ta thường cứ cho rằng chính sách bế môn toả cảng là của các vua đời sau nhưng rõ ràng là xướng suất bởi Gia Long, tuy lỗi không có ứng biến là của người sau, tuy tình hình tiếp theo có làm cho chính sách ấy cứng rắn hơn, gây nên đổ vỡ không gì cứu vãn được.

Ông vua mở đời mới không kịp biết ông qua đời không lâu thì các chiến hạm chạy bằng hơi nước đã thay thế loại tàu buồm, và con cháu, thần dân ông sẽ thấy các tàu chiến làm bằng sắt – rồi bằng thép, chạy bằng hơi nước xông xáo trên các đại dương, chở theo các khẩu súng lớn, bắn đạn nổ mảnh chứ không phải mấy cục sắt – hay đá, bay rớt cái “ình” nữa. Lính được trang bị súng tay, nòng xoáy, không phải mồi bằng bùi nhùi, mổ cò đá lửa. Trong trận chiến 14-4-1847 ở vịnh Đà Nẵng, hai chiến hạm Pháp chỉ sau một giờ đã bắn chìm cả hạm đội Đại Nam với 5 chiến thuyền đồng: Kim Bằng, Phấn Bằng, Linh Phụng, Thọ Hạc, Vân Bằng mang các tên oai võ, linh thiêng, bắt nguồn từ niềm hãnh diện của Gia Long! Năm 1861, Khâm sai Nam Kì nhớ lại: “Tôi vốn nghe tàu Tây đi mau như bay, súng Tây bắn thủng được mấy thước thành đá, xa được mấy mươi dặm, tôi vẫn chưa tin. Đến năm Thiệu Trị, tàu Tây đến Đà Nẵng, bắn phá 5 chiếc thuyền đồng của ta chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, bấy giờ tôi quyền chức Bố chính Quảng Nam, mới tin là thật”. Chưa thấy tận mắt, ông không tin là phải bởi vì triều đình chọn võ quan vẫn theo lối cũ. Nói gì tới lính và súng, quan (Phan Huy Thực, quan Khâm thiên giám) không biết sử dụng thiên lí kính. Đó cũng là dịp cho Minh Mạng dạy bắn súng, luôn thể bảo “coi chừng cướp cò!” Phát đại bác cho các quan xứ Bắc thì không tìm ra người sử dụng, phải thuê người Nam! Ông quan võ của Minh Mạng đi cáng chứ không cỡi ngựa. Giữa năm 1846, triều đình lập cả một quy định lằng nhằng trong chi tiết về việc thi võ, sau đó mở kì thi lần đầu lấy được 64 người đánh võ cổ truyền tốt, đến lúc bắn súng thì “phần nhiều không được trúng cách”. Chính Thiệu Trị cũng nhận ra lí do kém cỏi: “Mang nặng, cầm côn, múa giáo, đâm bù nhìn thì còn dễ cố sức” nhưng bắn súng thì “điểu sang nghiêm cấm, làng xóm đất hẹp làm thế nào học tập được?”

Dù sao thì thực tế cũng đòi hỏi phải thay đổi. Đã thấy “thiên lí kính” (ống dòm) được phân phát nhiều hơn cho các cửa biển. Đã thấy năm 1837 có hệ thống treo cờ hiệu truyền tin trên biển, phức tạp nhưng mà có dáng lối sémaphore của Pháp năm 1783. Đã thấy loáng thoáng trong tay vua quan những khẩu như là súng lục, súng “bắn liên châu”, không hẳn là súng máy nhưng có thể là súng hai nòng, xoay nòng… Nhưng với quan niệm “sĩ vi bách nghệ”, Minh Mạng ngờ nghệch bảo Chaigneau coi sóc việc đóng tàu mới. Minh Mạng đã cho đóng tàu máy chạy thử trên sông Hương, thất bại chỉ vì làm kiểu truyền thống, khiêng tàu làm xong trên bờ đẩy xuống nước mà không biết khoét một cái âu tàu đâu đó để di chuyển khỏi va chạm bể nồi nước như trong trường hợp này. Dù sao thì các kĩ sư nội địa của Sở Vũ khố cũng thực hiện được một chiếc nữa để chạy qua chạy lại trên sông Hồng (nửa đầu 1839), chắc là lợi dụng vùng nước sâu hơn. Thấy thành công, Minh Mạng cho làm tiếp tàu khác nhưng số tiền 11 000 quan chi phí dù bị vua chê là mắc, cũng chứng tỏ tàu không lớn lắm. Cho nên tiếp theo tiện hơn, là các quan đó đặt mua tàu (“tàu lớn” Yên Phi) loại second hand (7âl. 1840) nên có hư hao, phải sửa chữa mới chạy được. Chiếc thuyền “có máy đốt lửa” Điện Phi, giá tới 280 000 quan (1843) cho thấy khả năng đất nước không đủ cho trang bị phương tiện, vũ khí hiện đại. Đây cũng là dịp cho các quan, trước người thời bây giờ, chứng kiến sự chênh lệch của nguồn tài chính ở hai thế giới: “Đem những nông sản có hạn mà đổi hàng nước xa không cùng (vô số)”. Hai năm trước đó, ngân khố Huế (12 780 000 quan) chỉ đủ để mua 45 chiếc tàu Tây kia mà thôi. Phan Thanh Giản khi đi sứ thấy đánh thuế thuốc lá đã ngạc nhiên, vì xứ mình chỉ có hai thứ thuế thân và ruộng đất! Chắc ông Chánh sứ cũng không biết rằng phải có một quan niệm phát triển xứ sở khác. Ấy thế mà kiến thức về thủy chiến và kĩ thuật điều động thật là lạc hậu, không có dáng gì là để chuẩn bị thích ứng với dụng cụ, phương tiện mới cả. Súng mới đúc được khen là theo lối Âu Tây, đúc thêm thì lại bằng đồng. Trách sao súng không toác nòng nên phải van vái khi châm lửa!

Với tình trạng chung như thế thì những cải sửa không thể có tác dụng sâu được, chưa kể là khi mới nghe qua đã bị bài bác ngay. Ví dụ khi Viện Cơ mật và Sở Thương bạc đề nghị mở sở buôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Đồ Sơn thì triều đình họp bàn thấy có năm điều lợi mà tới tám điều khó nên không tán thành! Tình hình các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ là một chứng dẫn khác. Bởi vậy tàu mới mua về cũng phải mướn người điều khiển, quan của triều đình chỉ giữ chức trên cao. Kĩ thuật mới là một điều gì hoàn toàn xa lạ với họ, làm sao họ tiếp thu nổi vào lúc đã được đào tạo hoàn thiện theo một lối khác? Ngay từ 1819, Jh. Barrow đến Gia Định, thấy các khẩu thần công được đặt trên các giá gỗ mục, và nghe quan Tổng trấn than phiền về tình hình vũ khí kém cỏi của mình. Thế còn nói gì đến hơn nửa thế kỉ sau. Pháp theo hiệp ước 1874 tặng 5 chiếc tàu máy, có người kèm theo, triều đình cũng loay hoay không biết sử dụng làm sao. Philastre làm Đại biện ở Huế trong những năm 1878-79, chỉ rõ: “Chính phủ An Nam nhận được 2000 khẩu súng, đó là thứ khí giới tạm dùng dược, nếu người ta chịu chăm sóc nó. Ngay bây giờ hoặc một năm sau nữa là cùng, có lẽ không một khẩu súng nào còn dùng được… Các tàu thuỷ cũng thế…”

Và tuy vũ khí là điều quyết định trong tranh chiến nhưng vấn đề căn bản của xung đột – đưa đến thành bại, lại là sự khác biệt văn hoá không thể nào vượt qua. Văn hoá vốn có tính cách toàn thể, không thể có sự cắt đứt một thành phần nào đó mà không có sự đổ vỡ đồng loạt. Chẳng phải đến bây giờ mới có hiện tượng domino. “Chính phủ (Việt Nam) bị kềm hãm bởi những điều mê tín của một xã hội đã được cấu tạo rất chặt chẽ, đối với kẻ làm đầu, những mê tín đó là những cái cớ viện dẫn để bảo vệ những quyền lợi đã có, đối với tất cả mọi người thì đó là khí giới phòng thủ chống lại mọi thay đổi. Mỗi người đều biết mình có lợi gì khi thay đổi nhưng chú ý nhất là đến những gì sẽ mất và đều không muốn bắt đầu từ đấy (P. Philastre)”.

Tính chất tiêu cực của hệ thống tuyển chọn nhân tài lại trầm trọng thêm với tình hình mới. Kết quả thống nhất đem đến cho Gia Long một nửa nước nặng nề kinh sách Khổng Nho, tệ hại hơn, là của Đường Tống (lời Phan Huy Thực), với những cuộc tuyển chọn khoa cử được Minh Mạng thúc giục cho người phía Nam bắt chước đuổi theo, làm mờ nhạt tính cách của Đàng Trong từng riêng biệt cởi mở với những ý tưởng khác lạ. Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên Lê Văn Đức có nhận xét rằng sĩ tử Bắc dễ đỗ cao chỉ vì thói quen luyện thi của nếp nhà chứ không phải vì học rộng. Minh Mạng cũng thấy ra: “Sự học của Trung Quốc quý ở chỗ phát minh nghĩa lí, không cóp nhặt nói theo lời cũ. Cử nghiệp nước ta xưa nay chỉ cốt học thuộc sách cũ… chuyên cần học thuộc lòng… cho là không thế thì không đỗ được”. Thế mà một phần loại kiến thức đó càng lúc càng trở thành chủ đạo của cả hệ thống quyền lực. Về mặt địa phương, chúng ta đã thấy mối tin tưởng Hùng Vương đã chen vào đầu óc những con người “phát xuất tự Ô Châu” như thế nào. Đến nỗi Minh Mạng khi hãnh diện nhiều con, đã so sánh với người có Trăm trứng! Thành kiến do quá khứ tô vẽ trong văn chương mơ mộng đem lại ảo tưởng hấp dẫn về một vùng đất “Ngàn năm văn vật” để có kẻ thì nuối tiếc, người thì bẽ bàng. Tùng Thiện Vương trong khuôn khổ Nho Giáo với kềm thúc mới, khi bước chân đến thăm Thăng Long đã mơ màng về một Hồ Xuân Hương phóng khoáng. Còn Thiệu Trị trong chuyến đi nhận phong đó (1842) thì lại thất vọng với những lời tán tụng của các nhân vật đất Bắc, chép về sông Tô Lịch, về hồ Gươm, hồ Tây trong lúc chứng kiến tận mắt thì thấy chỉ là cái ngòi nước, cái ao đầm nhỏ. Ảo tưởng của thời nào thì cũng vậy thôi!

Vậy mà vì sự tương đồng với văn hoá Đông Á, các sách vở, kiến thức thực tiễn lượm lặt từ các ông quan đi sứ vẫn mang về cho Gia Long, Minh Mạng một lề lối tổ chức chặt chịa mà ông cha họ chưa có. Đế quốc Đại Nam lớn rộng hơn bao giờ hết. Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường. Hơi dóc nhưng cũng là có để tự xưng. Trong dân chúng, người Việt được gọi là người Hán (người Hoa là Đường Nhân), còn bao nhiêu là Phiên (Miên), là Man (Thượng; Chăm hạ cấp “phiên” vì đã mất nước). Thế là ý tưởng Di Man thành hình để đối phó với cả những người xa, trong đầu óc từ ông vua chễm chệ trên cao, trong cung cấm đến ông quan quay cuồng với đối văn, đối sách, xuống thêm nữa tới đám dân chúng được nghe giảng Thập điều của Vua. “Tiên vương kinh dinh việc nước không để lẫn người Hạ với người Di… Người Hồng Mao gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta… (1824)” Các quan không thể có lời nào khác hơn. Vua quan cho rằng nước mình tuy phải thần phục người nhưng lại văn minh hơn cả nước Trung Hoa còn bị ngoại di Thanh cai trị, điều tự phụ đó lây lan đến một thần dân Thiên triều lưu vong, đứng ngoài cửa Hiển Nhân kêu cầu Thiệu Trị bảo người Hồng Mao đừng bức hiếp Thanh triều!

Muốn có cách nhìn ngược lại có thể viện dẫn lời Khâm sứ Rheinart (18-9-1875) về một tầng lớp thấp hơn nhưng cùng căn bản đào tạo: “Lợi ích riêng tư, lối sống theo sở thích, sự cách li đất nước với bên ngoài làm cho quần chúng lâm vào cảnh nghèo khó, như thế để thoả mãn lòng tự cao của nhân sĩ, là những kẻ từng miệt mài suốt đời học hành thứ chữ tượng ý, muốn sống trong sự tự mãn và tự đặt mình như những vị thần cao minh trước mắt đám quần chúng vẫn đắm mình trong ngu dốt. Người ta nghĩ rằng tiếp xúc với người Âu Tây sẽ tước mất uy tín của các nhà bác học giả hiệu ấy, những người thích sống như kẻ cả và dồn mọi nỗ lực để xua đuổi chúng ta”. Đối chiếu riêng trong nước, A. Woodside ngày nay thấy rằng: “Quan chức Việt Nam xem giống như người Trung Hoa, và dân quê Việt Nam là người Á Châu vùng Đông Nam Á”. Chắc ông không biết rằng từ sĩ phu có quan chức lớn nhỏ đến bậc văn thân tự phụ đọc hiểu kinh sách, họ đã sử dụng một thứ ngôn ngữ “Hán Việt” trong giao tiếp với nhau, cách biệt với tiếng nói thông thường, cả như khi họ nói chuyện bên trong gia đình. Phan Khôi thuật chuyện cha ông (Án sát) khi thấy cái đầu trọc lởm chởm của Phan Châu Trinh mang từ Nhật về, đã thốt lên: “Cửu bất kiến quân, quân dĩ trọc!” Loại ngôn từ này đã làm phát sinh một số chuyện tiếu lâm trong dân chúng, hơi giống những chế riễu về “tiếng Tây ba rọi” gần đồng thời.

“Trong cái xứ nô lệ của phong tục và khép mình vào nghi lễ còn hơn Trung Hoa ấy… (G. Aubaret)”, sự mê muội kinh sách dẫn đến những quan niệm hành động tưởng cứ như đùa. Trước trận chiến tan tành 1847, khi còn thương thuyết, Trương Đăng Quế nói: “Nếu họ (Pháp) khai hấn trước thì họ trái, ta phải, việc dẹp trừ không khó!” Từ trên căn bản lạc loài với thế giới đang thay đổi đó, vua quan không có cách ứng xử kịp thời cũng là chuyện không lạ.

Sự kiêu ngạo về văn hoá đã khiến triều đình Huế không nghĩ ra cách dung hợp với một kẻ nội thù càng lúc càng lớn dần, có vây cánh sừng sỏ bên ngoài mà họ không tự biết: đó là các giáo đồ Gia Tô. Thiên Chúa Giáo nói chung, lan tràn khắp thế giới không phải chỉ bởi nương tựa vào vài ông vua: Constantin I (La Mã), Louis IX (Pháp), Ferdinand d’Aragon và Isabelle de Castille (Spain)… nhưng chính còn nhờ tinh thần nồng nhiệt truyền bá tín ngưỡng của các nhân vật gọi là làm nhiệm vụ Tông đồ, trong mức độ quá khích, có lẽ chỉ thua phái Hồi Giáo đến từ sa mạc sỏi đá cằn cỗi hơn mà thôi. Chữ “soldat” của Alex. de Rhodes dùng còn gây tranh cãi đến gần đây, dù có được biện minh, ít nhiều gì cũng không xóa hết được ý nghĩa lấn lướt của “người có Đạo”, kiêu ngạo bài bác lũ người thờ quỷ ma, trong đó có cả ông vua đang Lạy Xác. Trong hành động vì lí tưởng cho là phải, là duy nhất, những kẻ truyền đạo khi gặp phản ứng đã dùng chữ “bách đạo” mà không thấy trong sự lấn lướt của mình cũng có điều phải suy nghĩ.

Chúng ta đã nói về việc dựng lên một nhân vật tối thượng trong thiêng liêng đã va chạm đến hình ảnh nhân vật tối thượng trong xứ sở người ta đến rao giảng. Người ta phân trần rằng giáo sĩ không làm việc lật đổ nhưng đó là lúc Bá Đa Lộc trông chờ nơi ông Hoàng tử Cảnh không chịu lạy ma quỷ trên bàn thờ. Với thời ông Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức dứt khoát trừ “tả đạo” thì LM. Marchand hi vọng nơi Lê Văn Khôi (1833), còn Giám mục Pellerin, người hi vọng rồi thất vọng với vụ Hồng Bảo (1851), đã đòi “hạ bệ Tự Đức đang trị vì mà thay vào đó một ông vua Công Giáo, hay ít nhất có thiện cảm với tôn giáo của người Pháp”… Và thế là chính trị và tôn giáo đã xen lẫn vào nhau, đặt căn bản “chính nghĩa” tiếp theo cho những phe phía đi vào hành động. Tàu biển đến làm áp lực càng lúc càng nhiều, Thiệu Trị có lúc đã nhẹ tay với giáo sĩ (chắc cũng sợ!) – Minh Mạng cũng từng e dè với tính cách người trên, nhưng giáo sĩ như cóc bắt bỏ dĩa, vừa thoát chết được thả ra đã quay lại (Giám mục Lefèvre mang tội tử hình hai lần 1845, 1846 vẫn lén trở lại Gia Định).

Sự can đảm của giáo sĩ không những được thúc đẩy từ hậu phương xa xôi của mình mà còn thấy có căn bản càng lúc càng vững chắc nơi đến lập nghiệp nữa. Kẻ thù thì đến từ bên ngoài nhưng lúc này đã gieo rắc sức mạnh kết tụ ngay ở bên trong. Theo J.B. Chaigneau thì đương thời có 300 000 giáo dân ở Bắc và 60 000 giáo dân ở Nam. Tổ chức giáo hội vững vàng hơn: Năm 1850, có 8 Giáo khu (một ở Miên) thì 6 Giáo khu là thuộc quyền quản trị của Hội Thừa sai Paris. Sự can thiệp của người Pháp như thế là đã biết trước được. Có điều vì số người theo đạo đông nên sự đùn đẩy, xua đuổi đạo lạ của chính quyền đến lúc này không còn chỉ nhắm vào người ngoại quốc, mà là phải giáng búa rìu xuống ngay người dân trong nước. Chống Đạo đã trở thành “bách Đạo”. Thế là có vấn đề “tự cứu” để được Cứu rỗi, người có đạo trở thành một lực lượng chống đối triều đình, không phải chỉ đông đảo ngùn ngụt thấy được mà còn lẩn khuất ngay nơi ông quan thị vệ bên cạnh vua, nơi người tôn thất chực chờ lật đổ.

Và có nhắc lại cũng không thừa, là xứ sở của nhà Nguyễn cũng không phải là chỗ an bình. Mấy trăm năm loạn lạc, sự thống nhất là do lối kết hợp bằng binh lực từ những vùng đã từng là “nước”, bên trong lại có vô số tập đoàn chưa bao giờ phải khuất phục một chính quyền trung ương nào hết. Và tuy dân Gia Định ngông nghênh, chuyện “ép người trong làng khấu đầu lạy, tung hô”, chuyện quan huyện trấn nhậm sâu trong thuộc địa Trấn Tây hách dịch: “Tao thì chém trước tâu sau”, rốt lại cũng thấu tai triều đình nhưng phải nói rằng Nguyễn đã nắm vững phần căn bản của dòng họ mình hơn ở phía Bắc. Minh Mạng lo được việc bầu lí trưởng ở Bình Định trong lúc dân Nghẹ tha hồ cử tổng lí cho mình. Quan ở Bắc Kì có khi phải nể nang, dựa dẫm các cường hào có tên Cả X, Tổng Y vì như Nguyễn Hữu Thận tâu: “Dân một làng do hào mục khu xử, chúng làm bậy thì dân đều theo”. Có thể vì thấy sức nặng ở phía Bắc mà Gia Long lúc đầu đã muốn đóng đô ở Nghệ An nếu không có Phạm Văn Nhân can. Cho nên mầm loạn ở Bắc vẫn dằng dai cả khi Nguyễn không phải thêm bận tâm nống sang Cao Miên. Thế là tổng lí theo-đạo bao che người, ngăn chận lệnh quan. Và quá khứ lịch sử lại tiếp tục nổi lên bùng cháy từ các tàn dư nhen nhúm. Dòng dõi nhà Lê đã cho đày hết vào Nam thì ai làm vua Lê cũng được, chỉ cần giáo sĩ gợi ý một lần (Giám mục Retord và Tạ Văn / Lê Duy Phụng) là lần sau cứ tự động xướng suất. Tính cách chính nghĩa lại thêm một dịp chuyển đổi chứng minh phe phía, mở đường cho những kêu gào chống đối triều đình khi phải chịu thua thiệt, cắt đất cầu hoà…

Như thế, tận trong sâu kín, sự xung đột Đông Tây ở Việt Nam trong thế kỉ XIX, đã là một xung đột không có đường hoà giải, và cái thua thật cầm chắc là về một phía dù các sử gia ngày nay viện dẫn cuộc chiến vừa qua mà tha hồ chửi mắng những người làm mất nước. Lịch sử địa phương của một khu vực văn hoá, phần nào cũng mang một chừng mực của những ý tưởng toàn vùng hướng dẫn sự trưởng thành, tàn tạ của khu vực. Trong trường hợp này của Việt Nam, thì tác động xô đẩy đưa đến suy sụp, dứt khoát phải là đến tự bên ngoài (giống như Triều Tiên / Cao Li với Mông Cổ, Nhạt Bản, và Trung Hoa với Hung Nô, Mông Cổ, Kim, Thanh) bởi vì sức kềm kẹp bên trong chỉ dao động nghiêng ngả chứ không mất tác dụng đàn áp với đám dân chúng chỉ đủ khả năng cựa quậy, than vãn, xiêng xỏ, hay cùng lắm là trang bị giáo mác.

Sự sụp đổ tiến bước – dằng dai

Những người cầm quyền Đại Nam an tâm, thoả mãn – chưa kể là kiêu ngạo, trong không gian lí tưởng của nền văn hoá thụ nhận không thể thấy ngay sự suy sụp đưa đến thảm hoạ mất nước nhưng những dấu hiệu bất cập của mô hình kiến thiết mà các ông vua đang đeo đuổi cũng đã hiện rõ từ lâu. Khủng hoảng có thể vượt qua được thì nâng cấp tổ chức, điều này cũng khiến cho khi có đổ vỡ thì sự kháng cự sẽ trở nên dằng dai làm biến đổi tiến trình suy sụp.

Dấu hiệu căng nống quyền lực quá khả năng hiện ra khi Minh Mạng muốn làm việc thực dân hoá đất Cao Miên mà bất lực với các Ốc Nha không biết cai trị theo lối “người Hán” (làm việc duyệt tuyển: kiểm kê người, ruộng đất, thu thuế, làm báo cáo…) trong lúc áp lực Xiêm La bên ngoài còn mạnh, bên trong còn có cả một vùng mênh mông dân bản xứ tận dưới biển, bao vây những khu vực đồn điền cô lập, lẻ loi với các lưu quan của triều đình phái đến không được ông Tổng trấn bảo vệ đủ. Trương Minh Giảng lui quân, tự tử rồi quân Huế đang ráng kéo ngược tình hình một cách nửa vời nhờ việc quân Xiêm cũng không quản lí nổi đất Miên, thì tiếng súng Đà Nẵng chỉ trong một tiếng đồng hồ đã báo hiệu sự suy sụp của Đế quốc Đại Nam.

Đã nói, sự kêu gào can thiệp để cứu “dân nước Chúa” ở Đại Nam vang vọng từ lâu cho nên tuy lẻ loi nhưng cũng có cả sự tham dự của tàu thuyền các nước Tây Phương khác như trường hợp chiếc tàu Mĩ Constitution xin thả GM. Lebèvre năm 1845. Tuy nhiên vai trò của các thừa sai Hội Truyền giáo Paris ở Việt Nam đã khiến cho sự can thiệp của nước Pháp ở đây trở thành mối liên hệ kết hợp đạo-đời không thể phủ nhận trong suốt quá trình xâm chiếm. Không biết thấy ở văn thư nào mà Phan Thúc Trực nói về việc xin tha giáo sĩ năm 1838 của Pháp đã dùng câu “Chúa đạo Gia-tô đến thông vấn”, có trích lời thư xác nhận: “Từ trước sai thầy dòng vâng mệnh Chúa đi truyền giáo…” Nước Pháp gượng dậy qua chiến tranh cách mạng, chậm chân hơn các nước khác nhưng còn thấy vùng Đông Dương chưa có người đặt chân để càng thấy sự thúc giục của các giáo sĩ trở nên hấp dẫn hơn. Cuộc bắn phá 1847 một mặt cho thấy phái bảo thủ ở Huế có bằng chứng để thúc đẩy sự đóng cửa với bên ngoài, bài xích “tả đạo”, mặt khác lại khuyến khích giáo sĩ và giáo dân có hi vọng trông ngóng từ bên ngoài, cả ở những phe phái chỉ tranh chiếm nội bộ như trường hợp Hồng Bảo giành ngôi với Tự Đức (1851). Cuộc xung đột Pháp Việt lên đến đỉnh cao khi Napoléon III quyết định hiện diện ở Đông Dương, khởi đầu cũng lại là tiếng súng lẻ loi của tàu máy hơi nước Catinat bắn phá Sơn Chà trong tháng 9-1856, dẫn đến quyết định đánh chiếm Việt Nam với đoàn quân viễn chinh dưới sự chỉ huy của Phó Đô đốc Rigault de Genouilly (15-7-1857).

Thế là mọi biến chuyển cứ tiếp tục thúc đẩy nhau thành hình. Ngày 1-9-1858, tàu Pháp có sự phối hợp của lính Tây Ban Nha từ Manille sang, bắn phá Đà Nẵng, chiếm đồn luỹ chực chờ nội gián đạo đồ nổi dậy hưởng ứng. Thất vọng, tướng xung đột với giám mục, lại không nghĩ ra phương cách tấn công kinh thành nên De Genouilly chỉ để một toán quân giữ các đồn đã chiếm mà rút tàu thuyền vào Nam Kì (9-2-1859). Ở đây sông rộng, tàu lớn tha hồ tung hoành đúng như mối lo của Thượng thư bộ Công Trần Văn Trung cảnh báo với Tự Đức. Quân Pháp bắn phá các pháo đài ven biển, vào cửa Cần Giờ, tiến lên Nhà Bè, theo dọc sông tiến bức thành Gia Định, đánh phá chỉ trong hai ngày là chiếm được (17-2-1859). Có Gia Định đủ cho người Pháp coi nhẹ Đà Nẵng, lấy làm điểm tựa cho cuộc chinh phục Việt Nam dai dẳng, nhiều khuất khúc nhưng không gì cản trở được trước sự bất lực của triều đình Huế với quan niệm giữ nước lạc lõng trong thế giới mới trong lúc nội bộ càng tan nát với những mâu thuẫn nảy sinh từ trong quá khứ được tình thế gây thành phức tạp hơn.

Đến lúc này thì thái độ tự tôn chỉ còn là vấn đề sĩ diện, sự tranh luận của triều đình Huế chỉ còn quanh vấn đề chiến hay hoà mà thôi. Chiến thì đã thấy một toán quân nhỏ Pháp ở Đà Nẵng, chịu đựng sự tấn công của cả binh lính trung ương Huế cũng không bị trục xuất, xa phía nam thì “đại đồn” Chí Hoà của Nguyễn Tri Phương cũng tan nát (25-2-1861). Tổng thống Quân vụ Lê Đình Lí trước khi tử trận đã cho thấy tình hình bi quan: “Giặc trăm thứ khéo giỏi, đồ dùng tinh xảo, chiếm Trà Sơn ở vị trí cao, quan sát rộng, ta ngăn núi mắc sông, quân khí không tốt, quen thói sợ giặc, gặp giặc là chạy…” Đã kể về nhận định của Nguyễn Bá Nghi, Tổng thống Quân vụ Nam Kì (1861), thì nên ghi thêm chứng kiến của người dân bình thường tại chỗ trong Thơ Nam Kì. (Tàu Tây) “tàu khói máy tài, Chạy vào Tắc Nghĩa chẳng nài ngược ngang” / “Giặc này đạn pháo nan cừ, Quan quân thầm lắc bấy chừ nan toan”. Và cũng nên nhìn ra một thái độ bàng quan, chấp nhận bất lực của dân chúng đương thời: Khi “Tây đăng dinh thành” thì “dân chúng khắp dành, Đem nhau coi giặc bộ hành dầm xuân, Liếc xem giặc lạ trưng trưng, Đoái nhìn thành thị luỵ trường hột sương (khóc!)”.

Tự Đức ra Dụ bảo sĩ phu lập nghĩa đoàn, sai quan mộ hương dõng chống đánh (12-4-1861) với cấp bực dành cho người cầm đầu, lấy người cả nơi xa như Khánh Hoà, Bình Định. Đó là đầu mối xuất hiện những tập họp của Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, chung sức với Trương Định… Tuy nhiên đúng như Nguyễn Bá Nghi dự toán tình hình, không hoà thì sẽ mất thêm. Quân Pháp gặp khó khăn với Trung Hoa nên de Genouilly đưa thư xin hoà (20-6-1859), chỉ đòi tự do truyền giáo, thông thương. Bàn cãi chưa xong thì ba tháng sau, liên quan Anh Pháp kí hoà ước với Trung Hoa, có thêm tiếp viện từ chính quốc, de Genouilly tiếp tục đánh. Họ công phá Chí Hoà, chiếm thêm Định Tường (14-4-1861), Biên Hoà (16-12-1861), Bà Rịa (7-2-1861), Vĩnh Long (23-3-1862). Thế là đồng thời với những thất thế khác, hiệp ước Nhâm tuất 5-6-1862 kí nhường ba tỉnh Miền Đông Nam Kì với vướng luỵ của người văn thần Phan Thanh Giản (1796-1867), chịu nạn theo lịch sử nặng hơn bản thân ông phải gánh vác.

Tội nhượng đất bị ghi ngay vào sử Nguyễn với lời Tự Đức kết án người kí là “tội nhân của muôn đời”. Nhưng sao Phan dám làm chuyện đó nếu không nhận ra ý hướng của triều đình đã công nhận các vùng Pháp chiếm ở Gia Định, “sở Thủ Dầu Một, tỉnh Biên Hoà và đất phụ cận Định Tường”, là thực tế khó thay đổi, nên “hãy tạm cho bọn kia quản nhận cư trú”, và chính trên sự hồi tưởng đó mà sau kí kết, người ta đã không kháng nghị ngay, lại bổ hai sứ thần đặt ở gần người Pháp, để từ từ “năn nỉ”? Ít ra thì chính ở đây cũng là bằng chứng về sự khác biệt trong quan niệm giao kết quốc tế giữa Pháp và Việt. Tất nhiên làkhông phải ai cũng bằng lòng khi kí một hiệp ước nhưng người Pháp cho rằng đã kí xong thì phải thi hành, còn phía Việt thì coi “kí” chỉ là giải pháp tình thế như nhận định của triều đình cho thấy ở trên. Từ khác biệt đó mà người Pháp cho là ta không giữ cam kết, còn Tự Đức thì cứ trông chờ Phan Thanh Giản “năn nỉ”…

Phan đã biết cuộc đời làm quan gian khổ trên đám dân chúng ngược ngạo vì cùng khổ – vốn đã tích trữ thói quen đó từ lâu. Phan đã có kinh nghiệm làm quan giữa đám đồng nghiệp kèn cựa nhau, cả kẻ dưới cũng xoi mói người trên từng li từng tí, hoặc dựa thế luật pháp vua nước (như vai trò gián quan của các chức quyền Khoa đạo), hoặc chỉ giản dị là ngông nghênh với một chút lí tưởng nho gia. Làm quan dưới búa rìu sấm sét của ông vua tối thượng, nhìn xét công tội của người dưới tay bằng vào những bắt bẻ lẫn nhau của các phe cánh, phán xét công tội bằng chỉ riêng một kết quả hành động thành công hay thất bại, không kể lớn nhỏ. Trương Minh Giảng là người duy nhất ôm gối Minh Mạng trong lễ mừng chiến thắng Trấn Tây, thế mà khi thất bại, buồn chết [tự tử?] lại bị mất chức tước, chịu gian truân ở cả những dịp được xin phục hồi. Trong tình thế có ông quan (chồng Hồ Xuân Hương) chỉ tham nhũng vài trăm quan là bị tử hình, tại sao Phan dám cả gan cắt đất Ba tỉnh dân đông, vật lực lớn, đủ như là cắt cả Sáu tỉnh? Thế mà rốt lại chỉ bị vua mắng, và dài dài sau đó là được nhờ cậy điều đình chuộc đất, không phải để lập công chuộc tội mà vì dưới mắt Tự Đức không còn ai khác đủ sức làm chuyện đó: “Phan Thanh Giản còn không biết rõ huống gì người khác!” Sự tình dễ hiểu nếu ta nhìn ghép với người cùng kí tên mà ngày nay lại ít bị hài tên chửi bới: Tiến sĩ Hàn lâm Lâm Duy Hiệp/Thiếp/Nghĩa, người được phong làm Phó Tổng tài Quốc sử quán, hẳn cũng có góp ý với ông Tổng tài về việc xin in lại (1856) “nguyên bản” Đại Việt sử kí toàn thư được coi là “bản Chính Hoà” có quyền uy văn bản gốc bây giờ.

Ông Lâm Duy Nhiều-tên kia cũng là dân khoa bảng như ai, vậy mà làm quan lọng cọng, vụng về đến bị vua mắng vào mặt, có lẽ chỉ vì xuất thân ở đất Nguỵ Tây. Ấy thế mà ông lại được cử vào việc điều đình nghị hoà trong lúc các quan khác tránh né, được cử làm việc với một người xuất thân xa cách về đường đất nhưng đồng dạng về sinh hoạt: Cả hai đều là dân Minh Hương với kiến thức không phải chỉ là kể lể Trình Chu, Di Hạ chết cứng trong sách vở mà còn là lối giao tiếp thường nhật, tuy không đủ để vươn ra toàn thế giới nhưng cũng là vượt được luỹ tre làng, ông thần gốc đa. Phan Thanh Giản có cả một khối dân Nam Kì ngồi tại chỗ mà vẫn nhận được tin tức xa vì là nơi người ta tụ hội về. Lâm Duy Hiệp khuất lấp hơn nhưng cũng có một quá khứ Vùng, từng đón nhận Tống lưu vong, Minh Thanh đào tị (hẳn là có mặt ông bà của Phan Thanh Giản), những người từng là cánh tay của anh em Tây Sơn, chưa kể những người đương thời tiếp nối đang tranh giành ngoại thương với người Âu bị gạt ra ngoài. Trước cuộc chiến không lối thoát, phải nói đến hoà nghị, không thể cử ông Nguyễn Tri Phương đánh đâu thua đó tuy đã tận lực. Những người quen giao tiếp với bên ngoài như Phan-Lâm, mang tiếng “mãi/mại quốc” về sau, chính là người của thời cuộc, người không-có của triều đình Huế lúc bấy giờ.

Nhưng cái thế hoà hội không phải chỉ là chuyện đầu lưỡi nên Phan Thanh Giản len lách qua Tây đi chuộc không thành lại còn mất thêm Ba tỉnh để ông lấy thân mình tránh quyền vua, đền nợ nước. Tiến trình chiếm đóng Việt Nam lại có khi được thúc đẩy bởi những can thiệp của nhóm chính quyền địa phương Pháp tại chỗ, những người thấy rõ hiệu lực của các quyết định trong tình hình thực tế, với những cuộc bắn phá dọc biển bao vây việc tiếp tế gạo Nam Kì cho Kinh thành, chận các thương thuyền Thanh bán vũ khí cho Huế, cả với những “sáng kiến” quấy đảo của các giáo sĩ như khi họ khuyến khích các nhóm Phù Lê ở Bắc Kì với nhóm Tạ Văn Phụng… Tất cả ít nhiều gì cũng là nguyên nhân kí kết hiệp ước nhường Ba tỉnh Miền Đông Nam Kì. Và như sẽ thấy, thương lái J. Dupuis là yếu tố khích động cho việc tiến chiếm Bắc Kì, không xa với việc buộc nhà Nguyễn kí các hiệp ước cuối cùng.

Khi sự bác bỏ thoả thuận Aubaret – Phan về việc chuộc Ba tỉnh Miền Đông xảy ra thì Soái Phủ Sài Gòn đã hiểu là tiến trình thực dân không thể đảo ngược, do đó việc tiến chiếm Ba tỉnh Miền Tây cheo leo là kết quả thấy trước, không thể đổ thừa Phan Thanh Giản không biết giữ, hay do bởi sự “lường gạt” trong việc tiến quân của Pháp. Pháp từng lưu ý tới Cao Miên từ 1856, từ khi H. Mouhot thám hiểm Siem Reap, khám phá Angkor, và với sự trung gian của Giám mục Miche, họ kí hiệp ước bảo hộ với Norodom (Oudong 8-1863) thì không thể để ba tỉnh đó làm ngăn cách với Nam Vang được. Khi Vial đòi lấy 3 tỉnh Miền Tây, các quan cũng nhận ra rằng: “Ba tỉnh ấy cheo leo cũng khó giữ được”. Trước sự lấn lướt đó, triều đình Huế bất lực lại chỉ có một chính sách tiếp tục, là điều đình xin trả đất, hay chịu nhường đất theo lối “tay trên” trong lúc phe mình thì lại đang ở thế dưới tay người: Pháp được giữ 3 tỉnh Miền Tây thì trả lại Gia Định, Biên Hoà, xoá nợ, bỏ ba thương điếm Đà Nẵng, Quảng Yên, Ba Lạt! Ngay cả khi biết Pháp có chiến tranh với Đức, họ chỉ “đưa thư hỏi thăm” và khi biết Paris bị vây, Napoléon III bị bắt, người ta lại có sáng kiến đề nghị quân Pháp ở Nam Kì rút về để cứu nước, trả lại đất cho vua Đại Nam!

Và cũng không lạ khi dẫn đến chuyện đường sông Mekong. Phái đoàn Doudart de Lagrée theo lệnh Soái phủ Sài Gòn ra đi thám hiểm đường sông (1866), đã mở đầu cho việc bảo hộ Lào để lại có thêm một khu vực tranh chấp với người Xiêm, ngoài phần đất Cao Miên phía nam. Tuy nhiên qua hai năm dài phái đoàn mới đến được Vân Nam, và nhận ra rằng không thể dùng thuỷ lộ này để thông thương với Trung Hoa được. Thế là đường sông Hồng được để mắt tới, và công cuộc tiến chiếm Bắc Kì lại về tay Soái phủ Sài Gòn qua sự ngang ngạnh của một lái buôn hơn là từ chủ trương ở chính quốc.

Triều đình Huế lại đang ở thế lúng túng hơn lúc nào hết. Một vùng biên giới miền đông bắc kéo dài ra biển đến những hải đảo chằng chịt, là nơi an toàn của cướp. Cho nên các ổ giặc biển có dung chứa cả các tướng Tây Sơn, bởi những người này, khi không chạy trốn xa tít nơi biên giới Lào, Miến Điện thì chỉ tìm được chỗ ẩn thân với tầng lớp Tề Ngôi, một lực lượng thuỷ quân của Tây Sơn cũ. Cướp biển tấn công các tàu vận tải của nhà nước – hoặc được nhà nước thuê mướn – bạo dạn tấn công trên đất liền cướp của, bắt người. Là cướp biển không phải chỉ có các nhóm Tàu Ô cổ truyền mà còn là dân đánh cá hành nghề mới theo mùa đói kém, theo cơ hội bất chợt. Chưa kể biển còn là nơi các nhóm Phù Lê dễ tìm chỗ ẩn nấp khi bị truy đuổi trong đất liền.

Về phía biển, Triều đình đánh tiếng “mướn” quân Pháp tiễu trừ (1865) hay ghi hẳn yêu cầu vào hiệp ước 1874. Trên bộ họ phải nhờ quân Thanh sang đánh dẹp khiến Tự Đức cũng phải nhận là nỗi nhục trong đời. Từ khi Thái Bình Thiên Quốc (1851-1864) tan rã, các tàn quân của họ tràn sang phía nam, quấy rối trên các tỉnh biên giới mà triều đình không cách nào dẹp yên được. Nổi tiếng là quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh và Cờ Trắng của Bàn Văn Nhị.

Triều đình tìm cách phủ dụ đầu hàng nhưng lại là nuôi thêm những toán giặc tiềm tàng. Họ chiêu mộ phe này diệt phe kia như dùng toán Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc chống với Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh, để càng luỵ thêm vì Lưu Vĩnh Phúc. Triều đình yếu thế đến mức gặp J. Dupuis kéo Cờ Vàng về phe mình, ngang ngạnh dùng đường sông Hồng chở vũ khí lên Vân Nam, lại không có cách nào trị được chỉ kêu cầu Sài Gòn giải quyết. Thế mà như đã thấy, chính quyền Pháp ban đầu ở Nam Kì phần lớn là do các tướng lãnh Hải quân nắm giữ nên hành động vẫn có chút riêng biệt, thêm mối lợi thương mại gắn liền với J. Dupuis khiến họ hành động cũng không như Huế mong muốn. Người được cử ra Bắc là F. Garnier, thành viên cũ của Phái đoàn Mekong nên sự bênh vực quyền lợi của nhà buôn kia thật không che giấu. Xung đột xảy ra, ngày 20-11-1873 Hà Nội thất thủ trước 188 binh sĩ hỗn hợp Pháp và 24 ngưới châu Á với 8 họng súng đại bác, đánh thắng 700 quân chủ lực Huế và viên tướng tài ba nhất đương thời: Nguyễn Tri Phương. Rõ ràng quân binh Việt yếu thế không thể chối cãi: chỉ một đại uý và 15 lính hải quân đánh thành Hải Dương, một thiếu úy và 7 lính đánh Ninh Bình, cả hai đều đắc thắng!

F. Garnier bị Cờ Đen giết ngày 21-12-1873. Hoà ước Giáp tuất 1874 kí ở Gia Định tuy trả lại các tỉnh đã chiếm, cho thấy Tây Ban Nha bị gạt ra ngoài, và nước Pháp công nhận chủ quyền Việt Nam nhưng đã có những điều khoản khai mào cho việc đặt nền bảo hộ, cho phép họ lấn ra Bắc Kì với các cửa biển mở thông lộ sông Hồng. Họ đã không thua thiệt tí nào. Thế nhưng muốn lấn quyền trên xứ Bắc, người Pháp không phải chỉ động tới nhà Nguyễn mà còn phải giải quyết những tồn đọng của chính quyền Việt nơi ấy, vốn đã phức tạp hơn những vùng khác nhiều. Nam Kì ở xa, khi bị xâm phạm thì có quan Đốc học Nam Định Phạm Văn Nghị mộ quân tòng chinh cứu nước, bị gạt đi vẫn phải tuân lệnh, để Nam Kì tự lo lấy nhưng khi quân Pháp ở ngay trên đất “của mình” thì người ta không đợi lệnh triều đình nữa. Sau khi kí hoà ước 1862, nhóm Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Nghệ An nổi dậy đốt phá nhà thờ, giết giáo dân (1866), kéo dài đến 1874. Nhóm Tú tài Nam Định cũng nổi dậy sát tả (1868).

Tình hình dân đạo là nạn nhân cũng trở thành phức tạp hơn với kết quả hiệp ước 1874. F. Garnier sau khi chiếm các tỉnh châu thổ đã phong chức tước cho các người theo đạo, đến khi các quan chức trở về nắm quyền, họ chống lại, như Hồ Văn Vạn tiếp tục chống triều đình ngoài khơi Hải Dương, có yêu cầu Soái phủ Sài Gòn viện trợ (bị bắt 1875). Cho nên tiếp với thành kiến có trước, việc xung đột lương giáo thành càng lúc càng trầm trọng thêm, trong đó không phải không có lỗi về phía dân đạo lợi dụng thời cơ. Trương Vĩnh Ký ghi lại sau “Chuyến đi Bắc Kì năm Ất hợi (1875)” về chuyện dân đạo tàn sát gia đình Tuần vũ Nam Định và sự đòi hỏi bồi thường quá quắt của LM. Trần Lục, người nổi tiếng với ngôi nhà thờ Phát Diệm xây cất về sau. Ngay trong sự giao thiệp ở bậc cao nhất cũng không có sự ổn thoả từ căn bản. Huế kí hiệp ước trong thế yếu nên không mấy mặn mà hợp tác như lời báo cáo của Thống đốc Nam Kì Lafont cho nội các Pháp (21-3-1878) biết.

Phan Thanh Giản, những ngày cuộc tranh chấp còn ở cấp độ đòi tự do tín ngưỡng và thông thương, đã cho Tự Đức biết rằng người Pháp chú trọng đến Bắc Kì hơn Nam Kì vì dân đạo ở đấy nhiều hơn, đông hơn. Thế mà tình hình cũng không thuận tiện hơn cho họ. Việc thông thương đòi hỏi một tình hình an bình, nghĩa là vấn đề động tới các toán giặc trên đất, dưới biển, giặc đủ thứ nguồn gốc ta, tàu mà kiệt hiệt hơn hết là các nhóm quân thổ phỉ Trung Hoa, quân Thanh được Huế kêu cầu bình định biên giới trước kia, nay nhân tiện cũng được Bắc Kinh hi vọng là con cờ có sẵn để giằng co với Pháp. Con đường sông Hồng bị chận ở Lao Kay bởi toán quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc mà triều đình có người muốn nhờ cậy để chống Pháp, có người muốn đuổi đi. Cả hai biện pháp đều chỉ là của tình thế bởi vì không thể nào tác động đến Lưu được dù có lúc Tự Đức dẫn dụ trao chức quan để bứng đi.

Thế là lại xảy ra vụ chiếm Hà Nội lần thứ hai (25-4-1882), do H. Rivière làm chủ, vượt quá sự toan tính ban đầu của Soái phủ Nam Kì và ngay cả chính quyền Paris. Rồi cũng lăp lại chuyện cũ, là H. Rivière bị quân Cờ Đen giết chết (19-5-1883). Giữa thời gian đó là sự thay đổi chính sách ở ngay chính nước Pháp. Vấn đề Bắc Kì làm Pháp đổ ba nội các chỉ trong vòng mấy tháng, đến khi J. Ferry thành lập chính phủ (3-3-1883) thì chủ trương xâm lược Bắc Kì được tiến hành một cách cương quyết hơn. Lần này là những đụng độ lớn dắt dẫn đến tình hình kết thúc chiếm lĩnh toàn Việt Nam và giải quyết luôn vấn đề thiên triều / phiên thuộc kéo dài cả ngàn năm.

Bị quân Pháp bức bách, triều đình Huế lần này thực sự lo tìm kiếm ngoại viện với các nước khác nhưng họ không có gì để trao đổi trong một tình thế mà nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ cũng cho là đã muộn rồi. Họ liên lạc với Anh, Mĩ, Tây Ban Nha chỉ qua thuộc địa Hương Cảng của Anh đã là một dấu hiệu thất thế, thế mà khi lập được thương ước với Tây Ban Nha (1879), họ gửi người theo sứ bộ nhờ huấn luyện thì bị Pháp chận lại ở Sài Gòn. Trước đó (1875) Ý đưa thư bàn việc thông thương thì ông quan Thương bạc của ta lại hỏi ý kiến của Pháp, tất nhiên bị bác bỏ ngay. Họ chỉ còn có cách quay lại đường lối truyền thống của các triều đại Việt: Ngày 6-9-1882 được coi là thời điểm quyết định cầu viện nhà Thanh của Cơ mật viện.

Thanh triều lúc bấy giờ vốn phải lo lắng chuyện nội bộ và cả sự uy hiếp của các nước phương Tây nên mù tịt chuyện phía nam. Họ chỉ biết rõ ràng về việc Pháp xâm chiếm Nam Kì qua Từ Diên Húc, Tri phủ Thái Bình (Quảng Tây), người từng qua Lạng Sơn cuối 1870, tác giả quyển Việt Nam thực lục (1877), được thăng Bố chánh Quảng Tây và sẽ là tổng chỉ huy đội quân viễn chinh chống đối Pháp năm 1883. Sự lấn lướt của người Pháp đã khiến Trung Quốc lo ngại cho vùng biên phía nam của mình nên người Thanh lấy cớ đã được Việt Nam yêu cầu dẹp thổ phỉ, liền cho quân tiến ra ngoài biên giới để giành ưu thế.

Giữa năm 1882 quân Thanh dàn ra dọc biên giới, 3 doanh quân Vân Nam đã vào tỉnh Hưng Hoá, đến năm 1883 thì có độ 20 ngàn quân Thanh xâm nhận thực sự với Từ Diên Húc đóng ở Bắc Ninh. Đến đây là sự đối đầu chính thức giữa hai nước, giành nhau vùng ảnh hưởng. Nhà Thanh muốn lấn đến Quảng Bình, có lẽ vì dư âm về nước An Nam / Đại Việt xưa. Nhưng người Pháp với tính chất một nước công nghệ nên giành vùng thượng du Bắc Kì vì là vùng mỏ. Do đó H. Rivière chiếm mỏ than Đông Triều ngày 12-3-1883, lại cần phải bảo vệ nó, luôn tiện giữ vùng lúa gạo nên cho quân hạ Nam Định (28-3-1883). Sự tranh chấp này chỉ kết thúc với viện binh từ chính quốc Pháp đưa sang, qua những giằng co tranh cãi nghị trường, biểu lộ nhược điểm quen thuộc của chế độ đại nghị phương Tây vẫn còn thấy về sau khi cuộc tranh chấp mang tính toàn cầu, lan đến những vùng xa lạ với nền văn minh ấy.

Quân Viễn chinh Pháp lần này quyết tâm chiếm Việt Nam nên để tướng Bouet từ Nam Kì ra đánh Bắc Kì còn Đô đốc Courbet và Tổng Đại diện Harmand thì kéo đánh thẳng vào Huế qua cửa Thuận An (20-8-1883) nhân dịp Tự Đức băng hà, và cũng là theo ý kiến của Thống đốc Nam Kì cùng Tổng trú sứ Huế. Triều đình Huế đang lúng túng với việc truyền ngôi sau khi Tự Đức mất (19-7-1883) nên kí hoà ước Harmand (25-8-1883) với những điều khoản thua thiệt nặng nề gây thêm chống đối. Bắc Kì rối loạn hơn bao giờ hết. Đến lúc này thì Pháp chỉ có một đối thủ là Thanh mà quân lính của họ, được trải qua những thời kì cải tiến, đã có vũ khí mới, lại quen thuộc đường lối địa phương, thêm có các quan Việt yểm trợ hoặc bởi tình thế, hoặc vì ý tưởng chống Pháp. Có thêm viện binh, Courbet chiếm Sơn Tây (16-12-1883), Bắc Ninh (13-3-1884), Hưng Hoá (12-4-1884) đem sử dụng khinh khí cầu dò la hậu phương quân địch như phương tiện kĩ thuật mới nhất. Các chiến thắng đó giúp lập hoà ước Founier (11-5-1884) buộc Thanh chịu dứt khoát đoạn tuyệt với những đòi hỏi về Việt Nam. Rồi lại cũng như các cuộc chiến khác, một hiệp ước thường không thể kết thúc cuộc chiến. Quân Pháp lại sa lầy ở thượng du Bắc Kì vì các toán quân chưa chịu rút lui, nặng nhất là trận Bắc Lệ (23-6-1884) khiến rúng động Paris. Quyết tâm giữ Bắc Kì tăng lên, quân Pháp đánh thẳng vào Phúc Châu (23-8-1884), phong toả Đài Loan nên cho dù nội các J. Ferry bị đổ vì thua ở Lạng Sơn (28-3-1885), Pháp vẫn kí được hoà ước Thiên Tân (4-4-1885) giải quyết dứt khoát vấn đề.

Trong tình hình hoà hoãn sau hoà ước Fournier, Pháp yên tâm với cường quốc bệnh hoạn phương Bắc lại quay về kí hoà ước Patenôtre (6-6-1884) điều chỉnh hoà ước Harmand cho nhẹ hơn nhưng không tránh khỏi sự chống đối quyết liệt của phe chủ chiến mà cầm đầu là Phụ chính Tôn Thất Thuyết để xảy ra sự biến thất thủ kinh thành (4-7-1885). Hàm Nghi bỏ chạy ra Tân Sở (Quảng Bình), người Pháp lập Đồng Khánh đánh dấu giai đoạn bắt đầu của quyền bính mới trên đất Việt Nam kéo dài đến giữa thế kỉ XX vì các chuyển biến khác.

Không phải chỉ là sự suy sụp một triều đại

Cuộc chiếm đóng thành công của người Pháp không giản dị là một cuộc lật đổ một chính quyền bản xứ. Trong đà tấn công quyền bính trên cao để giành chiến thắng, họ làm đổ vỡ cả một mối tin tưởng lâu dài, dù rằng có lúc họ cũng muốn dựa trên nền tảng ấy để củng cố chính quyền mới của họ. Tất nhiên không phải tất cả đều đổ sụp một lần nhưng những biến chuyển dẫn đến suy tàn đã được khai thác và làm trầm trọng thêm trên những mâu thuẫn tiềm tàng có sẵn. Và cũng không phải tất cả đã mất hết mà có phần còn lảng vảng đâu đấy để co cưỡng, xuất hiện lại dưới dạng hình mới.

Về quan niệm quân quyền, nho sĩ Bắc Hà không có vua Lê thì có Gia Long, người xứ xa, hơi khác nhưng điều đó không suy suyển với quan niệm làm dân, làm người theo Kinh Sách học hỏi để chấp nhận được, chưa kể rằng sự chấp nhận đó là điều cần thiết cho con đường danh vọng họ đang đeo đuổi. Người Pháp đến làm lũng đoạn tinh thần trung quân đó bởi vì sự khác biệt Lê/Nguyễn nhỏ nhít trước kia nay trở thành to rọng vì kẻ chống đối nhân bất mãn, nhân sự suy yếu của quyền bính trên cao, đã khai thác một khía cạnh khác của Kinh Sách để tạo ra chính nghĩa. Với lời hô hào chống đối mới: “Phan Lâm mãi/mại quốc, Triều đình khí dân”, người ta đã dùng ý niệm “dân” của Mạnh Tử để thay cho một “cương” quen thuộc, đẩy lẹch hướng trung quân cũ tuy vẫn chưa dám rời bỏ nó. Lí tưởng mới nâng cấp sự chống đối, quá khứ được khai thác mạnh mẽ nên dù con cháu nhà Lê bị đày hết vào Nam, Tự Đức cho về quê cũ cũng không dám nghe theo, người ta vẫn dựng lên những ông vua Lê mới. Đến cả một anh Cai tổng (Vàng) cũng có người để phù trợ nói gì đến số càng lúc càng đông những người trốn chui trốn nhủi vì theo đạo mới. Không có thì tự mình làm vua Lê… Con cuốc/”quốc” ở phía bắc đèo Ngang không còn chỉ là ý niệm nuối tiếc mà đã trở thành hiện thực chống đối của vùng đất Bắc Hà xưa. Sự căm ghét nhà Nguyễn gần đây của các chính trị gia xuất phát trong vùng này, được nâng cấp thù hận dưới chiêu bài chống phong kiến, nhập nhoà trong tình cảm yêu nước hung hăng, vốn đã có nền tảng là nguyên nhân địa-chính trị từ rất lâu đó.

Rồi khủng hoảng lại nảy ra bên trong nhóm người nằm ở đỉnh cao chính quyền. Tự Đức yếu ớt không phải chỉ vì bệnh hoạn như ông than thở mà còn chính vì sự khủng hoảng tiếp nhận ngôi vị từ Thiệu Trị. Không hẳn ông lên ngôi nhờ Trương Đăng Quế như người ta đồn đoán – kể cả việc cho ông là con ông Phụ chính, nhưng một người mất ngôi – Hồng Bảo – từng có vị trí chính thức mà lại bị thay đổi thì sự hoang mang tất cũng phải xảy ra. Các vua đời trước không thấy có chuyện vừa lên ngôi thì xảy ra việc các ông quan ở Viện Cơ mật hục hặc nhau như với Tự Đức! Ngày trước có giành quyền thì con cháu Hoàng tử Cảnh có được các ông Tổng trấn bênh vực cũng phải bỏ cuộc vì tướng lãnh cũng thuộc vào thế lực suy tàn do chiến tranh đã là quá khứ. Các ông hoàng chống đối không còn tên kia chỉ thấy dạng lấp ló trong các đoàn quân Xiêm trên đất Cao Miên mà mang tên Việt: Trấn Tây Thành. Bây giờ giành quyền với Tự Đức, Hồng Bảo ít nhiều gì cũng có khá đầy đủ những lực lượng gợi nhiều hi vọng hơn. Một người liên can bị tước “quốc tịch”, mất họ vua: Tôn Thất Bật, chỉ bị hạch tội khi đã chết (1854), còn lúc sống (trước 1852) thì đầy quyền uy của một tướng lãnh, của một “tôn thất”. Một Đào Trí Phú bị xử lăng trì (đến nỗi con cháu sau này phải tự cứu bằng cách hùa theo loạn ở Sơn Tây 1859), ông quan đó chuyên đi tàu biển đem tiền về cho vua – nhân tiện cho cả mình “gia tài hàng vạn”, tội lỗi không được kể chi tiết nhưng chắc vì lí do “thông hiểu tiếng nước ngoài”, có liên hệ nhiều với bên ngoài mà được nhờ cậy. Đúng là hướng của Hồng Bảo nhắm tới khi ông tính chuyện trốn đi, mong ước sự giúp đỡ của lớp người có đạo, lớp dân mới của ông có sự yểm trợ rõ ràng của một sức mạnh không chối cãi.

Vụ loạn Đinh Đạo và “giặc Chày Vôi” (1866) xảy ngay ở Hoàng thành làm ông vua yếu ớt, già bệnh bớt thêm sự kính nể, để các ngôn quan chen vào chê trách. Nhân vật chống đối quyền vua như Đoàn Trưng mà văn thơ biện minh cho hành động của mình mang tiêu đề “Trung nghĩa ca” còn giữ cho người sau, chứng tỏ có một thành phần tán đồng đã không bị khuất lấp. Hình ảnh thần quyền của ông vua nói chung bị thương tổn làm tăng sự kiêu ngạo của các đại thần khi có khủng hoảng kế vị, trước những ông vua “có tì tích” như trường hợp Dục Đức. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế được Dục Đức thì cũng có đà để giết Hiệp Hoà, người chủ trương hoà hoãn để trị cường thần. Vua không chịu uống thuốc độc thì vạch miệng vua đổ vào, người giết vua về sau chết trong ngục vì tội khác!

Ngay khi ngồi trên ngai, được tuân phục, ông vua cũng vì những tình thế phức tạp mà gây sự lúng túng cho các quan chức, phải chọn phe phía theo sự trôi nổi của tình thế xảy ra. Kí hoà ước với Pháp, kẻ theo người chống, ai còn giữ được cái mạng hay tiếng tăm, đôi khi chỉ là chuyện tình cờ. Nạn nhân khoa bảng đầu tiên ở xứ Nam Kì là Đồng Tiến sĩ Phan Hiển Đạo. Ông này làm Đốc học Định Tường, từng mộ quân chống Pháp lúc đầu, khi đất thuộc về chủ khác đã biết tìm các tránh né ân sủng mới, nhưng về lâu về dài cũng “theo thời” để treo cờ Tây, mặc áo quần Tây. Thế là bị ông Khâm sai Phan Thanh Giản và các quan khác tố cáo. Nghe tin buộc tội, tuy biết chắc là triều đình không với tới mình được nhưng ông cũng đến trước mồ cha thắt cổ để tự thanh minh, để lại cho người sau, kẻ nào biết nhìn đời với con mắt khoan dung hơn, thấy ra một trường hợp xung đột bi đát của hiện thực và lí tưởng.

Hoàng Kế Viêm chống Pháp không xong còn chạy về được Huế sau trận mất Hưng Hoá để tiếp tục làm quan. Nhưng các ông quan khác của triều đình: tuần vũ, tán tương, ngự sử… nếu không bị quân Thanh giết thì theo thời thế lãnh quan chức Trung Quốc chống Pháp, chết trên trạn tiền hay lưu lạc theo các toán quân lui về bên kia biên giới, chết nơi đất khách, mở đường lưu vong như Tôn Thất Thuyết về sau. Chút vướng víu với tổ quốc trước khi thất bại, giúp họ không phải bị người sau hặc tội lãnh quan chức của một phe, không tránh khỏi có lúc là phe địch. Đó là trường hợp Phan Liêm, con Phan Thanh Giản, chống Pháp, bỏ chạy về Huế, lãnh quan chức cầm quân đánh dẹp Cần vương của thời hỗn hợp. Có nghĩa là người Pháp đã khiến cả một hệ thống quyền lực trung gian phải tan rã, không phải như một tình trạng thất nghiệp chính trị mà là cả một sự mất mát ý nghĩa giá trị tồn tại.

Mầm mống Gia Tô không phải làm phân hoá xã hội theo hai phe rành rẽ mà còn vạch ra những hướng phức tạp hơn. Có ít nhưng vẫn có người theo đạo không rời bỏ đất nước trong cái thế hợp tác chông chênh: Nguyễn Trường Tộ đưa bao nhiêu bản điều trần cứu nước là điều nay đã rõ ràng nhưng công trình tham dự xây cất nhà thờ trên đất Sài Gòn mới thuộc Pháp cũng là chứng cớ để người chống đối có cớ công kích. Dấu vết “đạo” không được nêu ra nhưng là căn cứ sâu kín để có kẻ bác bỏ sự thành tâm của con người không tìm được chỗ đứng kia. Chưa kể những chứng dẫn thời sau mà người gần đây đưa ra để bào chữa “Công Giáo không theo Tây”, từ 1874, giữa trào lưu Sát tả rầm rộ vẫn có “Nghĩa khuyến giáo dân tân cựu ca” của Lê Di Trung khuyên giáo dân sống tuân thủ luật đạo, đời để xây dựng đất nước, khôi phục Nam Kì (Cao Tự Thanh 1999). Có những người bị bách đạo, tự tìm được điểm hoà hợp giữa lí tưởng cũ và mới để giữ vững niềm tin của mình. Thực lục 1839 ghi nhận có hai người lính tỉnh Nam Định, bỏ địa phương đến Huế kêu cầu: “Ông cha chúng tôi đời đời theo đạo Gia Tô, năm ngoái chúng tôi nhảy qua giá thập ác là do quan tỉnh bắt ép, nay vẫn xin theo đạo ấy để giữ vững đạo làm con”. Nghĩa là, đối với những người này, đạo mới không mâu thuẫn với truyền thống mà lại được truyền thống chữ Hiếu củng cố thêm niềm tin, dù là phải dẫn đến cái chết.

Về phía khác, một lớp người theo đạo mới thấy mình được dịp tạo lập công danh dễ dàng, quá dễ dàng hơn là nằm nghiền ngẫm kinh sách. Trần Bá Lộc, “bồi” của Philastre, theo thời thế tổ chức quân đánh dẹp, tự chế cả ấn Khánh Thuận Tổng đốc Quan phòng để đi đánh Bình Định, Phú Yên. Lại còn có các toán lính tập, mã tà Nam Kì tham dự chiến dịch Bắc Kì từ 1984, như phải có trong dự án 27-4-1883 trình lên Quốc hội Pháp, phối hợp 3000 lính viễn chinh có “1000 lính An Nam”. Những người đó đã mang trong đầu óc một hình ảnh trung thành mới, hay ít ra, đã không có ông vua trong đầu nữa. Chưa kể nhân vật Trương Vĩnh Ký, là minh chứng về một trường hợp vượt nhiều thế kỉ văn hoá mà chỉ qua một sự tiếp xúc dù sao cũng là còn trên vùng bên lề (Penang, và các tiếp cận cá nhân), cả khi đến được nơi tràn ngập dòng chính thì chỉ là nhân viên phụ thuộc một phái đoàn (Phan Thanh Giản) điều đình thất bại. Nghĩa là với thời gian, sự mất quyền lãnh đạo ở Việt Nam không chỉ giản dị là có một triều đại đã sụp đổ mà là có một quan niệm quyền bính đã đi qua, với một số người, là không thể nào trở lại được với danh nghĩa cũ nữa. Nền móng quân chủ bị lung lay đến tận gốc.

Tất nhiên là theo với thời gian thì cũng có những yếu tố mới xen vào, nhưng cứ so sánh hai nền quân chủ Kampuchia và Việt Nam sau 1945 thì thấy sự khác biệt do bởi sự đảo lộn về trước. Norodom Sihanouk vẫn là thần tượng của dân chúng đến nỗi Pol Pot còn phải nhờ cậy ông một thời gian, còn ông Bảo Đại thì khi trở lại cũng không có chút hào quang quân quyền nào ngay trong vùng mình quản lí – sự sa sút cũng có phần thừa hưởng từ việc cha ông bị thần dân mắng chửi tàn tệ (Ngô Đức Kế: Ai về địa phủ hỏi Gia Long, Khải Định thằng này phải cháu ông”, Phan Châu Trinh: Thư Thất điều) mà hành động, ngược đời thay, vẫn là do chút bám víu vào oai quyền của người Pháp, nhờ họ tách rời vua với dân!

Ấy thế mà vấn đề chiến tranh, xung đột quốc gia cũng còn phải chịu đựng những hệ luỵ của quá khứ, của tính chất địa chính trị trong vùng. Sự xung đột văn hoá quá gay gắt không chỉ va chạm đến sự sống còn cụ thể mà còn động đến cả tâm tình sâu kín của con người thành tựu qua năm tháng lâu dài. Đã nói, khi còn yên vị tương đối, Tự Đức còn thấy khổ tâm về việc mượn quân Thanh dẹp loạn biên giới. Nhưng khi quân Thanh sang về sau (1882) dân Bắc đồn rằng “Người Thanh đến để tranh Bắc Kì với người Pháp”, rõ ràng biểu lộ nỗi lo sợ bị chiếm đóng thì Tự Đức gạt đi, bảo rằng đó là “Lấy lòng kẻ tiểu nhân đo bụng người quân tử, người nước Thanh đâu có làm việc bất nghĩa như thế!” Người báo cáo sự việc, Tuần vũ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích, sau này sẽ lãnh quan chức Thanh đánh Pháp như lời vua dạy. Về phía khác, lời Tổng trú sứ đầu tiên Rheinart gởi cho Thống đốc Nam Kì Thomson tất nhiên có điều gay gắt nhưng cũng cho nhận ra được một tình thế xung đột văn hoá giữa tiếng súng đạn và cảnh máu đổ xương tan: “Triều đình Huế chắc cũng hối hận chuyện nội thuộc nước Tàu nhưng tôi chắc rằng họ muốn trở thành một tỉnh của nước Tàu hơn là nhận ta bảo hộ, mặc dầu ta cho họ nhiều lợi ích và để họ tự chủ trong việc cai trị. Người Tàu là chú hoặc anh, chúng ta là mọi rợ. Chế độ Tàu sẽ thay đổi rất ít đến tập tục của các quan, còn phụ thuộc ta là một điều nhục nhã còn khó chịu hơn là tự tử”. Nhận định của Rheinart có thể làm người bây giờ nổi giận nhưng quả thực đã có tình hình các ông quan thấm nhuần kinh sách đến có khuynh hướng thần phục ẩn tàng, ví dụ khi trọng nể cả một anh “Tiến sĩ” Trung triều (Thái Đình Lan, chỉ vừa đỗ Cử nhân) bị bão dạt, lang thang về xứ (1835-36), mà lại được quan tỉnh khúm núm đưa tiễn tiền bạc cung phụng, kể cả lúc lỡ đang phơi áo bắt rận! Nhìn từ bên ngoài như Rheinart, hay thốt lời tự thú bên trong như Tự Đức, đã cho thấy mối tương quan Thiên triều phiên thuộc không thể dễ dàng dứt bỏ khi người cầm quyền Việt Nam thấy động đến sự tồn vong của mình. “Thân Tàu” là một khuynh hướng trước khi có biện minh của lí trí xen vào. Và tuy lịch sử là của con người làm ra nhưng những con đường mòn của quá khứ vẫn rất dễ hấp dẫn những bước chân chuệnh choạng đang đi tìm lối.

PHỤ LỤC

HOÀ và CHIẾN

Ý kiến của Khâm sai Đại thần Nguyễn Bá Nghi sau khi thất thủ Định Tường:

Thực lục chính biên, việc tháng 4âl. 1861 (bản dịch, tập VII, tr. 715-717):

Sự thế Nam Kì. duy việc giảng hoà còn có thể làm được. Nếu không như thế sẽ có việc lo ngại khác… (Tờ tâu đại lược nói): Tôi vẫn nghe người nhà binh nói: người Tây Dương tàu thì chở đi như bay, súng thì bắn suốt thành đá vài nhận, bắn xa hơn 100 dặm. Có được vài thứ binh khí ấy, muốn đánh khó lòng đánh lại họ, muốn giữ cũng khó lòng giữ được họ. Nhưng lòng tôi vẫn chưa tin. Mùa xuân năm Thiệu Trị thứ 7 thuyền Tây Dương đến Đà Nẵng bắn phá 5 chiếc thuyền bọc đồng lớn của ta không đầy vài khắc. Lúc ấy tôi quyền Bố chánh Quảng Nam, chính mắt đã trông thấy mới tin là thật. Từ 3-4 năm nay, lính ta không phải là không dũng cảm, súng ta không phải là không mạnh, thành luỹ của ta không phải là không bền, thế mà không đánh được Tây Dương vì thuyền súng của họ rất tốt, đạn súng bắn đi xa mà mạnh đấy thôi. Nhưng các quan ở quân thứ, không biết tính sức mình sức giặc, miễn cưỡng đánh mãi đến nay mới có việc thất bại ấy. Tôi đến Biên Hoà, xét thấy tình thế đều là nguy bách. Bất đắc dĩ phải phái người đến trách hỏi viên nguyên soái của Tây Dương dẫu rằng tạm làm kế hoãn binh nhưng thực ra tôi thấy sự thể đánh và giữ đều không làm đươc. Không hoà thì không định được cục diện…

Lại xem khoảng năm Minh Mạng, Thiệu Trị, đánh giặc Khôi, Xiêm La, Cao Miên… thế mà lấy toàn lực… đánh một giặc Khôi phải ba năm mới xong việc, dẹp một nước Cao Miên cũng phải hai năm mới giảng giải xong. Nay hai tỉnh Gia Định, Định Tường là nơi quảng giữa trong 6 tỉnh, trên từ bọn Sơn Man, dưới đến cửa biển, người Tây Dương đã chiếm giữ được cả, còn 3 tỉnh Vĩnh Long, An, Hà thì cách trở không thông, Biên Hoà đã liền sáp với nó… Tuy 4 tỉnh ấy đều có thuyền nhưng khó đối địch với tàu của Tây Dương được. Cho nên tôi có nói rằng dẫu có nhiều thuyền quân cũng chưa dùng được là thế đó. Hiện nay Tây Dương đã chiếm cứ Gia Định, Định Tường, hoà hay không hoà chỉ một việc ấy ta đã thua thiệt rồi. Nếu hoà mà họ không trả lại hai tỉnh ấy thì ta chỉ thua thiệt có bấy nhiêu thôi, mà Biên Hoà, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên còn là của ta, đường bộ đường biển có thể giao thông được, để cứu cấp trước mắt mà tính cách thế về sau. Nếu ta cho thế là thua thiệt mà không hoà thì nó có chịu ngồi yên đâu, cả 6 tỉnh Nam Kì rồi cũng mất cả. Không có sự thực đánh giữ, chỉ phô trương hình thức, chỉ cho giặc chóng sinh lòng mà thêm tổn hại thôi. Cho nên gần đây tôi không đắp đồn luỹ, bớt việc trưng lương gọi lính, là vì cớ đó. Đấy là chủ ý của tôi. Duy quân Tây Dương yêu cầu quá đáng, tôi cố sức biện bạch, đã đến 4 lần, mà khí thế của họ rất găng, giở giọng dã man. Tôi đã lại nói như trước, cho là cắt đất bồi phí tổn như thế, thực là có chỗ không tiện, không chịu nổi, cho nên chưa dám y theo. Đã phái người đưa thư. Viên quan Tây Dương ấy nói rằng: “Việc ấy khó giải quyết, đợi mươi ngày nữa sẽ bàn lại”. Vả lại, cứ phái nhân về nói thì xem giọng nói, cách khoản tiếp của họ cũng như mấy lần trước, không có tình ý gì khác. Xem thế thì đủ biết ta không sinh sự với họ thì họ cũng chưa vội lấn át ta. Hãy đợi họ xem trả lời thế nào, sẽ tuỳ cơ mà làm. Hiện nay sự thế 6 tỉnh Nam Kì như thế, chỉ có một chữ “hoà” còn có thể làm được. Nhưng hoà thì một khoản mất đất ta đã thua thiệt. Bởi họ cho là của họ đã lấy được rồi, họ nhất vị cố giữ, ta cố kiếm lời biện bạch cũng khó. Còn các khoản khác, ta lấy lời biện bác, hoặc có thể bớt đi đươc. Cúi mong Hoàng thượng quyết đoán mà làm…”

Phái chủ chiến

Trong khi trần tình bênh vực ý kiến của mình, Nguyễn Bá Nghi cũng chen lời chê trách phái “chủ chiến” chỉ biết hô hào: Đánh! Nguyễn Tư Giản, phụ trách Đê chính ở Bắc Kì, nghĩa là thuộc lính-ngoại-biên, đã chống đối quyết liệt việc giảng hoà, động đến quan Cơ mật: Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, khiến Tự Đức cũng phải lên tiếng: “Hắn ở ngoài, không hiểu việc, cho nên câu nói thành ra bực tức, cũng là thói thường của nhà văn sĩ như (tổng đốc [Nam]Định [Hưng]Yên) Nguyễn Đình Tân thôi…” Mà càng đánh thì càng thua, càng thúc quân địch mở rộng khu vực chiếm đóng, nên theo Nguyễn Bá Nghi là còn có thể ngăn chận được bằng hoà đàm để còn “tính (được) cách (nào) về sau”. Thật ra, khác với những kẻ đánh hôi trong những sử luận thời bây giờ, những người chống đánh đương thời, ngoài các ông quan làm theo chức phận, rõ ràng cũng đã không kể đến hiểm nguy trước mắt. Nhưng họ có phần chỉ làm theo bổn phận được dạy dỗ hàng ngày, theo sự thúc đẩy vô thức của cả một nền tảng triết lí, quan niệm sống đã thành nếp, thành niềm hãnh diện sống để sự đối kháng đầy tủi nhục làm bùng lên nỗi tức giận không lí lẽ gì kềm hãm được. Và chỉ có thế mà thôi. Nghĩa là những người chủ chiến đương thời không phải hoàn toàn mang tâm tình “yêu nước” như người nay vọng tưởng.

Đã thấy quan niệm Di Man từ trên triều đình, theo một nền văn hoá tự cho mình là trung tâm cao vời, không kể đến sự hiện hữu của các giá trị khác. Và cái Không biết vẫn có sức mạnh của nó. Không biết cả ngay từ chính bản thân. Văn từ, tấu chương thường vẫn vẽ ra một vùng trời Nghiêu Thuấn tuy còn là cái đích hướng tới nhưng trước mắt thì xứ sở vẫn có vua thánh tôi hiền, lo cho dân an cư lạc nghiệp, có loạn thì bình trị, có đói nghèo thì đi chẩn cấp, biết biểu dương người hiền, tiết phụ, người cao tuổi… Khung trời an lạc đầy ảo vọng được phô trương mãi rồi cũng trở thành như một hiện thực để người ta phủ nhận những hiện thực khác với nó. Thói quen nói “chữ”, nói theo thời thế, thật ra cũng che chắn cuộc sống xấu xa, nói nhẹ hơn, cuộc sống có khuynh hướng xấu nhiều chung quanh họ, như ông quan Phan Thúc Trực đã ghi lại trong một tập sách chưa hoàn chỉnh. Di Man rõ ràng không thể nào bằng được Ta. Ý nghĩa đạo đức trong nền tảng hành động của Trương Đăng Quế khi đối phó với vụ Đà Nẵng 1858 đã nói ở trên, là lấy từ sức mạnh của cái Không biết về phần bên ngoài mình, tạo ra sự cương quyết của chính bản thân để người Pháp xếp ông vào hàng chống đối có hệ thống nhất.

Cái xấu che đậy bên trong được đùn đẩy ra bên ngoài, gán cho những tập đoàn khác, đặc biệt là “bọn Dương quỷ”. Và thế là có cách nhìn Thiên Chúa Giáo như di man khiến không phải chỉ có các biện pháp hành chính tàn nhẫn – thật ra là bình thường của thời đại – mà còn có cả toan tính bài bác bằng luận thuyết như trong cuộc thi Đình 1847 có hỏi về kế “trừ đạo”. Đó là ngọn lửa nung nhiệt huyết của những người chủ chiến, ngọn lửa không được nuôi nấng bằng thực lực của đất nước, để khi cùng đường thì lại cũng vẫn tìm đến mẫu người xưa cùng văn hoá: Thân Bao Tư kêu khóc ở sân Tần, mẫu người mà ông quan Nguyễn Tư Giản tình nguyện đi làm ở nước Đức xa xôi, nơi chắc ông cũng chẳng biết rõ là ở chốn nào.

Một điều đáng lưu ý khác ngoài lề trong cuộc tranh luận chiến/hoà này là chi tiết Thực lục nói rằng Nguyễn Bá Nghi đã gởi về triều cả các văn thư qua lại giữa ông với Soái phủ Sài Gòn nhưng nay thì ta chỉ thấy những lời trong tờ trình, mà cũng chỉ là tóm lược. Mớ chứng liệu vừa được nhắc nhở và sử dụng một ít gần trăm năm trước bởi các ông giáo trường làng (mượn chữ của Phạm Quỳnh: “hương sư”) BAVH, thì đến nay, các Châu bản lại trở thành khuất lấp, không thấy ai khai thác thêm trong các nghiên cứu tiếp tục. Nền sử học của ta nghèo nàn như hiện nay cũng vì không có một hệ thống văn khố, một quan niệm giữ gìn thư tịch, chứng liệu nhiều cấp độ dành cho đời sau. Muộn màng như triều Nguyễn với các Châu bản mà nay cũng bị rơi rụng nhiều. Và hãy nhìn cuộc chiến vừa qua. Những phe thất bại bị huỷ bỏ chứng tích, ngăn cấm tiếp cận không nói làm gì, ngay đến các sử gia chính thống bây giờ cũng gặp phải những ngăn trở dưới hình thức “vấn đề nhạy cảm”, gặp khó khăn trong những quy định lạ lùng chận đứng tiếp cận tài liệu, để rồi cũng từ tinh thần đó mà dấu tích về chính của phe mình cũng không nhiều. Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm mà không qua Mĩ, rồi trở lại Việt Nam đúng luồng, đúng thời thế thì cô bác sĩ tiểu tư sản kia chắc cũng vẫn nằm thui thủi ở nghĩa trang nào đó chứ không được dựng tượng đồng, đứng tên bệnh xá, có sách bestseller “mãi mãi tuổi hai mươi”, được lên phim ảnh có giải thưởng ăn-chắc. Các nghiên cứu thời hiện đại thật nhiều chi tiết cũng phải lấy dè dặt từ các tài liệu ngoại quốc chứ sách vở của các danh gia trong nước thì vẫn nhiều lời rổn rảng, xưng tụng trong khuôn khổ, không bước được ra ngoài cái khung Văn kiện Đảng – hay có muốn mang tính trung thực thì vẫn thấy đột nhiên xuất hiện một thứ ngôn từ “yêu nước”, “yêu quần chúng” đã trở thành thiên tính thứ hai ẩn nấp từ trong thời gian đào tạo quá lâu dài! Cho nên có thể bước quá lãnh vực sử học, đi vào văn chương để giải thích vấn nạn : Tại sao Việt Nam không có một tác phẩm văn học xứng tầm với các biến chuyển lịch sử nó phải đương đầu?

.

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)