Nguồn: Jane Kenyon, Otherwise: New and Selected Poems (Saint Paul MN: Graywolf Press, 1996)
“Surprise”
Bất ngờ
Anh ấy đề nghị bánh kếp ở tiệm ăn gần nhà,
tiếp theo là một cuộc đi bộ để kiếm hoa tháng năm,
trong khi bạn bè tụ tập ở nhà
bê tới những món ăn và một cái bánh, xe họ
đậu san sát dọc theo lề cát
bên đường, nơi những nhành dương xỉ mềm mại xoè cánh
trong những rãnh nước, và những lá cây mới nhú năm nay
đẩy những lá cây đã ra ma của năm ngoái khỏi ngọn
các nhánh con trên những cây tần bì. Cuộc tụ tập
tự nó không phải điều làm nàng ngỡ ngàng, mà cái vẻ
thoải mái anh đã tạo được khi nói dối.
“Drawing from the Past”
Hình vẽ từ quá khứ
Chỉ có Mama và tôi ở nhà.
Chúng tôi ăn xăng-uých cà chua
với nhiều lớp mayonaise
trên bánh mì trắng xoàng xĩnh.
Chắc chắn đó là tháng Chín,
anh tôi ở trường.
Cà chua thơm
và đỏ mọng, có lẽ lứa chót
trước giá rét.
Tôi nhạy bén trước niềm vui được ăn
xăng-uých một mình với Mama, chân
trần ngoắc vào những trụ chống
của cái bàn ăn trầy trụa.
Một lần tôi đã để lại dấu trên mặt gỗ
vì nhấn quá mạnh trong khi tôi đồ theo
hình viền một con ngựa.
Tôi vẽ chẳng ra gì—từ cuộc sống,
hay từ trí tưởng tượng. Anh tôi
môn đó thì rất giỏi, và tôi nhạy bén
trước việc đó nữa.
“Finding a Long Gray Hair”
Tìm thấy một sợi tóc bạc dài
Tôi cọ rửa những tấm ván dài
ở nhà bếp, lặp lại
động tác của những người đàn bà khác
từng sống trong căn nhà này.
Và khi tôi tìm thấy một sợi tóc bạc dài
nổi lên trong xô nước,
tôi cảm thấy đời tôi cộng chung vào đời họ.
“My Mother”
Mẹ tôi
Mẹ tôi trở về từ chuyến đi xuống phố tới tiệm bán đồ rẻ tiền. Bà có đem về cho tôi một ngạc nhiên. Nó còn ở trong ví bà.
Bà mang đôi giày đỏ có những sợi dây cột ngang mu bàn chân. Chúng được gắn lại bằng những khuy trắng nhỏ, như mắt cá.
Bà đem về dây kéo và những cuộn chỉ, vàng và xanh lá cây, cho công việc của bà, cái công việc luôn đưa bà đi tận đẩu tận đâu, dù bà chỉ làm việc trên lầu, trong căn phòng kế phòng tôi.
Bà mặc chiếc áo đầm váy dài len xanh có cổ rộng của bà, tóc cột cao lên khỏi cổ. Trông bà đẹp lắm. Bà luôn diện khi đi xuống phố.
Bây giờ bà mở chiếc ví rơm, trông giống như một cái va li nhỏ. Bà trao cho tôi cái đồ chơi mới: một cái vợt gỗ với một trái banh cao su nhỏ nối liền với nó bằng một sợi dây thun. Thỉnh thoảng khi bà đi xuống phố, tôi nghĩ bà sẽ không trở lại.
“Biscuit”
Bánh quy
Con chó đã làm sạch chén của nó
và phần thưởng của nó là một cái bánh quy,
mà tôi đặt vào miệng nó
như một cha xứ đang ban bánh thánh.
Tôi không chịu nổi cái mặt đầy tin cậy ấy!
Nó đòi bánh mì, trông đợi
bánh mì, và tôi trong quyền lực của mình
đã có thể cho nó một cục đá.
“Otherwise”
Khác đi
Tôi ra khỏi giướng
trên hai chân mạnh mẽ.
Chuyện có thể đã
khác đi. Tôi ăn
ngũ cốc, sữa
ngọt, trái đào chín
không tì vết. Chuyện có thể
đã khác đi.
Tôi dắt chó lên đồi
vào rừng bu lô.
Suốt buổi sáng tôi làm
công việc tôi yêu thích.
Tới trưa tôi nằm xuống
với ông xã. Chuyện có thể
đã khác đi.
Chúng tôi ăn tối với nhau
bên cái bàn có những chân nến
bằng bạc. Chuyện có thể
đã khác đi.
Tôi ngủ trên giường
trong một căn phòng có tranh
trên tường, và
trù tính cho một ngày khác
y như ngày này.
Nhưng một ngày, tôi biết,
chuyện sẽ khác đi.
“Rain in January”
Mưa tháng Giêng
Tôi thức dậy trước bình minh, vẫn còn
trong một thể xác. Nước chảy
xuống từng cửa sổ, và túa ra
ngoài các mái hiên.
Bên dưới một ống thức ăn trống trơn
một con chồn hôi đang rình mò tìm mỡ
hay hạt. Ðèn nhấp nháy tắt
và rồi sáng lên lại.
Khói từ ống khói
không bốc lên nổi. Nó đi xuống
vào trong sân, và lùng nhùng ở đó
kiểu khó mà lên tới
trời. Khi cánh tay tôi tuột
khỏi tay ghế
tôi để nó thõng bên tôi, nhợt nhạt,
vô dụng, và xa lạ.
Nguyên tác tiếng Anh bài “Rain in January” qua giọng đọc Mekeel McBride
http://www.izaak.unh.edu/exhibits/kenhall/RAIN.HTM