Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 26, Sáng Tác, Tùy bút Email bài này

Taj Mahal

0 bình luận ♦ 15.05.2007

 

Giọt lệ nào
trên má thời gian

(trích thơ Vua Jahan, Tagore)

 

 Taj Mahl

Taj Mahl

Có những cảnh đẹp lại càng đẹp hơn vì được một nhà thơ lớn đưa vào thi ca. Đó là trường hợp của lầu Hoàng Hạc bên Trung quốc. Nhà thơ là Thôi Hiệu tác giả của Hoàng Hạc Lâu. Chúng ta ít ai không biết bài thơ qua nguyên bản Hán tự hay một bản dịch quốc âm.

Taj Mahal giống lầu Hoàng Hạc, vì cũng được một nhà thơ lớn là Rabindranath Tagore chiếu cố. Ông quê tại tỉnh Bengal bên Ấn độ là ngưòi Á châu đầu tiên được giải Nobel văn học (1913). Tagore gọi Taj Mahal là ‘Giọt nước mắt trên khuôn mặt của thiên thu’.

Lời phát biểu đã trở thành bất tử và được nhắc đến hầu như mỗi khi có ai nói về công trình kiến trúc này. Để khen phò mã tốt áo, chỉ mấy chữ của Tagore mà đẹp như một bản trường ca kể lại mối hận tình lịch sử. Chúng đồng vọng với nỗi niềm mênh mang trong lòng du khách khi ngắm Taj Mahal một đêm trăng não nùng, một lần mà vĩnh viễn không quên.

Nhưng sự giống nhau dừng lại ở đây. Thắng cảnh Trung quốc bên bãi sông Hán Dương coi vậy mà nằm trong tầm tay của ngôn ngữ. Chỉ một bài thơ Đường luật tám câu bảy chữ, Thôi Hiệu bắt trọn cái đẹp của lầu Hoàng Hạc. Lý Bạch về sau tới trước cảnh ấy đã cảm thấy không còn gì để viết. Ngược lại, không tranh ảnh hay sách vở nào vắt kiệt được cái đẹp của Taj Mahal. Phải đến tận nơi người ta mới cảm nhận được tất cả chiều rộng chiều sâu chứa đựng trong cái đẹp của công trình kiến trúc vĩ đại. Mặc dầu ẩn dụ tuyệt vời của Tagore, mặc dầu hàng triệu trang giấy, hàng triệu bức tranh, hàng triệu tấm ảnh đã viết đã vẽ đả chụp gần bốn thế kỷ nay, du khách tới Agra từ thường dân tới học giả, dù đã sửa soạn bao nhiêu, vẫn bàng hoàng xúc động trước cảnh.

Cái đẹp của Taj Mahal không bị hao mòn bởi Tagore hay bởi bất cứ văn nhân nghệ sĩ nào. Nó mãi mãi ở trong trạng thái nguyên vẹn cho mọi người thưởng lãm một cách độc lập. Dù tới lúc nào và từ cảnh đời nào, du khách vẫn có thể ngắm nhìn công trình nghệ thuật một cách mới mẻ, theo cá tính và thẩm mỹ riêng của mình, để khám phá thêm được những điều có lẽ chưa ai khám phá.

*

Cái đẹp bắt đầu với sự tích của Taj Mahal, một thiên thiên tình sử buồn giữa người đẹp yểu mệnh và một vị hoàng đế chung tình. Quả thật, lăng đã được Shah Jahan xây để tàng trữ quan tài của hoàng hậu Mumtaz Mahal yêu quý.

Lấy cái đẹp làm chuẩn, lăng xây không quản tốn kém cũng như công sức bởi triều đình Mughal đang ở cao điểm cực kỳ của thịnh vượng giàu sang. Khởi công từ năm 1632, Taj Mahal đã xử dụng hai vạn nghệ nhân và công nhân, dòng dã suốt 20 năm mới hoàn tất.

Hoàng hậu là người Ba Tư, tín đồ Hồi giáo, đồng đạo, đồng chủng và đồng văn hóa với vua. Bà tên thật là Arjumand Banu Khan, nhưng được mọi người biết nhiều hơn với danh hiệu Mumtaz Mahal do vua ban (có nghĩa là Bảo Vật Của Hoàng Cung). Bà gốc quý tộc cao sang tuyệt vời, cha là Abdul Hasan Asaf Khan một quan chức oai quyền có khả năng phế lập, dì ruột là hoàng hậu Nur Jehan vợ kế của tiên vương Jehangir, và ông nội làm quan đến chức tể tướng.

Mặc dù là hoàng hậu thứ hai, và mặc dù 5000 cung phi tuyển mộ từ đám mỹ nhân của cả đế quốc Mughal rộng lớn, Mumtaz được vua không những yêu thương lại tín cẩn đến mức có lần giao cho giữ bảo ấn. Có lẽ vì bà không những đẹp, lại đức hạnh cung cách. Bà không thao túng quốc sự như thói thường của các hoàng hậu được sủng ái. Ảnh hưởng với vua, bà chỉ dùng để cứu giúp những kẻ khốn cùng trong dân gian. Luôn luôn bên cạnh mình rồng, Mumtaz gần như chiếm độc quyền tất cả ân sủng mưa móc của hoàng đế. Bà đẻ cho chồng tất cả 14 công chúa và hoàng tử, trong đó 7 người qua đời từ tuổi ấu thơ.

Khi hoàng hậu sanh công chúa út, cái tử cung đã làm việc quá nhiều không còn sức co lại để cầm máu, và Mumtaz băng huyết mà qua đời. Nếu ở Agra, có lẽ hoàng hậu đã được cứu sống với phương tiện cũng như tài năng của các vị danh y cung đình. Nhưng bà lại lâm bồn trong doanh trại dã chiến khi theo quân vương đi chinh phạt, và các quân y sĩ tuy giỏi trị liệu thương tích chiến tranh đã không đủ tay nghề để xử lý biến chứng sản khoa quan trọng nhất của đế quốc.

Mumtaz qua đời năm 39 tuổi. Khi hấp hối, bà xin vua hai điều. Thứ nhất là không lập hoàng hậu mới. Thứ hai là đừng để thế gian quên lãng bà cũng như mối tình sâu dầy bà đã dâng cho quân vương. Vua giữ cả hai lời hứa. Riêng lời hứa thứ hai, vua cho khởi công xây dựng Taj Mahal, một năm sau ngày nàng tạ thế.

Bất hạnh không ngưng đeo đuổi nhà vua. Như những triều đại dựng lên bằng võ lực và tàn bạo, triều đại Mughal không hiếm những oan trái truyền kiếp. Chuyện cha con sát phạt nhau, thậm chí anh em giết hại nhau không hiếm trong dòng vua gốc du mục từ sa mạc Samarkand. Hoàng đế Shah Jahan chính tay đã tàn sát các bào huynh bào đệ và gia quyến để lên ngôi báu, cuối đời lại bị chính con trai đảo chính. Sự việc là ít năm sau khi Taj Mahal xây xong, Aurangzeb con trai thứ của vua với Mumtaz nổi loạn giết anh cả và các em trai của mình. Cướp ngôi xong, tân vương cho quản thúc phụ hoàng lại tại ngay cung đình.

Tình cờ hay là một ân huệ của con, phế đế được quản thúc tại ngay cung điện, trong phòng có cửa sổ nhìn ra Taj Mahal. Shah Jahan ngày ngày ngồi nhìn mộ vợ yêu bên kia sông Yamuna, được ít năm sau thì qua đời. Ông đuợc tân vương cho an táng bên cạnh hoàng hậu. Nấm mộ cẩm thạch của phế đế được đặt bên nấm mộ hoàng hậu Mumtaz là chi tiết độc nhất không đối xứng của Taj Mahal. Lăng tưởng xây cho một mình Mumtaz hóa ra thành nơi an nghỉ cuối cùng của đôi uyên ương vương giả.

*

Trở lại Taj Mahal, kiến trúc này có được là nhờ sự hội tụ của nhiều yếu tố. Thứ nhất, Jahan là một vị hoàng đế say mê những công trình kiến trúc vĩ đại, năm 16 tuổi đã quen thuộc với việc xây cất cung đình. Triều đại Mughal bấy giờ đã đạt tới tuyệt đỉnh giàu mạnh, sẵn phương tiện lại nhiều nhân tài từ khắp nơi đổ tới nhờ chính sách khoan dung tôn giáo. Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất cho sự hiện hữu của Taj Mahal là trên đời có hoàng hậu Mumtaz. Nhan sắc bà phải siêu việt đến đâu mới đuợc vua sủng ái chừng ấy, và cung cách bà phải tốt lành thế nào mới được thần dân kính yêu đến nỗi Taj Mahal tốn kém biết bao nhưng không bao giờ là một đề tài để quần chúng nổi loạn. Điều kỳ lạ là cả triều đại Mughal không để lại một di vật cụ thể gì về nhan sắc cũng như đức độ của bà. Không một bức chân dung hay một pho tượng thực hiện lúc sinh tiền được trưng bày tại Taj Majal hay tại những cung điện liên hệ khác. Phải chăng đó là dụng ý của mỹ nhân. Một chân dung hay một bức tượng dù toàn hảo vẫn đặt một giới hạn cho nhan sắc của bà.

*

Xây bên bờ sông Yamuna, 2 cây số phía tây cung điện của hoàng đế, Taj Mahal có vườn rộng và nhiều giếng phun. Hoa cỏ xanh tươi và nước nguồn trong mát là những điểm thẩm mỹ đặc thù của các vì vua xuất thân từ sa mạc. Cái khát triền miên của người du mục đã để lại trong nhiễm thể họ cái mơ ước không bao giờ thỏa mãn của những ốc đảo tươi tốt. Taj Mahal còn mang những điển tích của kinh thánh Koran. Hoa viên mấy chục mẫu được chia làm bốn khu bởi bốn lạch nước nhân tạo, tượng trưng cho bốn con sông tại thiên đường Hồi giáo chuyên chở bốn chất lỏng quý hóa như sinh mạng con người du mục là nước, sữa, rượu, và mật ong. Chính giữa là một bệ cẩm thạch vuông rộng mấy mẫu tây mỗi góc là một tháp hình bút, cao thon nhọn nóc. Lăng xây trên bệ đá này, cũng vuông vức, cao 55 thước bên trên lại thêm một chóp đồng 17 thước. Mỗi mặt lăng là những vòm cong cắt sâu vào trong thành những mé hiên rộng mát. Tất cả trong ngoài đều bằng cẩm thạch, trang trí hoa văn dát ngọc hay đá quý theo mô hình kỷ hà, hay những bình cắm hồng, tu-líp, thủy tiên. Chừng ấy phù điêu lại xen kẽ tùy chỗ với những tấm vách cẩm thạch gần như trong suốt, chạm thủng như màn ren. Những phổ kinh Hồi giáo cẩn bằng đá quý trên mặt tiền, được điều chỉnh để đọc từ dưới lên khỏi bị nhiễu xạ vì viễn cận mà chữ mất cân xứng.

Taj Mahal về tổng thể cũng không khác gì lối kiến trúc phổ thông của những cung điện Hồi giáo, cũng vuông vắn đối xứng, cũng bốn tháp bút bốn bên, cũng cây cũng nước, ẩn dụ cấu trúc thiên đàng của Allah. Vậy mà nó bội phần đẹp hơn. Phải chăng dù trong phạm trù kinh điển, kiến trúc sư của Taj Mahal vẫn tạo nổi một kiệt tác đẹp và có cá tính. Tựa như cũng trong phạm trù của văn phạm và với 24 chữ cái, một nhà văn lớn tạo ra những áng văn bất hủ trong khi kẻ tầm thường cũng dùng những phương tiện căn bản ấy chỉ đẻ ra được những viết lách tầm thường.

Sau cùng, Taj Mahal hoàn mỹ được như vậy là nhờ một vật liệu xây cất vô cùng độc đáo, cổ kim chưa ai biết dùng tới mức tinh vi như ở đây. Vật liệu ấy không tốn một xu nhỏ, nhưng kén người xử dụng. Đó là ánh sáng, mà ảnh hưởng mỗi lúc một khác trên cẩm thạch, đá quý và châu báu, làm một Taj Mahal biến hóa thành nhiều Taj Mahal, đa diện đa dạng với nhiều vẻ đẹp khác nhau. Lúc rạng đông, Taj Mahal có màu xám nhạt, tựa như một nương tử chưa được tô điểm bằng gia vị của đời sống, đúng hơn như cô gái bé bỏng ngây thơ chạy nhảy nô đùa trong cung đình. Rồi với những tia nắng đầu tiên của ngày, kiến trúc ửng hồng thẹn thùng như trái đào vừa chín. Phải chăng đây là vẻ đẹp trinh nữ của công nương 19 tuổi buổi ban đầu diện kiến vị hoàng tử tuấn tú mà sau này sẽ lên được ngôi báu để thành hoàng đế Jahan. Rồi nắng chuyển theo ngày. Taj Mahal sáng lên dần và đến trưa thì tất cả trở thành rực rỡ. Lúc màu trắng trinh nguyên của cẩm thạch át hẳn tất cả màu sắc của vô vàn đá quý và ngọc dát trên những hoa văn hay những hàng kinh Koran, chính lúc huy hoàng nhất của ngày đó, lăng Taj Mahal như trút bỏ cái tang tóc của sự tích gốc nguồn. Nó phản ánh lên cái trong trắng thanh khiết trẻ trung của hoàng hậu. Đó cũng là lúc lăng phản ánh tất cả quyền năng tối thượng trong hào quang rực rỡ nhất của vị hoàng đế Mughal.

Sau cùng khi đêm xuống, nhất là những đêm rằm, ánh trăng đem lại cho Taj Majal một vẻ buồn và đẹp siêu thực. Không có nắng nên không còn màu đào chín của mã não, màu tím của thạch anh, màu hồng của san hô, màu trắng của pha lê… Tất cả chỉ còn màu ngà cũ của cẩm thạch giờ đây mượt mà như da thịt mỹ nhân, mờ ảo trong hơi sương từ sông Yamuna đang bốc lên như tấm voan mỏng, nửa che dấu nửa phô bày cái đẹp đầy nữ tính. Đường cong mềm mại của những vòm cửa thanh thoát, đường thẳng thanh tú của những ngọn tháp tròn trịa, tất cả như tách rời khỏi tòa kiến trúc, khỏi gạch đá, mà họp lại trong đầu du khách thành cái mềm cái thon cái mỹ miều của hình hài một ngưòi nữ trong giấc ngủ triền miên. Không còn lăng tẩm, không còn lầu còn gác, không còn tháp còn thềm, mà là một người đẹp liêu trai, vừa trong trắng vừa gợi tình, có đó mà cũng không có đó, tựa hồ chỉ chạm hờ cũng tan biến đi như sương như khói trên mặt sông Yamuna dãi trăng. Tất cả tiết ra cái thương tiếc vô hạn của nhà vua, cũng như cái đẹp mỹ miều ủ ê của hoàng hậu, và một thần thức rất buồn như thấm thấu cả không gian.

*

Nhưng đêm trăng ấy, tôi đã rùng mình ớn lạnh vì linh cảm thấy cái buồn của cảnh có gì còn u uẩn hơn mối hận tình vương giả. Nói cho cùng hoàng đế Jahan và hoàng hậu Mumtaz là cặp tình nhân may mắn. Trước sau họ được ở bên nhau, trong cuộc sống cũng như cõi chết. Vậy thì cái ủ ê này quá đáng. Và tôi chợt như bắt được bằng giác quan thứ sáu một sự hiện hữu siêu hình trong cảnh trăng khuya bên sông. Hồn ma không chân dung, không tính danh. Tôi mơ hồ nghĩ đến kiến trúc sư đã xây dựng lăng tẩm này. Sử sách không ghi lại tên ông. Không ai viết gì về thân thế và cuộc sống của ông. Giữa đêm trăng đầy âm khí, tôi hình dung được ra nghệ nhân. Ông ta không thể là một kiến trúc sư trẻ mới ra trường. Thần đồng có thể có tài, nhưng không có chiều sâu đến như thế. Những tác phẩm chưa được cuộc sống gia vị không thể mặn mà. Tôi đoán khi khởi công xây cất, người kiến trúc sư phải khoảng 40, cái tuổi tài năng đã chín mùi mà thể xác và tâm trí lại tráng kiện đủ để thực hiện được những dự án phi thường. Nó cũng là cái tuổi thọ của nữ hoàng vừa quá cố.

Chắc ông ta đã thấy Mumtaz nhiều lần, và trong thầm lặng đã ngưỡng mộ nữ hoàng. Và kín đáo, ông đã ngắm nhìn, quan sát, ghi nhận, để về sau khi cơ hội đến đã có thể chuyển những đuờng nét mỹ miều của thân thể cũng như tính tình, thậm chí tâm hồn nguời nữ thành những đường nét tuyệt với của Taj Mahal. Dù Mumtaz có ngồi khỏa thân cho ông vẽ, kết quả cũng không thật và sống như vậy.

Cao hứng tôi nghĩ ông ta đã không thể xây dựng Taj Mahal đơn độc với cái tài của mình, như một nghệ nhân được vua thuê dù với thù lao dù hậu hỹ đến đâu. Không, Taj Mahal không thể là món hàng sòng phẳng đáp ứng một đơn đặt hàng bình thường. Nó là công trình của tình yêu. Ông phải yêu hoàng hậu Mumtaz tới một mức say mê tha thiết mới có mặc khải để sáng tạo được đến như vậy. Có lẽ nghệ nhân vô danh cùng trang lứa với hoàng hậu, đã lẽo đẽo yêu thầm bà trong thân phận khiêm tốn của một tôi bộc cung đình.

Mối tình này tất phải là mối tình câm. Thứ nhất, hoàng hậu Mumtaz được lưu truyền là một phụ nữ tiết hạnh. Thứ hai, các vị vua Mughal nổi tiếng kiêu căng và tàn bạo, và triều đình Mughal không thiếu kèn cựa bon chen. Một mối tình ngang trái như vậy sẽ làm cho người tình lang vô cùng yểu mệnh, và nghệ nhân sẽ không sống sót để hoàn thành tác phẩm suốt thời gian 20 năm thi công.

Chịu đựng bền bỉ như vậy, ông chờ mong gì ở mối tình tuyệt vọng. Phải chăng khi mọi nguời đã lần lượt qua đời, thậm chí khi cả vương quốc Mughal cũng như các vuơng quốc nối tiếp chỉ còn là những trang lịch sử, thì linh hồn ông tự nguyện ở lại trong tòa lâu đài cẩm thạch ông đã xây, để một mình hầu hạ hoàng hậu trong cõi thiên thu.

Lịch sử trớ trêu là quan tài đức vua, nhờ lòng hiếu thảo muộn màng và bất ngờ của ông hoàng tặc tử Aurangzeb, sau cùng lại đuợc mang về Taj Mahal an táng bên vợ. Có lẽ mối hận tình lớn nhất của Taj Mahal không phải là của vua Jahan, mà là của nguời kiến trúc sư vô danh đã không chịu siêu thoát để vĩnh viễn ở lại trong số phận nô bộc tự nguyện, vất vưỏng nơi xó xỉnh nào của tòa lâu đài cẩm thạch tráng lệ…

Tôi giật mình ghi nhận cái sức mạnh siêu hình của ánh trăng trên Taj Mahal đã tạo ra chừng ấy hư cấu trong đầu tôi. Tôi đã đặt ra cho tôi một truyện ma từ cái buồn tê tái của Taj Mahal dưới trăng mà thiên tình sử vương giả giữa hoàng đế Jahan và nàng Mumtaz không hoàn toàn cắt nghĩa đuợc. Để ra khỏi ma lực này, tôi quyết định sẽ tìm những tài liệu kiểu nguời thực việc thực về Taj Mahal để đọc.

*

Về sau thi hành ý kiến ấy, tôi biết được thêm vài ba khía cạnh của Taj Mahal. Về phương diện thẩm mỹ, xem ra không ai có một ý kiến tiêu cực nào về lăng. Nói đến Taj Mahal, ai cũng phải nói đến chữ đẹp, chữ hoàn hảo, chữ tuyệt vời. Ngắm Taj Mahal, với cái vô tư của người ngoại quốc, vô tình và ngoại cuộc với những kỳ thị tôn giáo chủng tộc đẳng cấp đã chia rẽ con người và xã hội Ấn mấy ngàn năm nay, du khách từ khắp nơi trên thế giới không thể không yêu mến và thán phục đất nước đã tạo dựng ra nó. Không sai dự thật chút nào nếu họ coi đây là điều vẻ vang lớn lao cho Ấn độ.

Không ai nói đến tốn kém, vì bình tĩnh mà làm kế toán, với vé vào cửa xấp xỉ 20 mỹ kim trong khi lương công nhân khoảng 30 mỹ kim một tháng, Taj Mahal đem lại cho công quỹ một thu nhập khổng lồ. Những người làm du lịch địa phương thường nói mỗi du khách nuôi sống dễ dàng 15 người dân Ấn. Ngắm hàng ngàn du khách máy ảnh cầm tay, kính đen đeo mắt lũ lượt xếp hàng vào cửa, kể cả ngày mưa, ta thấy ngay Taj Mahal là con gà đẻ trứng vàng cho nền du lịch quốc gia.

Nhưng với người dân Ấn bây giờ, Taj Mahal vẫn tạo ra những bất đồng ý kiến. Mặc dù thành tích văn hóa và kinh tế của nó, không phải người Ấn nào cũng có cảm nghĩ tốt với ngôi đền. Nhiều công dân nước này coi đây là chứng tích của một triều đại ngoại lai, ngoại giáo, ngoại chủng, lập nên bằng võ lực bởi các vua Hồi Mughal từ sa mạc Samarkand tràn vào đô hộ nước Ấn gần hai thế kỷ. Với họ, triều đại Mughal không phải là thời hoàng kim của Ấn, mà là một chế độ thuộc địa hà khắc không kém chế độ thuộc địa Anh cận đại, với sưu cao thuế nặng trên đầu trên cổ nông dân có khi cướp đi quá nửa mùa màng thu hoạch hàng năm. Với góc nhìn ấy, cái đẹp cái thơ của Taj Mahal chỉ làm các sử gia Ấn cũng như Anh cũng như thế giới sao nhãng, thậm chí lạc hướng trong việc thẩm định công tội của các vua Ấn gốc Hồi giáo Mughal. Và khi nào Taj Mahal thu phục được cảm tình của những chính trị gia và trí thức Ấn, thì họ cho là sự tệ hại gần quá mức chịu đựng. Nhà trí thức ái quốc Tagore, mặc dù tư thế đại thi hào, mặc dù giải Nobel, mặc dù những hành động can trường chống đối chính sách thuộc địa của hoàng gia Anh, mặc dù lập trường quốc gia siêu Ấn, vẫn bị thị phi khi khen ngợi Taj Mahal và gọi kỳ công kiến trúc Hồi giáo này là ‘Giọt lệ trên khuôn mặt của thiên thu’.

Taj Mahal có cơ nguy bị phá hoại vì những phần tử quá khích tiêu cực không? Tôi không thể nói là không. Cái đêm trăng chúng tôi đi ngắm Taj Mahal, người ta khám xét hai lần khi vào cửa. Khi hết nửa giờ quy định, đèn pha bật lên cho du khách thấy đường ra, chúng tôi bất thần ghi nhận khoảng hai tiểu đội tự vệ đầy đủ võ trang và máy truyền tin di động đã kín đáo bố trí xung quanh bọn mấy người chúng tôi. Họ vui vẻ và ân cần, nhưng rõ ràng là họ coi khả năng Taj Mahal bị phá hoại có thật. Họ cho hay không phận ngôi đền này cũng bị giới nghiêm 24 tiếng một ngày. Khi hỏi ai toan phá hoại cái kỳ công của kiến trúc Hồi giáo Mughal mà cũng là tài sản văn hóa của cả nhân loại này, họ cười mà không trả lời. Những kẻ cực đoan khủng bố Hồi giáo nổi tiếng là đã phá hoại đền đài chùa chiền của ngoại đạo. Nhưng tôi chưa nghe có nhóm khủng bố Hồi giáo nào lại phá hoại di tích văn hóa Hồi giáo của chính họ.

*

Tôi giã từ Ấn độ trong bùi ngùi. Mấy tuần cỡi ngựa xem hoa cũng đủ cho tôi thấy cái nheo nhóc của quần chúng, với những vỉa hè không còn viên gạch nguyên vẹn, đầy rác rưới và nhiều khi không thiếu phân người. Tôi không quên được các em bé tuổi cắp sách đến trường luôn luôn có mặt ngoài đường phố để ăn mày hay bán đồ vặt vãnh cho du khách. Tôi không quên được những bày bò ‘thiêng’ tự do đi lại ngay trên cả xa lộ, cản trở giao thông và phóng uế, và những phụ nữ Ấn đội trên đầu từng chồng phân bò khô đóng thành bánh về nhà để làm củi nấu cơm. Tôi không quên những đoàn xe máy xe thồ xe hơi xe tải chen chúc vô kỷ luật trên những đường phố chặt hẹp, phun khói mù mịt và những người lái xe coi cái chết lưu thông nhẹ như lông hồng…

Tôi là Phật tử, và tôi hiểu Đức Phật đã chọn rất đúng đất nước này để giáng sinh. Ngài đi cứu khổ, thì đây là đúng nơi chốn của ngài. Trong cảnh khốn cùng này, các vị bồ tát không bao giờ thất nghiệp. Đó là 2500 năm trước. Nhưng xem ra công việc của Đức Phật bây giờ cũng chưa xong. Bao giờ một đức Phật khác mới giáng sinh?

Tôi nhớ lại một tia hy vọng. Đâu đó giới chuyên viên kinh tế tiên đoán trong 30 năm nữa, Ấn sẽ tiến bộ hơn hay bằng Mỹ quốc. Tôi không biết tiên đoán như vậy có độ chuẩn bao nhiêu. Ba mươi năm thời buổi tin học và toàn cầu hóa này là một khoảng thời gian rất dài, dài đủ cho chuyện gì cũng có thể xảy ra. Hú họa mà tiên đoán tương lai xa của 30 năm chưa tới ít nhất cũng có được 50 phần trăm khả năng trúng.

Tôi chỉ mong rằng nếu may mắn đó thực sự xảy ra cho phần đất này của nhân loại, thì những nhà tỷ phú tương lai ở đây sẽ là một thứ Bill Gates, và những tân hoàng đế Mughal sẽ không quên những người Ấn khốn khó bị xã hội coi là thấp hèn đến mức không được sờ người khác hay được người khác sờ tới.

*

Mấy hôm sau tôi rời Ấn độ để đi Việt Nam. Quê hương tôi không có Taj Mahal. Đất nước chỉ có một thiên tình sử liên quan đến một ông vua nghèo, trị vì một thời điểm mà mọi việc vô cùng khó khăn. Ông sống và chết trên một thế kỷ trước. Ông là vua Tự Đức. Ông khóc vương phi của ông một cách rất tần tiện bằng một bài thơ Đường luật tám câu bảy chữ. Thơ của ông không phải là kim cương hay mã não, hay cẩm thạch hay …

‘Ới thị Bằng ơi đã hết rồi

Ới tình ới nghĩa ới duyên ơi’

mộc mạc như người nông dân khóc vợ. Nhưng không vì mộc mạc mà không có giá trị. Thật ra bài thơ có những câu tuyệt vời:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi.’

Lẩm nhẩm con toán tiếp liệu, tôi kết luận là dù quả thật ông có làm theo nghĩa đen của câu thơ mà đi đập hết tất cả gương kính trong Khiêm cung hay Hoàng thành Huế để tìm lại bóng hình Bằng phi, thì sự tốn kém vì người đẹp cũng chẳng đáng là bao, có lẽ chưa quá giá thị trường của một hạt mã não nhỏ khẩn trên mặt tiền của cung Taj Mahal. Không một chút kiêu sa, không một chút lãng phí, ông vua nước tôi chỉ có cái tình nghèo mà thanh thoát để tưởng nhớ Bằng phi yểu mệnh.

Bài thơ có đẹp không? Tôi sẵn sàng trả lời là đẹp.

Có đẹp bằng Taj Mahal không?

Nếu bị hỏi dồn như vậy, tôi sẽ yêu cầu xác định lại văn cảnh câu hỏi. Văn cảnh ấy là nhờ không xa hoa như hoàng đế Jahan của triều đại Hồi giáo Mughal mà gần 20 triệu thần dân của ông vua Việt Nam tần tiện đã tránh được biết bao khổ ải vì sưu cao thuế nặng trong một giai đoạn công quỹ đã khánh kiệt. Nhìn câu chuyện như vậy, và với cái chủ quan vì là dân Việt, tôi sẽ khẳng định là bài thơ Đường luật của vua Tự Đức đẹp bằng, hay ít nhất gần bằng Taj Mahal.

M.K.N.

April 2007

bài đã đăng của Mai Kim Ngọc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)