Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 25, Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

THUYỀN NHÂN – Trốn Về Dĩ Vãng – Tập 3

0 bình luận ♦ 30.04.2007

LTS: ‘Trốn về dĩ vãng’ trích từ truyện dài Thuyền Nhân xuất bản năm 1990 bởi nhà Văn Nghệ, California. Nhân vật chính là cô giáo văn tên Ngọc và vị hôn phu. Họ đã gặp cướp trên đường vượt biên sang Nam Hoa. Sau tai nạn họ lấy thuyền đi Hồng Kông để nhập trại thuyền nhân. Người đàn bà mặc dù bị tổn thương nặng nề, đã gắng đứng dậy và tiếp tục sống, trong khi người đàn ông tự dằn vặt ngày đêm để sau cùng mất trí. Cảnh của họ không hiếm cho những người vượt biên tỵ nạn. Phần lớn thuyền nhân đã là nạn nhân cho bất công này khác, và trải qua những cảnh thập phần xót xa. Hàng vạn người đã mất tích trên biển hay trong rừng già biên giới…


Thời làm y sĩ quân y truớc 75, tôi đã thấy những thảm cảnh của chiến tranh. Thăm trại cấm Hồng Kông, tôi ngạc nhiên là hơn 20 năm sau khi đất nước đã ‘hòa bình’, đồng bào vẫn còn khốn khổ đến chừng ấy.


Vậy mà khi tới được vùng đất hứa của xã hội Tây Phương, thuyền nhân Việt Nam cũng như những người tỵ nạn từ 75 đã phục hồi và thành công vượt bực. Kinh nghiệm tỵ nạn Viêt Nam nói chung trở thành mẫu mực cho toàn thể di dân của nước Mỹ. Trong thời gian kỷ lục, người Mỹ gốc tỵ nạn Việt Nam đã đóng góp hậu hĩ mọi mặt cho quê hương mới. Thế hệ đầu nhanh chóng ra khỏi cảnh nhận trợ giúp liên bang hay tiểu bang. Những người có đại học phục hồi lại chức năng cũ sau một vài năm Anh ngữ và tái huấn luyện. Phần còn lại đa số đã thành công như tiểu thương, công nhân, viên chức chính phủ… Sang đến thế hệ thứ hai, đã có những người Mỹ gốc Việt tỵ nạn làm giáo sư đại học, kỹ sư, y sĩ, dược sĩ, luật sư, nhà báo, hội đồng tỉnh, dân biểu tiểu bang, thứ trưởng chính phủ liên bang… Thậm chí cộng đồng Việt Nam đã sản xuất ra một vài siêu sao như phi hành gia không gian hay phát ngôn viên của một trong bốn năm đài truyền hình danh tiếng.


Người Việt Nam chúng ta can trường và bền bỉ. Chúng ta cũng dễ tha thứ. Tuy nhiên tôi nghĩ chúng ta không nên quên một thời điểm mà vì lỗi lầm từ nhiều phía, địa ngục trần gian đã chụp xuống đầu cho một số không nhỏ đồng bào. Cũng như mọi lỗi lầm lịch sử khác, sự ghi nhớ câu chuyện thuyền nhân bảo đảm phần nào rằng tang thuơng vì bạo lực và bất công không tái diễn trong tương lai.

 

 


13.

“Anh ghé lại nhà em ăn trưa nhé.”

“Sợ phiền cô không? Vừa đưa học trò đi chơi về, lại còn phải lo đãi khách.”

“Đồ ăn có người nấu mà, em đâu có phải vào bếp. Về nhà em ăn đi.”

Anh ngần ngại, cô cố nài. Cô nói:

“Anh ăn ở đâu chả là ăn. Em đã hẹn với thầy em và anh chị cả là thế nào cũng mời anh về ăn trưa mà.”

“Thôi cô để cho khi khác.”

“Hay tại anh chê nhà chúng em nghèo.”

Mẩu đối thoại vang lại trong tai Bách, ngộ nghĩnh dễ thương. Câu chuyện mời mọc như vọng về từ một nơi khác, từ một thời điểm khác, thanh bình lắm. Như một chương tiểu thuyết tiền chiến, khi cuộc sống có thể đạm bạc nhưng dễ dàng ăm ắp tình thuơng.

Anh biết mình đang ở trại cấm, và mới sáng nay, đồng bào anh đang còn bị nhốt, còn chen chúc áp mặt vào chấn song sắt để nhìn ra ngoài… Anh còn ngắm bức tranh “Chết đuối” của em Nguyễn Thăng.

Nhưng cảnh truớc mặt không ngăn nổi ảo ảnh của phố chợ một làng quê ngoài Bắc thời xưa… Nhiều nhà đã ăn xong, mang bát đĩa ra vòi nước khu nhà vệ sinh rửa. Con nít đã tan học tụm năm tụm ba trong các hẻm giữa mấy khu nhà. Một thanh niên đứng tựa góc tường, nghêu ngao hát:


Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm

Chạy dài bên khóm tre

Đàn chim ríu rít ca

Bao người ra ngồi hay đứng bên thềm

Đợi chồng con mắt trông về phía trời xa…

Anh đứng lại nghe. Cô Ngọc cũng dừng lại. Cô nói ở nhà bây giờ văn nghệ tiền chiến phổ thông lắm… Nhạc cũ, truyện cũ, thơ cũ đều được tái bản. Ai cũng thuộc “Thiên Thai” của Văn Cao, ai cũng đọc “Nhà Nghèo” của Tô Hoài, ai cũng ngâm “Đôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng…

Người thanh niên tiếp tục hát:


Sáo diều êm là khúc lòng ta

Lúa vàng reo, ngàn muôn sóng nhấp nhô

Ôi chiều quê, chiều tha thiết êm đềm…

Bây giờ thì anh ta đã hát xong. Thấy Bách và cô Ngọc đang lắng nghe, anh nhìn hai người rồi bỏ đi. Bài hát phổ thông ngoài Bắc ba bốn thập niên trước, nhiều chỗ chắc sai lời sai điệu, có lẽ ngay tại quê nhà đã lạc lõng với thực cảnh từ lâu. Nhưng ở đây, nó đánh lừa được Bách. Nó nhắc đến những trưa hè oi ả trốn ngủ ra chơi với bạn, những tàn hoa phượng đỏ ối, tiếng ve kêu ra rả, tiếng võng nhà ai kẽo kẹt uể oải như cuộc sống tỉnh nhỏ miền Bắc…

Bách nhớ lại làng cũ thời tiền chiến anh thường về chơi mỗi kỳ nghỉ dài, thủa còn học tiểu học. Bách nhớ thường hay dậy sớm, sách khẩu súng hơi ép đi bắn chim, lang thang khắp thôn. Buổi trưa có khi Bách nằm nghỉ bên đống rơm ngoài miễu, hay dưới hàng cây sắn bờ ao nhà ai, lấy truyện ra đọc… gió mát hiu hiu, ngủ quên lúc nào không hay.

Thỉnh thoảng được mấy người tá điền ra mời vào nhà ăn trưa, có khi củ khoai luộc hay khúc sắn hấp, có khi bát canh cua đồng… Bách cũng đôi lần tặng họ con cò bợ, con cu gáy mới bắn được. Có khi anh biếu họ mấy đồng bạc lẻ mẹ cho để ra chợ huyện ăn quà. Và cả chủ lẫn khách đều giấu nhẹm với cha mẹ Bách những lần anh đi ăn chực hàng xóm.

Nhưng biết hoàn cảnh cô Ngọc, Bách nhất quyết từ chối. Anh nói:

“Cô để cho bữa khác. Sáng nay không dặn chị Băng, sợ chị không biết tôi bị lạc đi đâu.”

“Anh yên chí. Chị Băng cần gặp ai, chỉ một phút là chị tìm ra.”

Rồi không cho Bách có dịp trả lời, cô đon đả:

“Nhà em đây rồi, mình vào đi anh. Anh mà từ chối thì chúng em tủi thân lắm.”

Để cho Bách không thể nào còn thoái thác được, cô nói thêm:

“Anh chị cả em mong được gặp anh để hỏi về đời sống bên ngoài.”

Thế là Bách chịu thua. Cô Ngọc này lanh thật. Vừa lúc nãy còn khóc, mà bây giờ cô đã trang điểm xong xuôi, mặt mày tươi tỉnh. Chỉ có mười phút anh bận làm thủ tục trả học sinh lại cho A Xòe, mà cô đã ghé về nhà rửa mặt, đã trang điểm xong, đã dặn gia đình có khách ăn cơm, và trở lại mời Bách. Tất cả hoàn thành trong một thời gian kỷ lục.

14.

Bách theo chân cô bước vào ngôi nhà tập thể giam thuyền nhân. Cái ảo ảnh thanh bình tiền chiến đã tan biến. Cổng sắt đã kéo lên từ sáng, và bên trong, căn nhà rộng không cửa sổ sâu thăm thẳm như một nhà kho. Còn quáng nắng, anh chỉ thấy tối om. Nhưng anh đã ngửi thấy mùi chật chội, mùi người, mùi mồ hôi, mùi đồ ăn…

Vài giây sau, quen với bóng dâm, Bách nhìn rõ hơn thấy lố nhố người. Đồng bào phần đông trông lành lặn và đủ dinh dưỡng. Họ mặc kiểu Hồng Kông, phổ thông là đồ Jean, thỉnh thoảng mới thấy một bà trung niên xuềnh xoàng với quần đen áo cánh.

Họ ngồi trên xập nói chuyện với nhau hay may vá. Có người đọc báo, có đám đánh cờ.

Nhưng nhiều người chỉ nằm nhìn trần. Bách chú ý đến một người đàn ông trung niên nằm ngay gần cửa. Anh ta nằm ngửa, hai bàn tay lót dưới đầu làm gối, điệu bộ thờ ơ buông xuôi. Ánh mặt trời xế trưa chiếu vào, cắt xéo khuôn mặt gầy, một mắt trong dâm một mắt ngoài nắng.

Người đàn ông nằm như vậy chắc đã lâu. Anh ta nằm bất động, thản nhiên, lộ liễu trước mọi người, không ngượng ngùng, không khó chịu. Bách rùng mình. Trong con mắt người thuyền nhân phơi ra ngoài nắng, anh chỉ thấy xa vắng và trống không.

*

Cô Ngọc tiếp tục dẫn anh đi sâu vào trong. Không biết cô ở khu nào. Ngang qua bốn năm thùng rác lớn bằng nhựa loại kỹ nghệ, dầy dặn chắc chắn đặt giữa lối đi, Bách ghé nhìn. Một thùng đựng cơm trắng, một thùng đựng canh, một thùng đựng thịt heo thái to miếng, kho với trứng luộc bóc trần vỏ. Thùng cuối cùng đựng nước trà. Thùng nào cũng còn thừa từ một phần ba đến một phần tư. Không thấy ai xúm quanh mấy thùng thực phẩm, Bách đoán mọi người đã ăn xong. Anh hỏi sao không thấy món cánh gà, cô Ngọc trả lời là món này dọn vào ngày thứ hai.

Sau cùng, cô Ngọc dừng lại trước một “hộ”, hay đúng ra khoảng phản gỗ, giống hệt một khoảng phản gỗ khác bên cạnh, bài trí tựa như một xập hàng ở chợ. Hộ rộng chừng hai chiếc chiếu, mặt tiền mở ra lối đi, hai bên căng bạt xám để phân chia với láng giềng, và phía cuối treo tấm màn vải hoa cũ phủ hờ lên mấy chiếc bị da giả và túi ny lông.

Cô nói:

“Nhà em đây.”

Có cặp vợ chồng đang ngồi trên xập nhìn anh mỉm cười. Xã giao anh nói:

“Chào anh chị, cô Ngọc có nói chuyện về anh chị nhiều lắm.”

Mấy người trên xập ngơ ngác. Cô Ngọc vội cắt nghĩa:

“Nhà em trên tầng hai cơ. Anh Bách, đây là anh chị Tiên hàng xóm em. Chúng em ở trên kia kìa.”

Bách chợt nghĩ ra là nhà giam có ba từng phản. Anh ngẩng lên thấy một người đàn ông cỡ trung niên ngồi phía ngoài, đang tươi cười với anh. Người đàn ông tự giới thiệu:

“Tôi là Tuyên, anh cái Ngọc.”

Và quay sang nói với cụ già đang ngồi đối diện anh:

“Bẩm thầy, đây là anh Bách.”

Bách lễ phép:

“Bác ạ.”

Ông cụ nói:

“Anh Bách đấy à. Lên đây, lên đây dùng bữa với chúng tôi. Nghe cái Ngọc nói chuyện anh cả mấy hôm nay, mong gặp lắm…”

Bách nhìn cụ già. Giọng cụ sảng sảng, quắc thước. Tóc cụ đã bạc phơ nhưng nét mặt còn tinh anh tráng kiện. Cụ mặc chiếc áo lót ngắn tay để lộ những bắp thịt gân guốc, và nước da nắng gió đã thuộc thành một màu nâu gụ.

Cụ vồn vã:

“Lên đây, anh Bách lên đây.”

Cụ vừa nói vừa đưa bàn tay ra, và Bách vội vã bắt lấy. Nhưng bắt tay rồi mà cụ vẫn chưa buông Bách ra. Trong một giây, Bách chợt hiểu. Cụ chìa tay ra với ý định giúp anh trèo lên từng phản hai. Hơi trẽn, anh vội chữa:

“Bác mặc con, con leo lên một mình cũng được.”

Cụ thả tay Bách. Phản cao đến gần cổ, lại không có thang. Chỉ có một cách là đánh đu lên. Lâu lắm, Bách đã không tập thể dục môn nhẩy ngựa gỗ. Anh thấy mối nguy hiểm là nếu lỡ trớn mất đà, chân anh sẽ đá phải những người đang ngồi phản dưới. Cô Ngọc đứng nhìn, tủm tỉm cười ra dáng thú vị.

Cô đề nghị:

“Anh cứ đu lên rồi em đẩy anh.”

Nghe giọng cô nghiêm túc, Bách sợ cô sẽ làm thật. Tự ái, anh thu hết sức lực. Vừa nhún chân xuống sàn, vừa dùng mặt phản làm điểm tựa, anh thót đuợc lên. Anh Tuyên nhích vào trong dành chỗ cho Bách. Thoắt cái, cô Ngọc cũng đã nhẹ nhàng lên theo.

Cô khen Bách:

“Anh leo phản hay quá. Đủ tư cách làm thuyền nhân với tụi em rồi.”

Bách vừa yên vị, anh Tuyên lại giới thiệu:

“Còn đây là Huyền, nhà tôi.”

Bách chào người đàn bà trẻ ngồi trong góc:

“Thưa chị.”

Chị Huyền đáp lại bằng câu xã giao.

*

Bách theo mọi người ngồi xếp chân xung quanh mâm cơm còn nguyên vẹn. Chị Huyền mở vung mấy đĩa đồ ăn. Chị vừa xới cơm, vừa nói:

“Bát đĩa cọc cạch, cái thì mấy người đổi trại họ cho, cái thì cô Ngọc nhờ chị Băng mua ở ngoài, thật chẳng đâu vào đâu cả, anh đừng cười…”

“Dạ không dám…”

Bách thấy chiếc bát nhom mới nguyên dành cho mình thật sang trọng, so với mấy tô nhựa đã bạc dành cho người nhà. Bách lại được chị ưu đãi cho thêm chiếc muỗng sắt, ngoài đôi đũa nhựa đã cong đầu như mọi người.

Anh Tuyên gọi:

“Ngọc ơi, ra ăn em.”

Cô Ngọc vén tấm màn từ phía sát tường chui ra, tay cầm chiếc đĩa nhỏ đựng cái khăn mặt mới, cuốn gọn như chiếc chả giò, nước sôi còn bốc khói.

Cô nói:

“Khoan đã anh Tuyên. Để cho anh Bách lau tay cái đã. Anh ấy mới đi về còn bụi bậm lắm.”

Bách đón chiếc khăn. Nước nóng áp lên mặt làm anh khoan khoái. Anh hỏi cô Ngọc lấy nước sôi ở đâu. Cô bảo trong bình thủy. Cô nói chơi là thuyền nhân mà khách đến nhà cũng sang lắm chứ.

Chị Huyền đã xới cơm cho mọi người xong. Tiếp đồ ăn cho anh, chị nói:

“Ở đây ăn uống dồi dào lắm. Bữa nào cũng có thịt cá. Chỉ phải tội họ không biết nấu thôi.”

Ông cụ bỗng góp chuyện:

“Chắc đây là lần đầu tiên anh Bách được ăn cơm tù phải không?”

Thấy chữ cơm tù nặng quá, anh lảng sang chuyện khác:

“Bác còn mạnh lắm. Năm nay bác được bao nhiêu ạ.”

“Cám ơn anh, tôi 68 rồi đấy. Tuổi giấy tờ thì 70.”

Tuyên cắt nghĩa:

“Ấy là khai thêm tuổi để đi lính ấy mà.”

Bách cảm động:

“Đi bộ đội đánh Tây ấy ạ?”

Anh hỏi xong thấy mình ngớ ngẩn.

Cụ cắt nghĩa:

“Không. Về sau mới đi bộ đội. Thời “Ca răng đơ” kìa. Đi lính khố đỏ ấy.”

Cô Ngọc thông ngôn:

“Ca-răng-đơ là năm 1942…”

Cô cười nói thêm:

“Hồi ấy em chưa đẻ.”

Cụ Tuất hắng giọng:

“Anh Bách biết không, hồi đi lính khố đỏ…”

Nhưng cụ chưa hết câu, cô Ngọc đã cắt ngang. Cô nói:

“Thầy sơi cơm kẻo nguội. Anh Bách chắc cũng đói lắm…”

Cụ tạm quên chuyện đi lính khố đỏ. Cụ khề khà bưng bát cơm lên. Mọi người cầm đũa.

Anh chị Tuyên ăn uống ngon lành. Bách bưng bát lên theo mọi người. Món thịt kho thả trứng luộc anh vẫn thích hồi ở quê nhà, nhưng mùi bì lợn hôm nay ngái ngái như mùi mồ hôi người, làm anh lợm giọng. Bách định buông đũa. Ngẩng lên thấy cô Ngọc đang nhìn, anh sợ cô buồn, vội và miếng cơm. Chị Huyền cũng đã để ý thấy anh không ngon miệng. Hiếu khách, chị nhanh nhẩu:

“Em quên mất. Nhà có mấy gói mì tôm để dành, hôm nay có khách lại không đem ra. Khổ quá, cái Ngọc nó bàn chuyện mời anh ăn cơm từ tuần trước, khi được chị Băng cho hay là anh sẽ vào thăm trại. Tụi em đã định nhờ chị Băng mua cho lạng thịt quay đãi anh, nhưng chị ấy gạt đi.”

Rồi quay sang em chồng, chị nói:

“Ngọc ơi, cô ngồi bên ấy tiện tay với cho chị gói ra-men.”

Bách chưa kịp cản, chị đã luồn tay dưới tấm màn mỏng cuối xập kéo ra chiếc bình thủy lớn. Đầu kia cô Ngọc đã lấy từ chiếc giỏ ny lông ra gói mì ăn ngay. Lát sau bát mì bốc khói được đặt trước mặt Bách. Anh Tuyên cắt nghĩa:

“Mì hiệu này ngon lắm, dễ ăn.”

Anh nói như một chủ nhà lịch sự nhũn nhặn về món cao lương vừa đem ra đãi khách.

*

Câu chuyện quanh mâm cơm náo nhiệt. Anh Tuyên hỏi tíu tít về đời sống bên ngoài, về lương bổng, về trường học buổi tối, về an sinh xã hội, về giá cả nhà cửa, về phương tiện giao thông. Anh cũng hỏi Bách về dư luận báo chí đối với thuyền nhân, với vấn đề định cư…

Chị Huyền cũng hết rụt rè và góp chuyện với mọi người. Chị hỏi về bếp núc chợ búa bên Mỹ… Chị cũng hỏi về nghề may ở Mỹ… Dễ lắm phải không anh Bách, cứ ở nhà lãnh đồ về may… Đến hẹn, họ đến nhà lấy đồ, trả tiền mặt, chẳng thuế má gì… Có người nhờ vậy mà tậu cửa tậu nhà phải không? Nghe những câu trả lời của Bách, họ nheo mắt suy nghĩ, họ hỏi đi hỏi lại… họ nhìn nhau, như ráng hình dung cuộc sống bên ngoài… Cô Ngọc cũng hăng hái tham dự câu chuyện chung.

Chỉ có cụ là thờ ơ. Cụ chậm rãi ngồi ăn, nét mặt xa vắng, tựa như không bận tâm đến cuộc sống sắp tới. Hình như cụ ra nước ngoài chỉ để theo con, còn định cư ở đâu, hay vĩnh viễn ở lại trại cấm, với cụ cũng thế thôi. Cụ dửng dưng với câu chuyện sung túc hay xa hoa của những xã hội thanh bình phồn thịnh Tây phương mà mọi người đang háo hức mong được tới.

*

Lát sau mọi người xong bữa, và cô Ngọc thu dọn bát đĩa để bầy ấm trà và ly tách. Bách ngồi nhích ra sau cho cô được rộng chỗ.

Nhưng anh bỗng giật mình. Anh vừa tựa phải vật gì cồm cộm bên hộ láng giềng. Rõ ràng là một tấm lưng xương xẩu của ai. Bách vội ngả người về đằng trước. Anh nói vọng qua mấy câu xin lỗi. Không có tiếng trả lời, chỉ có tiếng chăn mền sột soạt bên “hộ” bên, như ai đang xoay mình trong giấc ngủ. Lại có tiếng sột soạt nữa rồi im lặng hẳn. Bách nhìn anh Tuyên, dò hỏi. Bách phân trần:

“Khổ quá, tôi vô ý ngồi đè phải ai bên kia. Không biết có đau không?”

Tuyên thản nhiên:

“Anh Thời đấy mà. Không sao đâu.”

Bách nghĩ ngồi vào người người ta mà lại “không sao đâu” là làm sao. Anh nhìn cô Ngọc.

Cô nói:

“Anh Thời anh ấy ngủ say lắm. Chắc phải đến hai ba giờ chiều anh ấy mới dậy. Mà có khi anh ngủ luôn cho đến tối.”

“Sao không đánh thức anh ấy dậy ăn trưa.”

“Anh ấy không muốn ai đánh thức cả. Bao giờ dậy thì dậy, ngày có khi chỉ ăn một bữa, còn thì ngủ. Đêm anh ấy mới thức. Thức cho tới gần sáng… Anh ấy hay ra ngồi gần cửa sắt một mình, nhìn ra ngoài… Nhất là những đêm có trăng.”

Bách ngạc nhiên:

“Anh Thời ấy… Có đau ốm gì không, cô Ngọc nhỉ? Sao không gọi bác sĩ.”

Cô Ngọc chưa trả lời thì chị Huyền đã cắt nghĩa hộ. Chị bảo anh Thời cùng làng, độc thân, bố mẹ đã mất cả. Anh cũng không có bà con bên này. Mới đầu thì cũng bình thường thôi… Nhưng bây giờ thì như người lãng trí…

Bách ngượng ngùng thấy chị Huyền bàn về anh Thời một cách huỵch toẹt như vậy, trong khi anh ấy ở ngay cạnh, chỉ cách có tấm bạt mỏng. Bách nói:

“Chết, mình nói chuyện ồn ào thế này, có sợ phiền anh ấy không?”

Anh Tuyên trấn an:

“Không sao đâu. Anh ấy ngủ say lắm. Đã ngủ là chẳng còn biết trời đất gì nữa… Mà có thức thì cũng như ngủ, không thèm bận tâm đến xung quanh…”

Như để chứng minh cho lời chồng, chị Huyền vén tấm bạt lên. Bách quay đầu lại thấy một người nằm nghiêng, co quắp lại như một bào thai, đầu gối đưa lên đụng cầm, chăn trùm kín mít.

Chị Huyền đưa tay kéo tấm chăn, để lộ ra một cái đầu đàn ông tóc tai bù xù. Chị nói lớn:

“Anh Thời dậy ăn anh Thời”.

Người đàn ông làu nhàu, đưa tay tìm mép chiếc chăn kéo lên chùm đầu lại như cũ. Bách thoáng thấy anh gối đầu lên cuốn tự điển Pháp Việt của Đào Duy Anh, chữ kim nhũ trên gáy sách đã bạc, mồ hôi ố từng mảng.

Bách buông tô mì xuống. Ái ngại, anh hỏi cô Ngọc:

“Như thế này đã bao lâu rồi?”

Cô Ngọc cúi đầu không nói gì. Anh Tuyên đỡ lời:

“Sáu tháng…”

Và anh Tuyên kể cho Bách cuộc vượt biên gian khổ của anh Thời… Anh ấy sang đây cùng chuyến với Ngọc… gần hai năm rồi. Trên đường…

Bách buột miệng hỏi sao Ngọc không đi chung với cả nhà? Anh Tuyên nói vượt biên mà anh, đi chia như thế cho nó an ninh… Vả lại Thầy em coi anh Thời như con, cho Ngọc đi với anh ấy cũng vững dạ… Thầy em và vợ chồng em đi trước một tháng. Toán Thời và Ngọc đi ngả biên giới Hoa Việt, tính sang đến Hoa lục mới đón thuyền đi Hồng Kông. Ai ngờ vừa tới Quảng Tây đã bị cướp…

Bách hỏi đường bộ mà có cướp sao? Anh Tuyên nói có chứ, không có hải tặc thôi, nhưng có lục tặc, tụi thổ phỉ Xạ Phang ấy mà… Rồi anh Tuyên kể tiếp là may mắn quá, nói chung không ai hề hấn gì, chỉ mất ít tiền bạc… duy có anh Thời vì kháng cự là chúng lấy gậy đánh vào đầu bất tỉnh… Ngay sau đó thì không sao… Anh ấy tỉnh lại, vết thương trên đầu ít tuần thì ăn da non… Khi lên thuyền sang Hồng Kông thì kể như bình thuờng. Khi thuyền cặp đảo Bò, một đảo hoang của lãnh thổ Hồng Kông ấy, cái Ngọc và anh Thời được tách khỏi toán và chuyển về đây…

Khi mới tới, anh ấy cũng như mọi người… Ấy là hai năm trước… Anh cũng lo, cũng nôn nóng, cũng theo rõi tình hình chính sách tị nạn của các nước đông nam Á… Công việc chung trong trại, cũng tham dự, cũng gánh phần trách nhiệm. Nhưng rồi dần dà, anh ấy tự ý cô lập, mỗi ngày một tí, không chơi với ai, không thân với ai nữa. Ngay cả bọn em, anh ấy cũng sơ dần… Lúc nào cũng lo học tiếng Tây để sửa soạn sang Pháp định cư…

Bách ngạc nhiên:

“Học với ai? Sao bảo A Xòe cấm mở lớp dậy ngoại ngữ cho thuyền nhân?”

Anh Tuyên nói:

“Học một mình. Anh ấy có cuốn tự điển Pháp Việt của Đào Duy Anh không biết lấy ở đâu… Đi đâu cũng mang theo… Em có thấy cuốn sách… Trang đầu chắc có tên sở hữu chủ nên bị xé đi, nhưng vần A còn nguyên vẹn… Anh ấy học thuộc lòng từng chữ… Hồi bắt đầu ngã bệnh thì đã sang đến khoảng nửa vần B…

“Để trở lại chuyện anh ấy tự cô lập hóa. Mới đầu thì chúng em vờ như không để ý, tiếp tục săn sóc hỏi han… Nhưng cố gắng một chiều mãi cũng có hạn… Rồi mạnh ai nấy sống, tụi em quên bẵng đi, cho đến lúc anh ấy bắt đầu ngủ li bì mới biết… Nói của đáng tội, Ngọc nó vẫn lo cho anh chu đáo…”

Chiêu ngụm nước trà, anh Tuyên kể tiếp:

“Một tuần lễ trôi qua như vậy, Ngọc rồi hai người bạn độc thân cùng hộ anh Thời gọi A Xòe nhờ cho y tá xuống khám. Y tá khám xong bảo không thấy bệnh gì. Ít lâu sau, họ cho đi nhà thương nằm mấy hôm rồi lại trả về, tình trạng không thay đổi… Rồi hai người bạn độc thân cùng hộ bắt được liên lạc với thân nhân ở Mỹ, đổi sang diện tị nạn, và chuyển sang trại khác. Không ai chịu nhận Thời vào hộ mới, A Xòe phải cho anh ấy một mình một hộ riêng. Nghĩ đến cái ơn lo cho Ngọc trên đuờng vuợt biên, chúng em lại cũng là người làng nữa nên tội nghiệp, đứng ra hứng với A Xòe là sẽ lo cơm nước cho anh ấy, và A Xòe chuyển anh ấy sang bên cạnh tụi em để dễ trông coi.”

“Sao không để cho anh ấy nằm xập thấp có đỡ ngã không?”

“Cái ngã thì không lo. Những chuyện ấy thì anh tỉnh lắm.”

Bách hỏi cô Ngọc:

“Ở nhà anh ấy làm gì nhỉ?”

Cô ngồi bó gối, nhìn đằng trước. Cô nói:

“Anh ấy bạn học với anh Tuyên, học giỏi lắm, nhưng sau trung học vì thành phần nên không được vào đại học, đi làm thợ nhà máy xi-măng. Anh ấy có đi bộ đội đánh giặc bánh trướng Tàu một thời gian. Nhưng đến đâu ở đâu, cái thành phần lý lịch cũng theo đuổi anh…”

“Thành phần gì?”, Bách hỏi.

Anh Tuyên nói:

“Thành phần phản động. Ông cụ anh ấy trước đi Việt Nam Quốc Dân đảng, sau trốn sang Tầu rồi chết ở bên ấy… Lúc ông cụ trốn đi, anh ấy mới hai tuổi…”

Chị Huyền nói, giọng thương hại:

“Kể cũng tội. Chú ấy chẳng bao giờ ồn ào gì. Chỉ có cái là thèm ngủ. Lo cho chú ấy cũng chẳng mất công lắm. Mỗi bữa để dành cho lưng cơm và cốc nước trà, để góc phản, khi nào dậy thì ăn… Thỉnh thoảng cái Ngọc nó giặt cho mớ quần áo bẩn.”

Rồi chị đưa ra hai giả thuyết, một là anh Thời lãng trí như vậy là tại mấy đoản côn tụi Xạ Phang đánh vào đầu, sợ chạm đến óc… Chuyến đi ấy… Mà cũng vì chú ấy xót cho cái Ngọc…

Nhưng chị Huyền không kể tiếp… Chị đổi đề tài… Chị cũng đổi ý như đánh trống lảng. Chị bảo có lẽ cũng không phải tại Xạ Phang đánh. Chắc tại ngộ chữ… Chị nói vần A tiếng Tây dài lắm, lại thêm nửa vần B nữa… Ấy là chưa kể phần giải thích cặn kẽ của cụ Đào Duy Anh… Thuộc lòng chừng đó cũng đủ điên rồi…

Thế là chị chấm dứt câu chuyện gian khổ của anh Thời. Một thanh niên quen thân với gia đình, thông minh học giỏi mà bị cản trở không được học lên, phải đi làm thợ xi-măng, chắc bất mãn lắm… Anh đi vượt biên chung toán với cô Ngọc, đánh nhau với cướp nên bị chúng phang côn vào sọ… về sau học tiếng Tây bị ngộ chữ, hóa lẩn thẩn… Mỗi ngày một lẩn thẩn hơn đến chỗ mất trí. Thế thôi… Bách nghĩ chuyện chị kể thật là giản dị.

Nhưng nhiều câu hỏi mới được nêu lên trong đầu Bách… Tại sao anh Thời lại liều mình đánh nhau với Xạ Phang, để cứu ai. Thân tình với gia đình này đến đâu… Anh phải chứng kiến những gì để đến nỗi điên. Nhưng chị Huyền đã kết luận:

“Học lắm cũng hại…”

15.

Ông cụ từ nãy yên lặng, bỗng ngắt lời con dâu:

“Con Huyền nói chuyện lếu láo quá.”

Mọi người quay lại nhìn cụ. Cụ hắng giọng nói tiếp:

“Chữ Tây hay lắm. Học vào mở mang trí tuệ. Không có lợi thì thôi chớ làm sao mà điên được. Thằng Tây là thằng có văn hóa… Cái anh Mỹ anh Nga chỉ được cái giỏi máy móc khoa học, chứ chuyện văn minh chữ nghĩa thì thấm thế nào với anh Tây được…”

Cô Ngọc lại chen vào. Cô nói lảng:

“Không biết bên Mỹ có thuốc chữa bệnh mất trí không anh Bách nhỉ?” Nhưng lần này, cụ không cho cô đổi đề tài. Cụ gắt nhẹ:

“Cái con này có để bố nói chuyện với anh Bách không nào…”

Cô Ngọc không dám lạc đề nữa. Và cụ bắt đầu mở màn cho câu chuyện về người Tây, văn hóa Tây. Tất nhiên là cụ biết Tây chứ. Thời Pháp thuộc, cụ đi lính khố đỏ đóng đến cai nhất. Thằng cai Tuất này đã đặt chân đến nhiều nơi, cụ vỗ ngực. Thằng cai Tuất này đã từng sang Cao Mên tham dự trận đánh Battambang với lính Thái, hồi Siam Pháp xích mích về biên thùy… Thế chiến thứ hai đã từng sang tận Tây đánh Đức. Bị thương nhẹ, về làng phục viên, được xã cấp mấy sào công điền.

Cụ kể vừa canh tác được hai năm thì cách mạng mùa thu bùng nổ. Cai Tuất trả ruộng lại cho làng, rồi xung phong đi bộ đội, đóng đến trung đội trưởng…

Cụ tay nghề về cây súng trường Đông Dương. Món võ khí có sáu bộ phận chính, và cụ có thể nhắm mắt mà tháo ráp trong hai phút đồng hồ.

Bách nói:

“Bác có hoa tay với súng… Cái đó không phải ai cũng có.”

Cụ Tuất bảo khó gì… Nó sẵn trong binh thư cả… Và cụ đọc cho Bách một đoạn trong cuốn cơ bản quân sự Manuel du Soldat quân đội Pháp thường phát cho binh nhì thời thuộc địa. Này nhé anh Bách, ngay trang đầu Tây nó đã viết rành rành là Lơ phú-di anh-đô xi-noa cạp-rằng xít bạc-ti bành-bành…

Thấy bố nói tiếng Tây bồi, cô Ngọc khốn khổ. Làm bộ tự nhiên, cô thông ngôn cho anh… Anh ạ thầy em nói là Le fusil indochinois comprend six parties principales… Cụ lừ mắt nhìn đứa con gái có tật nói leo. Cô Ngọc sợ hãi nín thinh.

Cụ kể tiếp câu chuyện đời lính, đôi mắt say mê nhìn về quá khứ… Rõ ràng là cụ làm lạc cả hướng câu chuyện mấy người con dành cho cuộc gặp gỡ hôm nay. Anh chị Tuyên còn bao nhiêu câu muốn hỏi về đời sống bên các nước Tây phương, nơi anh đang khao khát được đi…

Chỉ có Bách là hứng thú nghe chuyện cụ nói. Anh lại nhớ lại quê cũ, nhớ lại thủa tiền chiến. Hồi ấy có người tá điền của cha anh, chú binh Sơn, nguyên lính khố đỏ hồi hưu… Chú thường kể chuyện đời lính cho đám trẻ con trong làng những đêm trăng nhàn rỗi sau mùa gặt… hay những tối tháng chạp rét mướt, khi già trẻ quây quần quanh nồi cám heo sưởi ấm…

Chú thuộc tên các ông sao trên trời… nhà binh chúng tôi ban đêm đi “ba tui” giữa rừng, cứ ngắm sao mà đi… Cơm nếp Lào ngon là hạng nhất, những lần hành quân bên Lào, lạc vào thôn xóm của họ, họ cho ăn cơm nếp với gà luộc… Nhiều món ngon lắm… Chỉ có mắm ngóe của Lào là không dám ăn. Về sau, Bách lên tỉnh học, nghe nói chú ấy đi bộ đội đem kinh nghiệm nhà binh của mình phục vụ kháng chiến. Bách không gặp lại chú nữa, nghe nói chú có lập quân công và về sau tử trận trong chiến dịch Thu Đông đầu thập niên 50.

Mọi người đã cạn mấy tuần trà rồi mà cụ Tuất vẫn còn vui chuyện… Anh chị Tuyên thỉnh thoảng kín đáo đưa mắt nhìn nhau… Bách thấy họ hiếu thảo, nhưng cái hiếu thảo không át nổi cái sốt ruột.

*

Bách ngồi nghe cụ, cảm thấy như đang chiêm ngưỡng một kỷ vật hóa thạch của thời xa xưa. Thời gian như chạy giật lùi… như trở về thủa ngồi nghe chuyện chú binh Sơn ở làng.

Nhưng Bách cũng nhìn thấy những điều anh không thấy khi còn thơ dại. Hồi đó chuyện lính là chuyện lính… Anh không để ý đến lá cờ tam tài bay phất phới mỗi khi đoàn quân khố đỏ duyệt binh… mà về sau chú binh Sơn mới kể chuyện sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp bạt tai đá đít lính bản xứ, coi người ta như nô lệ, như súc vật.

Nhưng cụ Tuất bây giờ thì sao nhỉ, Bách thầm hỏi. Rõ ràng là cụ thù ghét giặc Pháp khi chúng toan trở lại thuộc địa sau thế chiến thứ hai… Rõ ràng là cụ kiêu hãnh về những chiến dịch thời kháng chiến… Đánh Tây nhẩy dù xuống Bắc Cạn, phục kích ca nô Tây trên Sông Lô khúc gần Tuyên Quang…

Nhưng cụ vẫn nhắc đến đội quân khố đỏ như một đội quân anh hùng sang trọng, buổi sáng kèn tây đánh thức, buổi tối kèn tây thu quân, điểm tâm với bánh mì trứng, dăm bông xúc xích, tối ăn xúp thịt bò… và nhất là trang bị bằng khẩu fusil indochinois tuy nặng bắn chậm, nhưng rất chính xác, rất bền, ngâm bùn ruộng chán lấy lên bắn lại như thường. Trong tay người lính tinh nhuệ, khẩu fusil indochinois lợi hại hơn khẩu AK của Tàu, hay khẩu M16 của Mỹ. Chỉ có điều những người lính tinh nhuệ như cụ nhớ chỉ có trong huyền thoại của ký ức hay đã tuyệt chủng lâu rồi…

Lại còn thời sang Tây đánh Đức… những nàng kiều nữ đầm Pháp ở Marseille, đẹp như tiên, da trắng như gạo nếp, đứa nào bên trên tóc vàng thì phao câu cũng vàng, đứa nào bên trên tóc nâu thì phao câu cũng nâu… những vườn nho táo đầy trái ngọt, tha hồ hái ăn mỗi khi hành binh qua… mấy cái mề đay của cộng hòa Pháp Quốc, và mấy phần thưởng tác xạ đã thu lượm được.

*

Bách ghi nhận là chuyện đánh Tây về sau và chuyện đi lính khố đỏ về trước, không tương phản, không đối nghịch nhau trong đầu cụ… Cả hai tạo thành cái quá khứ huy hoàng cụ đang kiêu hãnh kể lại… Trong hai đội quân đối nghịch cụ đã tham gia, có cái gì như mẫu số chung… Rồi anh tự cười mình lẩn thẩn… Làm gì có mẫu số chung giữa Giải phóng quân và lính khố đỏ.

Anh quan sát phản ứng của mấy người con. Cô Ngọc và vợ chồng anh Tuyên ngồi yên bất động, nét mặt phẳng lặng, tựa như họ đã nghe, đã chịu đựng những giai thoại này nhiều lần…

Tiếng cụ Tuất kéo anh về lại câu chuyện:

“Anh Bách ạ, bọn nhà binh chúng tôi…”

Cụ khai triển một khía cạnh khác của đời lính. Bọn nhà binh chúng tôi vào sinh ra tử có nhau… Phải rồi, tình đồng đội thắm thiết lắm. Thời bình, nhiều khi chính gia đình ruột thịt mình lâm nguy, có khi mình còn cân nhắc lợi hại… Nhưng mà đi trận với nhau, lúc đạn bay lửa cháy, bạn gọi cầu cứu là mình phóng tới, không cân nhắc đắn đo, không câu nệ tính toán, coi cái chết nhẹ như lông hồng. Anh Bách đi lính chưa nhỉ?”

“Dạ có, nhưng lính chuyên môn, không có tham dự tác chiến…”

Bách ngẩng lên nhìn cụ. Không thấy tọc mạch hay xỏ xiên. Chỉ thấy chút tiếc của, là Bách không trải qua cùng cảnh ngộ để hiểu chuyện cụ nói:

“Uổng quá. Giá anh đi bộ binh chiến đấu, anh sẽ hiểu.”

Cụ nói tiếp… Cái tinh thần anh em đồng đội nó lạ lắm… Trận Verdun, tôi bị thương ở đùi, thằng “Nớp Xăng Vanh” (quân số 920 của bạn đồng đội?) người Phủ Lý, nó phóng ra cứu, bất chấp hai ổ trung liên Đức bắn tréo cánh sẻ như vãi đạn… Đúng là cái nghĩa Lương Sơn Bạc, anh Bách ạ…”

Đến lần Bách tiếc của. Giá cụ Tuất có học vấn như cô Ngọc, chắc cụ sẽ cắt nghĩa cho anh rõ hơn. Anh biết cụ không chủ tâm dùng hình ảnh Lương Sơn Bạc để cắt nghĩa tình đồng đội. Lương Sơn Bạc là chất xi-măng liên kết của đám hảo hán… anh hùng tất nhiên… nhưng vẫn là anh hùng lục lâm… Anh hùng ăn cướp… Quân đội phải có một thứ nghĩa khí khác chứ…

*

Anh Tuyên ngồi đã mỏi xoay đi trở lại, nhưng cụ Tuất vẫn say mê kể chuyện. Anh đưa mắt nhìn chị, chị hiểu ý nhổm dậy xếp bát đĩa vào chiếc lẵng ny lông sửa soạn đi rửa.

Bách cũng xoay trở trong thế ngồi thiếu tiện nghi. Cô Ngọc nhìn anh ái ngại. Cô hỏi mấy giờ anh có hẹn với chị Băng. Cụ Tuất đang nói giữa câu cũng ngưng lại nhìn anh.

Cụ hỏi:

“Anh Bách phải đi bây giờ à? Lần này vào thăm trại vội vã quá nhỉ?”

Bách không có hẹn gì với chị Băng, và anh hiểu nhã ý của cô Ngọc. Nhưng anh bỗng thấy thương cụ. Như người già sống chung với con cái, cụ đã không còn theo kịp cuộc sống của tụi trẻ. Chắc ngay từ hồi còn ở nhà, bè bạn cùng lứa đã thưa thớt hay không còn nữa, và các cụ sống với quá khứ, cái quá khứ mà đám con cháu không hề biết, mà cũng không muốn biết… Dần dà, họ thành ít nói, ít trao đổi với người xung quanh, trừ phi có ai thật tình thông cảm với tâm sự của họ…

Nhìn đồng hồ, Bách nói:

“Dạ… Còn cả nửa tiếng nữa mới tới giờ.”

Quay sang cô Ngọc, anh nói:

“Cô có bận thì mặc tôi. Đang được hầu chuyện bác, thích quá.”

Cô Ngọc nhìn cụ Tuất rồi lại nhìn anh, nét cảm ơn trong ánh mắt.

Chị Huyền đã sửa soạn xong. Chị đã xếp sẵn hai túi, một túi bát đĩa, một túi quần áo bẩn. Chị đang lần ra mép phản. Anh Tuyên nhẩy xuống trước để đỡ chị. Bách nhận ra lý do của sự cẩn thận đặc biệt này. Chị Huyền đã có mang, cái bụng trông khoảng ba bốn tháng…

Anh Tuyên nói:

“Anh Bách ở chơi với thầy em, em đưa nhà em đi giặt giũ. Giờ này vòi nước nó vắng một tí, đỡ phải chờ.”

Cô Ngọc dùng dắng, như nửa muốn đi nửa muốn ngồi lại tiếp khách. Chị Huyền mau mắn:

“Cô ở nhà chơi với anh Bách đi. Hôm nay đồ giặt cũng chẳng có gì, mình chị cũng đủ rồi.”

16.

Bách nhìn theo anh chị Tuyên đang bước ra khỏi phòng giam. Trông hai anh chị như một cặp vợ chồng bình thường lo dọn dẹp nhà cửa một ngày chủ nhật. Chỉ có điều hoàn cảnh xung quanh cặp vợ chồng này thê thảm quá…

Như đọc được ý anh, cô Ngọc nói:

“Anh chị cả em làm đám cưới trước khi vượt biên. Họ chưa bao giờ được ở phòng riêng.”

Anh nói:

“Mỗi cảnh mỗi khác cô Ngọc ạ.”

Cô Ngọc không chịu thua:

“Em nghĩ chị Huyền phải yêu anh Tuyên lắm lắm. Em thì em không chịu vậy. Tình yêu phải có chút tối thiểu riêng tư, chút tối thiểu kiểu cách thẹn thùng… Cả nhà chung chạ với nhau một khoảng chưa đầy hai chiếc chiếu… Lại còn em, lại còn bố… Láng giềng chỉ cách có tấm bạt mỏng. Làm gì mà phải gấp gáp thế?”

Cụ Tuất muốn la con gái. Nhưng bắt chặp tia nhìn quan sát của Bách, cụ lặng yên.

Bách nói:

“Cô Ngọc khe khắt quá. Chắc cô chưa gặp ai cô thật sự ưng ý…”

Cụ phụ họa:

“Anh Bách nói đúng. Ở đời có lúc biến có lúc thường.”

Cô Ngọc vẫn cãi:

“Ưng thì ưng chứ. Lấy chồng như thế này không có em. Chẳng thà em đợi…”

“Cô đợi gì?”

“Em đợi một hoàn cảnh thuận lợi…”

“Cô Ngọc à. Đã gần một nửa thế kỷ rồi, đã mấy thế hệ rồi, vì chuyện nọ chuyện kia, hoàn cảnh của người mình đã không thuận lợi cho… à… tình yêu hay sự sống. Vậy mà ai chả sống… Bộ cứ ngồi đó mà đợi sao?”

Cô Ngọc nhỏ nhẹ:

“Em nói cái này, anh đừng giận nhé. Những vấn đề ở đây thiết thực quá, mà anh nói đến những chuyện trừu tượng… như tình yêu và sự sống… em theo không kịp…”

Bách suy nghĩ rồi hỏi lại:

“Nếu bây giờ làm lại từ đầu thì cô có đi nữa không?”

“Em vẫn đi.”

Bách nói:

“Tức là cô vẫn coi thường những vấn đề thiết thực hiện tại, vì nó không làm cho cô đổi ý về chuyện ra đi… Nếu chuyện quan trọng không phải là những vấn đề thiết thực, thì tất phải là những vấn đề trừu tượng… Những vấn đề quan trọng lắm… quan trọng đến nỗi biết được những khó khăn hiện tại mà cô vẫn đi… Tôi nghĩ đó là tình yêu và sự sống…”

Cô Ngọc cúi đầu. Cô nói:

“Anh nói nữa đi.”

Cao hứng Bách triết lý:

“Tất cả những chuyến di dân của nhân loại đều vĩ đại, đều kinh khủng, đều có tầm mức vượt xa trí tưởng tượng của con người… Ruột thịt là cuộc di dân của ông bà mình từ lưu vực sông Dương Tử xuống Bắc Việt, rồi cuộc Nam tiến… Xa hơn là đến những cuộc di dân ít liên hệ đến mình, của những người hải đảo cả ngàn năm trước phiêu bạt trên Thái Bình Dương trên những con thuyền độc mộc mảnh dẻ như những quả dừa khô… cuộc di dân của Âu châu qua lục địa Mỹ… Hay huyền bí hơn, là cuộc vượt biển Hồng Hải của dân Do Thái kể trong Cựu ước…

“Và theo chiều dài của lịch sử, mọi cuộc di dân này đều thành công… Cái thành công của sự sống lan tràn tới những bờ bến mới… Của những ước mơ mới, những xây dựng mới ở những miền đất mới… Và động lực của những chuyến di dân đó là hy vọng, là sự sống, là tình yêu… dù trong Thánh Kinh, hay trong lịch sử ngoài đời…”

Rồi anh nói tiếp:

“Và cả cuộc di dân hiện tại ngay trước mặt mình, cuộc di dân của đồng bào mình mà cô Ngọc đang dự phần… Kết quả của những vụ di dân bao giờ cũng đẹp… cũng vĩ đại… tuy thế hệ đầu tiên phải trả giá đắt…”

Cô Ngọc vẫn cúi đầu nghe Bách nói. Đến đây, cô bỗng rùng mình:

“Anh nói đúng, nhưng nhiều khi em thấy đắt quá…”

Anh ngần ngại… Rồi có linh tính anh phải mạnh dạn, anh nói:

“Đắt hay không đắt, đời sau mới biết. Đời đứa con trong bụng chị Huyền, những đứa con thụ thai trên đường di dân… đời những đứa con tương lai sẽ thụ thai ở vùng đất mới… những đứa con chưa đẻ của cô Ngọc… Đời của con cháu chúng nó. Cô Ngọc với tôi bây giờ như hai người Do Thái của Cựu Ước đang đứng trước Hồng Hải, chỉ thấy lầm than, thấy nước mắt của cuộc thoát ly mà không biết mình đang chứng kiến, đang góp phần vào một biến cố vĩ đại của lịch sử nhân loại.”

*

Cụ Tuất kéo Bách ra khỏi lý thuyết trừu tượng. Rõ ràng là những lời biện luận của Bách về tương lai không lọt vào tai cụ. Cụ nói đến thực tại:

“Tội nghiệp hai vợ chồng thằng Tuyên. Còn một tuần nữa thì đi, thằng cả mới thưa với tôi là con Huyền cũng muốn đi theo. Cúng gia tiên ở nhà, thậm thụt như ăn trộm, tuần trăng mật xô bồ chen chúc trên thuyền tị nạn, rồi tới trại tù Hồng Kông mới làm giấy tờ, cai ngục làm lễ cưới…”

Cụ lại bảo:

“Đám cưới tôi với bà nó, không sung túc gì nhưng cũng còn ra cái đám cưới. Có chạm ngõ, có ăn hỏi… Có cau trầu, có mâm cỗ mời làng nước, có đưa dâu đón dâu, có nhị hỷ lại quả… Đời này khổ quá, đám cưới như đám cưới ăn mày.”

Anh nhìn cụ già, chờ đợi một nét chua cay, nhưng chỉ thấy thản nhiên. Rồi cụ đã bỏ rơi hiện tại để trở về với quá khứ. Và cụ kể tiếp những kỷ niệm êm đềm thủa tiền chiến ở làng. Mắt cụ mềm thật là mềm, suốt trưa nay chưa bao giờ mềm thế này… và cụ nhắc đến những năm được mùa, những hội hè đình đám cũ, những mâm sôi dẻo, những con lợn béo… Và sân đình rợp bóng cờ xí, gió xuân phe phẩy thổi, trai gái trong làng rộn ràng đón xuân trong tiếng hát quan họ, bên những cây đu mới trồng… Cụ không nhớ chuyện cường hào ác bá, cụ cũng không nhớ lính đoan về làng khám rượu…

Thậm chí cụ kết luận:

“Thời thằng Tây thế mà sướng.”

Không đừng được, anh nói:

“Thời Tây, con còn bé quá không nhớ. Nhưng thực dân người dưng nước lã, nó bóc lột mình, nó hà hiếp mình, làm sao mà sướng. Thí dụ như vụ chết đói tháng ba…”

Cụ có sẵn câu trả lời ngụy biện:

“Cái đó là tại thằng Nhật. Trước khi thằng Nhật tới, nước mình giàu lắm, thằng Tây có bóc lột cũng còn dư dả cho thằng dân. Tết đến cũng còn có manh quần tấm áo mới, cũng còn có nồi bánh chưng… Còn từ đó về sau, cứ khổ là khổ… Lúc nào thằng dân cũng phải khổ, chỉ khác có điều là thay vì gọi là thằng dân khổ, thì gọi là thằng dân hy sinh cho tổ quốc. Không phải một năm, không phải hai năm, không phải ba năm, mà năm này qua năm khác, từ 45 đến giờ. À anh hỏi tôi thằng Nhật tử tế hay thằng Tây tử tế ấy ư? Tôi nghĩ không thằng nào tử tế cả… Khác máu tanh lòng làm sao tử tế được? Nhưng nước mình giầu lắm, phải cả hai thằng cùng bóc lột một lúc mới xảy ra cái đói năm 45 được… Còn về sau ấy à, không có ngoại nhân nào bóc lột mình, mà mình khổ như bị một thằng Tây cộng với một nửa thằng Nhật hợp lại mà bóc lột…”

Bách nghĩ cụ nói ngang quá, hèn gì mà phải bỏ nước mà đi.

*

Bách cố gắng mà không sắp xếp nổi một ý kiến thuần nhất về cụ già này. Cụ hoàn toàn mộc mạc, chưa học xong tiểu học, nhưng đồng thời lại vô cùng phức tạp. Cụ theo con trốn đi Hồng Kông hy vọng sang Mỹ, mà lòng vẫn còn thán phục và kính trọng cái văn hóa Pháp, tuy văn hóa rõ ràng không phải là mối bận tâm của cụ.

Còn nữa… Đâu là người chiến sĩ sông Lô đánh chìm ca nô giặc, đâu là bác cai khố đỏ khoe về bữa xúp tối của đội bộ binh thuộc địa… Và đâu là ông già đã sống gần nửa đời người gọi là trong độc lập tự do, mà hình ảnh của ấm no hạnh phúc vẫn là những năm tiền chiến dưới thời Pháp thuộc? Cụ Tuất với cái điếu thuốc lào, nhồi thuốc vào nõ, châm lửa và rít một hơi. Rồi cụ ngả người ra sau lim dim con mắt. Đây là điếu thứ tư cụ hút. Cụ không nói nữa, yên lặng khoan khoái hưởng cái say thuốc đê mê…

17.

Bách ngắm cụ. Bây giờ anh mới thấy sự việc giản dị. Chẳng qua là lâu lắm cụ mới được nói một bữa cho hả. Thái độ chịu đựng của cô Ngọc và vợ chồng anh Tuyên trọn suốt bữa ăn đã cho anh hay là cụ Tuất không còn trông cậy được ở cử tọa gia đình này nữa. Và chắc thỉnh thoảng có khách lạ đến chơi, cụ mới được sống hết mình…

Anh cũng thấy cụ sống hết mình không phải với hiện tại. Sống với cụ là sống lại quá khứ. Không phải là cái quá khứ gần, của những thập niên vừa qua khi miền Bắc không còn ngoại nhân thống trị… Mà là cái quá khứ xa lắm, cái quá khứ tiền chiến, tiền cách mạng mùa thu.

Rồi anh ghi nhận cái oái oăm của thế hệ cụ, của những nông dân sống trong buổi giao thời với một tâm hồn đơn sơ mộc mạc. Anh không còn trách cụ đã nghĩ tới những năm Pháp thuộc như một phần êm ả của cuộc đời. Anh ghi nhận là không phải riêng cụ, mà tất cả thế hệ cụ, mà có lẽ một phần nào cả thế hệ anh nữa, dĩ vãng xa xăm của thời tiền chiến, có lẽ vì xa xăm quá mà êm đềm, nên lẫn lộn với thời đất nước còn bị ngoại nhân đô hộ.

Cụ Tuất với ly nước trà chiêu một ngụm. Rồi cụ lại ngồi yên. Bách ngắm mái đầu bạc phơ, đôi mí mắt xệ xuống… Bây giờ thì cụ mệt rồi, cụ không thèm nói nữa. Cụ tựa cầm lên đầu gối, mắt lờ đờ buồn ngủ.

Bách nhìn cô Ngọc. Anh nói:

“Thôi tôi xin kiếu nhé. Để cho bác nghỉ.”

Cô nhìn bố, rồi buồn rầu nhìn anh. Cô gật đầu. Cô nói với cụ Tuất:

“Thầy cũng nghỉ trưa đi kẻo mệt.”

Không thấy cụ Tuất trả lời, cô Ngọc đỡ cụ ngả lưng xuống phản. Cô lấy tấm mền sau bức màn, cuộn lại làm gối đặt dưới đầu cụ. Cô ngửng lên nói với Bách là lần này anh gặp thầy em, chắc anh thích lắm. Rồi hạ giọng thấp hơn nữa, cô nói thật nhỏ:

“Nếu có viết về thầy em, anh nhẹ tay một chút anh nhé.”

Bách xót xa. Anh nhìn trộm cụ Tuất, thấy cụ tiếp tục ngủ, nét mặt thảnh thơi. Anh mong cho cụ đang được sống lại trong mơ những năm tiền chiến ở làng.

*

Bên hộ bên kia anh Thời cựa mình. Cô Ngọc vén tấm bạt lên. Anh Thời vẫn chùm chăn ngủ say. Phản thấp, cô Ngọc phải vừa quỳ vừa lết để sang bên xập anh. Cô đặt chiếc cà mèn nhỏ cô đã sắp sẵn cơm nước cho anh vào một góc an toàn. Rồi cô lết tới bên anh, nhẹ nhàng cúi xuống kéo mép tấm mền che ngang mặt cho anh khỏi ngộp hơi. Bàn tay cô dừng lại trên trán anh, như an ủi dỗ dành. Cử chỉ cô ân cần, và nét mặt cô vô cùng dịu hiền… Anh chợt hiểu, hai nguời trẻ này nếu cuộc đi trót lọt chắc đã nên vợ nên chồng. Sau cùng cô ngẩng lên nói với Bách:

“Thầy em khi nào khổ quá còn có thời tiền chiến, thời thằng Tây… để mà nhớ lại, để mà trốn vào… Chỉ tội nghiệp anh Thời… Anh ấy không có cả những thứ ấy… Thời tiền chiến, anh ấy chưa đẻ.”

Rồi nuốt khan, cô nói tiếp:

“Suốt đời anh ấy, từ khi lọt lòng mẹ… Mà cũng từ sớm hơn nữa… Có sung sướng chăng là mấy tháng trời còn ở trong bào thai.”

Nghe tiếng cô Ngọc, anh Thời khẽ cựa quậy trong giấc ngủ. Động tác của anh mơ hồ yếu ớt… Như cái đạp trong tử cung của thai nhi khi nghe tiếng mẹ nựng bên ngoài. Và vẫn co quắp như một bào thai khổng lồ dị dạng lạc lõng trên phản gỗ cứng trại cấm, người đàn ông mất trí vụng về nhích tới. Anh khe khẽ cọ đầu vào bàn tay cô, vào đùi cô, vào lòng cô, như muốn lủi trốn… Bản năng đưa anh tìm về một nơi êm mềm như lòng mẹ… một nơi ấm áp hơn, an toàn hơn cuộc sống thật ngoài kia, cái cuộc sống lạnh lùng vô lý đã đày đọa anh cho đến bây giờ.

Bách ứa nước mắt. Anh quay đi để giấu cô Ngọc là anh đang khóc…

M.K.N. 

 

 

 

bài đã đăng của Mai Kim Ngọc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)