Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 28, Tiểu luận Email bài này

Nghĩ Trong Một Xã Hội Tan Rã (#28)

0 bình luận ♦ 15.06.2007


LTS:
Nghĩ Trong Một Xã Hội Tan Rã là một tập tiểu luận nhiều chương về các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, giáo dục, quân sự, ngoại giao… của miền Nam giai đoạn 54-75 , viết trong bối cảnh đặc thù của cuộc chiến Nam Bắc, soi rọi trong các tương quan lịch sử và thế lực quốc tế. Theo tác giả, đây không hẳn là một tập tiểu luận hiểu theo nghĩa thông thường, mà là những bài báo gom góp lại trên những tập san có chủ đề của nhóm văn hóa Thái Độ, đưa ra những phương thức để mong cứu vãn và tìm cách thế xây dựng lại một xã hội mới qua ý thức đấu tranh cách mạng.
Những vấn đề trong toàn tập tiểu luận là bằng chứng xác thực về tự do ngôn luận, tuy tương đối, tại miền Nam giai đoạn 54-75. Tác giả đã phân tích cặn kẽ những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của xã hội miền Nam, mà sự cáo chung của văn học miền Nam là hệ quả.
Theo đề nghị của tác giả, Da màu đã giới thiệu chương 4 – Việt Nam qua Quân Lực trên da màu số 27.
Trên số này mời bạn đọc theo dõi chương 5 – Nhìn Lại Chiến tranh Của Chúng Ta.
Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu các chương còn lại trong những số kế tiếp.

nhìn lại chiến tranh của chúng ta

Vào một đêm trong núi rừng Việt Bắc năm 1913, Hoàng hoa Thám bị hai kẻ đánh mướn cho người Pháp hạ sát trong khi nằm ngủ cạnh đống lửa. Với cái chết âm thầm của người hùng uy vũ bất năng khuất này, từ ải Nam quan tới mũi Cà mâu không còn một người Việt cầm súng nào: người Pháp đã hoàn tất công cuộc tạo lập một thứ “hòa bình Đông Pháp”.

Nhưng với cuộc cách mạng văn hóa của Đông kinh nghĩa thục, mầm mống chống chiến tranh đã bắt đầu hiển hiện. Trong những kẻ sĩ trẻ phản tỉnh vì Đông kinh Nghĩa thục, đã có những chọn lựa khác nhau về phương thức giải phóng dân tộc và quan niệm xây dựng xã hội mới. Chọn lựa thứ nhất là chọn lựa của Nguyễn thái Học và những người cách mạng quốc gia. Chọn lựa thứ hai là chọn lựa của Nguyễn Ái Quốc và những người cách mạng kiểu cộng sản. Con đường tranh đấu đã dị biệt từ gốc nhưng họ không thù ghét nhau như bây giờ bởi vì vào thời kỳ ấy họ cùng có một kẻ thù chung là người Pháp và sách lược liên hiệp đang được Đệ tam Quốc tế theo đuổi trên khắp thế giới.

Những người cách mạng quốc gia đã thực hiện được cuộc khởi nghĩa Yên Báy 1930 và đã thất bại, những kẻ sống sót lẩn trốn sang Tàu. Những người cách mạng cộng sản tổ chức nổi dậy năm sau đó tại Nghệ An và đã thất bại, những kẻ sống sót cũng chọn Trung hoa làm nơi cư ngụ. Cả hai bên cùng dựa vào những đảng phái cùng chủ thuyết tại Trung hoa để mưu đồ phục hồi lực lượng tại quốc nội. Và người Trung hoa, dù là Quốc hay là Cộng, đều dung dưỡng những kẻ lưu vong để duy trì những cán bộ có thể mở đường cho mình xuống Đông Nam Á sau này, khi người Pháp vì cớ gì mà phải rời bỏ bán đảo đông nam lục địa Á châu.

Tại những tỉnh miền Nam Trung hoa, những người cộng sản và quốc gia tiếp xúc mật thiết với nhau trong suốt thời kỳ trước 1939. Sự tiếp xúc gia tăng khi thế chiến II bùng nổ, mang lại một hi vọng mới cho những dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Hai bên cùng nỗ lực vận động và cùng gắng công tổ chức nội bộ đảng phái. Trong địa hạt thứ hai này, những người cộng sản thành công hơn vì có nhiều cán bộ được huấn luyện chu đáo và phương thức tổ chức có nhiều ưu điểm. Nhưng trong cuộc chạy đua tạo uy thế và lực lượng này, hai bên vẫn chưa lâm vào tình trạng thù nghịch với nhau.

Năm 1940, vì nhu cầu tiếp vận, quân đội Nhật tiến vào Việt Nam. Lập tức, “hòa bình Đông Pháp” tiêu tan. Bấy giờ trên bán đảo Ấn độ -Trung Hoa, đã có nhiều thứ chiến tranh khác nhau: chiến tranh giữa Nhật và Không lực Đồng minh, chiến tranh cân não giữa người Pháp và Nhật, giữa Pháp thân Pétain và Pháp thân De Gaulle… Nhưng trong tất cả các chiến tranh đó, người Việt đa

số chưa có tư cách gì hơn là làm khán giả và nạn nhân.

Nhưng tư cách khán giả bị tước đoạt rất nhanh khi người Nhật cũng như người Pháp, người Anh, người Mỹ thấy cần phải lôi kéo những khán giả ngơ ngác bỏ xứ chạy núp bom đạn ấy làm đồng minh cho mình. Chính sự kiện này đã là mầm mống đầu tiên của cuộc chiến tranh bi thảm đã kéo dài trên hai mươi năm và còn tiếp tục chưa biết đến bao giờ.

Người Nhật đưa Đại Đông Á ra làm chiêu bài và chủ trương “châu Á của người Á” ra làm yếu tố liên kết tinh thần. Về thực tế, họ khuyến khích và giúp đỡ những người ái quốc Việt Nam nổi lên chống phe Đồng Minh Tây phương, nhất là chống người Pháp. Các đoàn thể, giáo phái do họ bảo trợ hoặc khuyến khích lần lượt ra đời. Miền Bắc có Đại Việt là đáng kể, miền Nam có các giáo phái Cao đài, Hòa hảo là mạnh.

Người Trung Hoa lo ngại trước sự kiện này. Lo ngại rằng một ngày kia nếu nước Việt Nam độc lập, người Việt sẽ chống đối mình như tổ tiên họ đã từng làm bao nhiêu thế kỷ về trước. Lo ngại gần hơn là e sợ nếu người Việt ngả theo người Nhật thì dù là Tầu theo Mao trạch Đông hay Tầu Tưởng giới Thạch, cũng sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn trên lục địa, nơi mà cho tới giờ phút ấy, quân Nhật xâm lăng đang thao túng suốt dọc duyên hải.

Người Mỹ, người Anh cũng lo ngại vì những lý do khác hơn. Những người cầm quyền Pháp tại Đông dương đã ngả theo chính phủ Pétain thân Đức làm cho các nguồn tình báo của phe Đồng minh bị kiệt. Hơn nữa, người Nhật đồn trú tại Đông dương làm phe Đồng minh mất hải cảng Hải phòng, chỉ còn có thể tiếp tế cho Trung hoa bằng phi cơ và bằng con đường Miến điện quá nhiều bấp bênh.

Vì những lý do như thế, chính phủ Tưởng giới Thạch, với sự đồng ý của các đồng minh Tây phương, nhất là Hoa kỳ, đã trao cho tướng Trương phát Khuê nhiệm vụ qui tụ các nhà cách mạng Việt Nam lưu vong thành một tổ chức dưới sự bảo trợ và xử dụng của mình. Do quyết định này, các lãnh tụ các đảng cách mạng Việt Nam lần đầu tiên tới ngồi chung với nhau tại hội nghị Liễu châu ngày 4-11-1942. Kết quả của hội nghị là sự hình thành một tổ chức liên hiệp quốc cộng đầu tiên của Việt Nam, tổ chức mang tên là Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh. Điều cần lưu ý là trong hội nghị Liễu châu này không có mặt Nguyễn ái Quốc, cựu bí thư của Borbondine, kẻ đã bị chính quyền Tưởng giới Thạch bắt giam vì thành tích của một cán bộ bôn-sơ-vích hữu danh.

Vị chủ tịch thứ nhất của Mặt trận Việt Minh là NGUYỄN HẢI THẦN, một người cách mạng quốc gia thân Quốc dân Đảng Trung hoa, được chính phủ Tưởng giới Thạch trợ cấp mỗi tháng 100,000 CN để tổ chức tình báo và phá hoại quân Nhật tại Việt Nam. Phe Cộng sản Việt Nam không được chia xẻ gì trong số tiền trợ cấp này, nhưng bù lại, họ được hưởng lợi về tinh thần: các cán bộ quốc nội từ đây có thể nhân danh đoàn thể các đảng cách mạng Việt Nam để tuyên truyền, vận động tổ chức.

Có trợ cấp rồi, các đảng phái quốc gia nỗ lực làm việc, nhưng vì thiếu các tổ chức cơ sở tại nội địa, họ không những không phá hoại được gì, tin tình báo cũng không thu nhập được. Người Hoa Kỳ, qua tổ chức tình báo OSS, bắt đầu bất mãn. Tướng Trương phát Khuê sợ bị khiển trách, ra công đốc thúc Nguyễn hải Thần nhưng kết quả thu hoạch cũng không đáng kể. Biết các khó khăn đó, từ trong tù, Nguyễn ái Quốc đề nghị với tướng Trương là nếu được tha, sẽ bảo đảm làm được công tác phá hoại và tình báo. Đồng thời cũng đổi tên hiệu cán bộ cộng sản quốc tế Nguyễn ái Quốc thành Hồ chí Minh để ngụy trang xuất xứ.

Đề nghị của Hồ chí Minh được chính phủ Tưởng giới Thạch lẫn cơ quan OSS chấp nhận; Hồ chí Minh được tha, được đề cử làm chủ tịch VNCMĐMH từ tháng 2-1943 và đương nhiên thụ hưởng số tiền 100.000 CN mỗi tháng. Như vậy các đảng phái quốc gia đã thua đảng Cộng sản trận thứ nhất, nhưng là trận quyết định việc thành bại sau này trong công cuộc tiến tới chính quyền tại Việt Nam.

Sau một thời gian, nhờ sự trợ cấp của chính phủ Tưởng, nhờ ở chức vị chủ tịch Việt Minh của Hồ chí Minh, nhờ sự trợ giúp vũ khí của OSS, đảng Cộng sản Đông dương mỗi ngày một mạnh. Những người Pháp thân De Gaulle lo ngại, liền tố cáo với Tưởng rằng Hồ chí Minh chính là Nguyễn ái Quốc. Biết sự thật rồi, chính phủ Tưởng liền hạ tối hậu thư cho Hồ chí Minh, bắt phải đình chỉ mọi hoạt động riêng rẽ và phải vào nằm trong một tổ chức liên hiệp Quốc Cộng mới. Hội nghị Liễu châu 2 được triệu tập và hai phe Quốc Cộng đấu khẩu dữ dội. Nhưng dù vậy, sợ bị Trung hoa bỏ rơi, nên cả hai lại cố gắng đi đến một liên hiệp mới. Một chính phủ đầu tiên của Việt Nam kể từ khi vua Hàm Nghi bị bắt, được thành lập và đó cũng là một chính phủ liên hiệp Quốc Cộng với thủ tướng là Trương Bội Công và các bộ trưởng Nguyễn hải Thần, Vũ hồng Khanh, Hồ chí Minh, Nghiêm kế Tổ… Tổ chức OSS và người Mỹ nói chung rất hoan hỉ trước thành quả này.

Cuộc Liên hiệp Quốc Cộng lần thứ hai vẫn chỉ có Cộng sản là lợi bởi vì vẫn chỉ có họ mới có nhiều cán bộ, nhất là cơ sở tại quốc nội. Ngay sau khi hội nghị Liễu Châu 2 kết liễu, đảng Cộng sản Đông dương vẫn nhân danh Việt Minh, phát triển các chiến khu tại Việt Bắc dùng du kích chống Nhật cùng rèn quân chỉnh cán đợi ngày khởi nghĩa.

Ngày 17 tháng 8-1945, Việt Minh chính thức hoạt động tại Hà nội. Và vẫn chỉ có mình họ tổ chức, có cơ sở và có cán bộ vững cùng lãnh đạo khá, các cán bộ Cộng sản đã thành công trong việc lấy chính quyền tại Việt Nam. Qua tháng 9-1945, Đại Hội Đảng Cộng Sản Đông Dương quyết định rằng: “Đảng sẽ nắm độc quyền điều khiển Mặt trận Việt Minh”. Chính quyền này đã mở màn cho một cuộc nội chiến khốc liệt kéo dài cho tới ngày nay.

Chiếu theo quyết nghị của phe Đồng Minh thắng trận nước Việt bị chia làm hai miền giải giới quân đội Nhật: phần trên vĩ tuyến 16 trao cho quân đội Tưởng giới Thạch, phần dưới vĩ tuyến 16 trao cho quân đội Anh. Quyết nghị này đã đưa Việt Nam vào một thế mê hồn trận chiến hiếm có trong lịch sử mà hậu quả còn tác hại trong xã hội Việt Nam không biết cho tới bao giờ.

Người Trung hoa muốn nhân dịp này biến Việt Nam thành một nước phụ dung và người Pháp muốn tái lập Đông Pháp. Tướng De Gaulle điều đình với chính phủ Anh cho tiền đạo của đoàn quân viễn chinh Pháp theo gót quân đội Anh tiến vào Nam Bộ trong lúc tại miền Nam đang có nội chiến giữa phe đệ tam và đệ tứ, quốc gia, với cộng sản, quốc gia thân Pháp với quốc gia thân Nhật. Và phe đệ tam đã thắng thế trong cuộc chiến này khi cuộc kháng chiến Nam bộ chống Pháp bắt đầu.

Tại miền Bắc các đảng phái quốc gia theo chân tướng Lư Hán tiến vào đồng bằng sông Nhị, đi tới đâu củng cố khu chiến của mình đến đấy. Và sau khi đã cố thủ được tại Hà Nội, phe quốc gia dựa vào sức mạnh của quân lực Trung Hoa, đòi Hồ chí Minh phải tôn trọng thỏa ước liên hiệp ký kết tại hội nghị Liễu Châu 2. Trước áp lực của Trung Hoa và Pháp, phe Cộng sản tạm nhượng bộ và Quốc Cộng Liên hiệp với nhau – lần này là lần thứ ba.

Nhưng cuộc tranh chấp ảnh hưởng tại Việt Nam giữa Tưởng Giới Thạch và De Gaulle đã kết liễu với phần thắng thế về phía người Pháp như đã xẩy ra gần một thế kỷ trước. Quân đội Trung Hoa rút, quân đội viễn chinh Pháp trở lại Bắc Việt, chiếm đóng các nơi hiểm yếu. Bây giờ chiến tranh Việt Nam bao gồm ba phe thù nghịch: phe Pháp, phe Việt Cộng và phe Việt Quốc. Hồ chí Minh, với sự lão luyện và quỉ quyệt đông phương về chính trị, đã liên kết với Pháp để diệt các đảng phái quốc gia – như Lénine đã làm khi hòa ước để thiệt thòi với đồng minh Tây phương trong thế chiến thứ I. Pháp cũng chẳng ưa gì Việt Cộng nhưng vốn kỵ những người cách mạng quốc gia, lại thấy lợi là bớt đi một địch thủ, đã đồng ý án binh gián tiếp giúp cho Việt Cộng tiêu diệt Việt quốc gia trong một cuộc thảm sát khủng khiếp kéo dài từ 1946 cho tới 1949.

Như vậy cuộc liên hiệp Quốc Cộng lần thứ ba đã chấm dứt bằng sự thảm bại của người quốc gia. Hầu hết các tinh hoa của người quốc gia đã chết trong thời kỳ này, làm cho bao năm về sau, thành phần quốc gia không sao bù đắp nổi chỗ trống lãnh đạo của mình.

Đợi cho Cộng sản tiêu diệt xong những đảng quốc gia, bớt đi một địch thủ lợi hại, thực dân Pháp thi hành chỉ thị của tướng De Gaulle, gây áp lực dần dần và dồn người Việt nói chung tới chỗ phải chọn hoặc đầu hàng cúi nhận ách thuộc địa xưa, hoặc là cầm súng chiến đấu. Và người Việt đã cầm súng chiến đấu kể từ đêm 19 tháng 12-1946 trên toàn lãnh thổ: cuộc kháng chiến thần thánh bắt đầu.

Trong bốn năm liên tiếp từ núi rừng Việt Bắc đến đầm lầy Cà Mâu, chỉ còn một thứ chiến tranh: đó là chiến tranh giải phóng dân tộc. Và từ già đến trẻ, từ Phật giáo đến Ki-tô-giáo, ai ai cũng một lòng một dạ chống ngoại xâm. Có thể nói được rằng chưa bao giờ từ bao nhiêu thế kỷ rồi, người Việt Nam lại đoàn kết với nhau đến như thế…

Nếu vào thời kỳ ấy, Hồ chí Minh cùng các lãnh tụ Đông dương Cộng sản biết rút kinh nghiệm Tito ở Nam Tư, tiến về phía hữu hơn ít nhiều thôi, cũng đủ tránh được cuộc chiến tranh bi thảm và khốc liệt tái diễn về sau. Lịch sử đã chứng tỏ Hồ chí Minh có thể làm như vậy, có thể vừa kháng chiến thành công vừa làm được cách mạng xã hội theo một phương thức như những người quốc gia cấp tiến tả khuynh có thể chấp nhận được.

Nhưng Hồ chí Minh đã không làm như thế. Ông và các phụ tá của ông đều là những người được đào luyện quá sâu trong lò Đệ tam Quốc tế, tin tưởng chắc chắn một cách tuyệt đối rằng phương thức Cộng sản bôn-sơ-vích sẽ mang lại thiên đàng hạ giới cho người Việt cũng như loài người. Bởi thế, cuối 1949 đầu 1950, ông Hồ dần dần khôi phục và chính thức đưa đảng Cộng sản Việt nam ra công khai vào 1951 dưới danh hiệu mới là đảng Lao động Việt nam để áp dụng phương thức cách mạng nông thôn theo chủ thuyết Mao trạch Đông – dù rằng Việt nam giai cấp địa chủ và tư bản lúc ấy chưa đáng kể nếu so với các giai cấp tương tự tại các nước khác. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu ngay khi Hồng quân Trung hoa tiến đến biên giới Hoa Việt và đó là một cải cách đẫm máu vô ích nhất trong lịch sử Việt nam.

Sự trở lại công khai chân tướng bôn-sơ-vích của những người lãnh đạo kháng chiến và cuộc tố khổ đẫm máu vô ích làm người Việt lại bắt đầu phân hóa, mầm mống nội chiến quốc cộng lại xuất hiện. Nhưng lần này những người quốc gia lâm vào thế kẹt: tiếp tục kháng chiến lại là bảo vệ chế độ Cộng sản, rời bỏ Kháng chiến lại trở thành tay sai cho thực dân Pháp. Những người quốc gia quả thực không còn chỗ đứng dưới ánh sáng mặt trời.

Cuộc kháng chiến chấm dứt với phần thắng về phía người Việt – cả người Việt cộng lẫn người Việt quốc gia. Nhất là người Việt quốc gia, bởi vì nhờ ở quốc tế chính trị dằng co, nhờ ở sự kiên trì vận động, nhờ ở người Hoa kỳ, họ được lịch sử dành cho một may mắn hiếm có để xây dựng một quốc gia, một xã hội mới theo ý mình.

Trong những năm đầu, Việt-Nam Cộng-Hòa có nhiều hy vọng phát triển và thắng thế trong thứ chiến tranh lạnh với Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa. Nhưng vì kém nhìn xa trông rộng, vì ham hưởng lợi, những người lãnh đạo miền Nam trong đó có hai ông Nhu Diệm đã để xã hội trước vốn đã chẳng tốt đẹp gì, nay dần dần trở thành một xã hội đầy bất công và bạo lực thối nát – trong đó những thực dân Pháp được thay thế bằng các thực dân bản xứ không kém phần bóc lột. Trước hoàn cảnh cách mạng chín mùi ấy, làm sao ông Hồ khỏi tránh được quyết định đương nhiên là sử dụng sách lược Chiến Tranh Cách Mạng để thu đất đai Việt về một mối. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập với chiêu bài chống độc tài, đế quốc và thực hiện cách mạng xã hội.

Tiếng súng nổ mỗi ngày một nhiều, người chết bên này hay bên kia mỗi ngày một đông nhưng tới 1964 – 65 phần thắng đã ngả về phía Cộng sản. Lý do thực giản dị: làm sao những người nông dân lại có thể hăng say chiến đấu để bảo vệ những địa chủ, cường hào ác bá đã bao năm đè nén bóc lột họ…

Những người cầm quyền miền Nam, với truyền thống ỷ lại ở ngoại bang, không biết làm gì hơn là đi cầu viện. Những người Mỹ tới cứu, và chỉ giúp được tới đó và cũng chẳng chắc chắn sẽ giúp được lâu.

Trong khi đó những nhà lãnh đạo miền Nam làm gì?

Đáng lẽ họ phải lợi dụng con đê ngăn sóng đỏ do người Mỹ tạo ra để chấn chỉnh và phục hồi lại sức mạnh, đáng lẽ họ phải hiểu tại sao miền Nam đã thua, đáng lẽ họ phải hiểu rằng con đường thoát độc nhất cho những người quốc gia là phải tiêu diệt cái hoàn cảnh làm phát sinh và tạo sức mạnh cho Cộng sản, đáng lẽ họ phải hiểu từ lâu rằng đảo Phú quốc quá nhỏ và nằm trong tầm trọng pháo của Hồng quân…

(bỏ 21 dòng)

Trước thực trạng đó bây giờ chúng ta còn có thể làm được gì?

Để giải đáp câu hỏi này, mỗi tập thể, mỗi tôn giáo, mỗi địa phương, mỗi người làm chính trị chuyên nghiệp… đều đã đưa ra giải pháp. Trong cái thế càn khôn hỗn độn ý tưởng và lập trường ấy, chỉ có một giải pháp hợp lý. Đó là giải pháp đặt khởi điểm trên sự nhận rõ rằng chính vì lỗi tại mình – những người quốc gia, mà chiến tranh hiện tại không còn ở trong vòng kiểm soát của người Việt nữa – dù rằng mỗi ngày cả ngàn người Việt trên lãnh thổ Nam Bắc gục xuống. Yếu tố Cộng sản, yếu tố Hoa kỳ, là những xúc tác đến sau.

Nhận định như vậy rồi, vấn đề kế tiếp đặt ra làm thế nào lấy lại quyền chủ động cho chiến cuộc chứ không phải là xuống đường đòi hỏi hòa bình công chính hay chống ngụy hòa, cũng không phải là lớn tiếng đòi hòa bình liên hiệp hay US Go Home – làm như vậy bất quá chỉ là làm hình nhân trong một trò múa rối.

Nhưng làm thế nào để lấy lại chủ quyền tối thượng cho quốc gia, làm thế nào để lấy lại quyền chủ động cho cuộc chiến… lại là một vấn đề quá khó để có thể giải đáp ngay cho trọn vẹn.

Nhưng giải pháp dù là thế nào cũng phải khởi điểm từ những người Việt và chỉ có thể phát xuất từ người Việt. Giải pháp dù là thế nào cũng phải dẫn tới được các sự kiện: các vị lãnh tụ tôn giáo thôi mơ ước độc tôn tôn giáo, các chính khác thôi mang Dân Chủ Tây phương ra làm chiêu bài xách động, thôi mang việc chống Cộng ra làm chiêu bài để che chở cho những mại bản, những tài sản thủ đắc bất chính, các đảng viên thôi mơ ước làm Lã Bất Vi buôn đảng lấy lời, các quân nhân cao cấp thôi buôn lính lấy tiền chuyển ngân hay đánh bạc, các nhà trí thức đủ loại khuynh hướng thôi sử dụng huyền thoại “văn hóa trên hết”, “văn hóa trường cửu” để lẩn tránh trách nhiệm của kẻ sĩ, của người công dân…

Các sự kiện như thế dĩ nhiên chỉ có thể có sau một cuộc CÁCH MẠNG CHÍNH DANH.

Gọi là Cách Mạng Chính Danh bởi vì cuộc cách mạng đó sẽ là một biến cố bạo động lớn của lịch sử nước Việt, một biến cố phát sinh từ một cuộc cách mạng văn hóa, và có tác động thay được tầng lớp thực dân bản xứ, cơ cấu kinh tế chính trị cựu thuộc địa đế quốc cũ, tân thuộc địa đế quốc mới… bằng một tầng lớp lãnh đạo mới cấp tiến, bằng một cơ cấu chính trị kinh tế loại xã hội chủ nghĩa nhưng không cộng sản.

Chỉ có thực hiện một cuộc cách mạng như thế mới mang lại cho chúng ta một sĩ quan đoàn trong sạch và yêu nước, một hàng ngũ công chức liêm chính, và một niềm hứng khởi trong dân chúng. Có được như thế, nếu ta muốn chiến, Mỹ muốn hòa mà cắt viện trợ quân sự đi, quân đội quốc gia vẫn có thể đi dép bình trị thiên áo vải đen nội hóa tiếp tục diệt Cộng. Có được như thế rồi, nếu Mỹ muốn chiến mà ta muốn hòa thì CIA cũng khó lòng khuynh đảo được chính quyền Việt Nam vì bao tay sai của họ đã bị diệt hay hết uy tín để lôi cuốn dân chúng.

Con đường cứu rỗi của những người quốc gia là như vậy và chỉ còn con đường ấy – chứ không phải những chuyện tranh đấu đòi hòa bình liên hiệp hay hòa bình với bất cứ giá nào, tranh đấu cho dân chủ đại nghị hay xuống đường đòi dân tộc tự quyết bằng biểu ngữ truyền đơn hay họp báo.

Nếu con đường cứu rỗi ấy, người Việt quốc gia miền Nam không đi nổi, không thực hiện xong thì chỉ còn một trong ba cách: thứ nhất là xin người Hoa Kỳ cho miền Nam thành tiểu bang thứ 52, thứ hai là chuẩn bị khăn gói vào nông trường tập thể, thứ ba là chuẩn bị theo giáo dân Ki tô xuống tầu sang Brézil làm người khẩn hoang da vàng ven bờ sông Amazone dài nhất nhì thế giới.

 

 

 

 

 

 

bài đã đăng của Thế Uyên


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)