Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 29, Tiểu luận Email bài này

Nghĩ trong một xã hội tan rã (#29)

0 bình luận ♦ 30.06.2007


LTS:
Nghĩ Trong Một Xã Hội Tan Rã là một tập tiểu luận nhiều chương về các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, giáo dục… của miền Nam giai đoạn 54-75 , viết trong bối cảnh đặc thù của cuộc chiến Nam Bắc, soi rọi trong các tương quan lịch sử và thế lực quốc tế. Theo tác giả, đây không hẳn là một tập tiểu luận hiểu theo nghĩa thông thường, mà là những bài báo gom góp lại trên những tập san có chủ đề của nhóm văn hóa Thái Độ, đưa ra những phương thức để mong cứu vãn và tìm cách thế xây dựng lại một xã hội mới qua ý thức đấu tranh cách mạng.

Những vấn đề trong toàn tập tiểu luận là bằng chứng xác thực về tự do ngôn luận, tuy tương đối, tại miền Nam giai đoạn 54-75. Tác giả đã phân tích cặn kẽ những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của xã hội miền Nam, mà sự cáo chung của văn học miền Nam là hệ quả.

Theo đề nghị của tác giả, Da màu đã giới thiệu chương 4 – Việt Nam qua Quân Lực trên da màu số 27, và chương 5 – Nhìn Lại Chiến tranh Của Chúng Ta trên Da Màu 28.
Trên số này mời bạn đọc theo dõi chương 3 – Thái độ căn bản cho công cuộc khôi phục chủ quyền quốc gia.
Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu các chương còn lại trong những số kế tiếp.

 

Thái Độ Căn Bản

Cho Công Cuộc Khôi Phục Chủ Quyền Quốc Gia

Một giờ đêm ngày 22 tháng 5 năm Ất Dậu – 1885, Tôn thất Thuyết cho bắn một phát đại bác làm hiệu cho quân đội tấn công vào đồn Mang Cá và Sứ quán Pháp tại kinh thành Huế. Đây là trận đánh sau cùng của quân lực chính quy Việt Nam, dưới lệnh của một chính quyền Việt Nam, chống lại một quân lực ngoại xâm đang nỗ lực tước đoạt trọn vẹn chủ quyền quốc gia của người Việt. Sự thảm bại của quân lực Việt trong trận đánh này đánh dấu sự mất chủ quyền của người Việt trên toàn lãnh thổ về phương diện chính trị và quân sự. Giai đoạn vong quốc, hay nói giản dị hơn, giai đoạn ngoại thuộc của Việt Nam bắt đầu – những cuộc khởi nghĩa Văn thân sau đó chỉ là những nỗ lực tuyệt vọng, mong lấy lại chủ quyền đã mất.

Các cuộc khởi nghĩa chấm dứt với cái chết của Đề Thám và nước Việt từ đó, sau vụ chính quyền ngoại lai bãi bỏ thi cử theo lối cổ truyền, bắt đầu đi vào giai đoạn mất chủ quyền về văn hóa và kinh tế. Chính sự mất chủ quyền trong lãnh vực sau cùng này, lãnh vực văn hóa, đã làm cho các kẻ sĩ Việt Nam suy nghĩ lại đến tận cùng của vấn đề vong quốc. Họ bắt đầu hiểu tại sao Việt Nam mất nước và tự sự am hiểu này, họ đã đề ra một phương thức hợp lý cho mưu đồ phục quốc: phải cách mạng văn hóa trước đã, phải gây một phản tỉnh về ý thức trong tầng lớp trẻ đang bắt đầu đi vào tình trạng vong thân. Đông kinh nghĩa thục là biểu hiện cụ thể nhất của cuộc cách mạng này.

Cuộc cách mạng văn hóa đã đạt được một phần mục tiêu của nó: các thanh niên bắt đầu phản tỉnh và những kẻ sáng suốt nhất đã đóng những tập sách cổ lại, đưa tầm nhìn của mình vượt biên giới quốc gia. Bên ngoài kia xôn xao nhiều ý thức hệ khác nhau, hệ nào cũng đều có cái hay cái hợp lý của nó, hệ nào cũng hứa hẹn dẫn tới con đường cứu rỗi cho các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Trong những kẻ trẻ tuổi ấy, có một người mang tên Nguyễn Thái Học chọn Tam dân chủ nghĩa làm chủ thuyết, muốn noi theo con đường của Tôn Dật Tiên tại lục địa phương Bắc. Cũng trong thời kỳ này, có một kẻ trẻ tuổi khác, lựa cho mình tên hiệu Nguyễn Ái Quốc, đặt hết tin tưởng vào chủ nghĩa Cộng sản muốn noi theo con đường Lénine trong cao vọng sẽ dẫn đồng bào của mình tới một thiên đàng hạ giới.

Cả hai kẻ cùng các đồng chí của họ, đều cùng tổ chức nổi dậy trong một thời kỳ, cùng thất bại và chưa bao giờ bầy tỏ thiện cảm với nhau. Họ, trong một lối nhìn nào đó, đều có mục tiêu khôi phục chủ quyền quốc gia, cùng muốn mang lại cho dân tộc hạnh phúc hiểu theo từng ý thức hệ của họ. Nhưng phương sách chọn lựa đã khác nhau, con đường đi đã có những lộ trình dị biệt: mầm mống cuộc nội chiến Quốc Cộng 1945-1946, của dòng sông Bến Hải, của cuộc chiến bi thảm hiện nay, đã bắt đầu xuất hiện, tiềm tàng.

Thế chiến thứ hai kết liễu, mang lại cho những người cách mạng Việt Nam những may mắn hiếm có để phục hồi độc lập cho quốc gia. Một cuộc chiến hai mặt trận đã bắt đầu bùng ra: mặt trận thứ nhất là chống Pháp giành lại chủ quyền quốc gia, mặt trận thứ hai là chống phe kia, sao đoạt cho được chính quyền để có thể thực hiện một xã hội mới theo ý thức hệ của mình. Nguyễn Ái Quốc bây giờ là Hồ chí Minh, cùng các đồng chí của ông ta, đã thắng trên mặt trận thứ hai, quyền lãnh đạo quốc gia đã lọt vào tay họ và khi lá cờ chính nghĩa giành độc lập được đề ra thì toàn thể dân chúng, dù trước kia ở phía nào, cũng đều gạt sang một bên tư kiến để cùng nhau cam khổ chống ngoại xâm.

Tháng 7 năm 1954, dù có những nhát dao chủ nghĩa tàn bạo đâm từ sau lưng, kháng chiến quân thắng Điện biên phủ, mang lại cho lịch sử Việt Nam một trang rực rỡ và cũng mang lại cho những người quốc gia một may mắn mới để kiến tạo một quốc gia và một xã hội theo quan niệm của mình.

Những người cầm quyền sau 1954 dưới sông Bến Hải đã thành công trong nhiệm vụ kiến tạo một quốc gia mới đặt tên là Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng họ thất bại trong việc xây dựng một xã hội mới bởi vì họ chỉ là những ông quan già, bởi vì họ bị vong thân về văn hóa, bởi vì họ muốn mang du nhập quốc nội một ý thức hệ chỉ thích hợp với Tây phương, bởi vì về kinh tế họ đã ngây thơ hay thâm hiểm khi chủ trương xây dựng một xã hội mới bằng phương thức cộng đồng đồng tiến, bằng huyễn thoại làm cho tất cả người nghèo sẽ trở nên người giầu tất cả…

Bốn năm sau khi sông Bến Hải hiện hình, Hồ chí Minh và các đồng chí của ông ta, đã có một quyết định mà đến tận bây giờ, sau khi bao nhiêu người Việt bên này hay bên kia đã gục xuống, mới thấy rõ là SAI LẦM TRỌNG ĐẠI: đó là quyết định sử dụng lực lượng võ trang tại miền Nam để đạt mục tiêu đưa toàn thể lãnh thổ vào cùng một chế độ. Lý do chiến đấu được đề ra lần này là đuổi Mỹ và cách mạng xã hội. Lý do đuổi Mỹ chỉ có tác động hạn chế bởi vì vào khoảng thời gian này người Mỹ hiện diện ở Việt Nam không nhiều và chỉ ở vai trò cố vấn. Nhưng lý do cách mạng xã hội, san bằng bất công thối nát, đã phất được lên như một lá cờ chính nghĩa. Như vậy, hai mươi năm trước, người quốc gia đã để lọt chính nghĩa kháng chiến chống Pháp vào tay Cộng sản bây giờ lại để mất vào tay địch lá cờ cách mạng xã hội. Bởi thế dù nỗ lực thế nào, dù đã tiêu diệt những người cầm quyền đầu tiên, phe quốc gia mỗi ngày một suy yếu và tới 1965 có thể thấy chiến bại đã gần kề.

Không muốn chiến bại, cũng không thể thực hiện cách mạng để mang lại cho cán bộ, quân nhân của mình một lý tưởng tích cực để chiến đấu, những người cầm quyền miền Nam chỉ còn một phương sách là cầu viện binh Tây phương dù biết rằng họ sẽ phải trả giá bằng sự mất mát không ít thì nhiều chủ quyền. Như vậy những người quốc gia sau mười hai năm lập quốc, đã VÌ YẾU ĐUỐI, BẤT LỰC VÀ LẦM LẪN bắt đầu đành chịu để người ngoài hành xử một phần quan trọng chủ quyền của mình hi vọng sẽ được đền bù bằng viễn ảnh một ngày kia sẽ diệt được hết những kẻ đồng bào thù nghịch.

Các đơn vị đồng minh cùng tài nguyên phong phú ào ạt đổ vào Việt Nam, bẻ gẫy thế công rồi dồn những người cộng sản cùng thân hữu của họ vào thế cùng. Tới đây, đến lượt những người lãnh đạo cộng sản LẦM LẪN THÊM MỘT LẦN NỮA: họ đã ước tính sai khi tưởng chỉ cần cầm cự thêm một vài năm, các đồng minh của người quốc gia sẽ bỏ cuộc vì mỏi mệt và mâu thuẫn nội bộ. Chính từ ước tính sai này, họ đã cầu viện nơi quốc gia xâm lăng truyền kiếp phương bắc để đủ sức cầm cự dù phải trả giá bằng cách đành để người ngoại bang thù nghịch cổ truyền hành xử một phần quan trọng chủ quyền của mình.

Nhưng chiến tranh tiếp tục leo thang theo thời gian và chủ quyền người Việt tại hai miền Việt Nam bị mất dần thêm theo tỷ lệ cầu viện cùng bậc thang chiến cuộc.

Trước thực trạng bi thảm ấy, người Việt chúng ta phải làm gì và còn có thể làm được gì?

Những người cầm quyền miền Bắc cùng nhân dân dưới quyền khống chế của họ có thể làm được gì, và có còn quyền sửa đổi lỗi lầm đã vi phạm hay không, chúng ta không biết, chưa có thể biết và cũng không thể can thiệp tới.

Vấn đề chính yếu còn lại cho miền Nam là người Việt chúng ta, chúng ta có thể và phải làm gì?

Nhưng làm gì theo chiều hướng nào cũng cần phải bắt đầu từ một phản tỉnh bản thân để tìm hiểu nguyên do những yếu đuối, bất lực và lầm lẫn của chính mình. Tìm hiểu để chấp nhận phần lỗi, phần trách nhiệm của mình, chứ không tìm hiểu rồi cứ ngồi không chửi đổng, đổ lỗi cho bậc cha chú, cho người Pháp, người Mỹ, người Tầu, người Nga, cho đạo Kito cho miền Vạn Hạnh cho khu Hố Nai…

Có tìm hiểu nguyên do và chấp nhận những yếu đuối, bất lực, và lầm lẫn của mình, có nhận ra được phần trách nhiệm của mình, mới có thể có khởi điểm dẫn tới một cuộc cách mạng xã hội sinh tử, cuộc cách mạng chúng ta đang tìm cách định tình hình trong niềm tin vững chắc rằng nó sẽ đưa người Việt đến chỗ thu hồi được toàn vẹn chủ quyền, chấm dứt được chiến tranh và trong một tương lai xa dẫn tới một quốc gia thống nhất tất cả trong những điều kiện ước mơ nhất.

Có làm như thế và chỉ còn cách bắt đầu như thế, chúng ta mới chấm dứt được tình trạng thê thảm đã khởi đầu từ một đêm cách đây hơn tám mươi năm, khi Tôn Thất Thuyết cho bắn một phát đại bác làm hiệu lệnh cho đạo quân chính qui sau cùng của Việt Nam tấn công trận sau cùng vào quân đội ngoại xâm tại kinh thành Huế.

 

 

 

 

bài đã đăng của Thế Uyên


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)