Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 19, Dịch Thuật, Sáng Tác, Song ngữ, Thơ Email bài này

Ba bài thơ Osundare

0 bình luận ♦ 30.12.2006

Lê Ðình Nhất-Lang chuyển ngữ

Cuộc du ngoạn

Qua những ngả bụi rậm trải mòn bởi những bước không mệt
Qua những ghềnh đá chà nhẵn bởi những gót ương ngạnh
Qua những bụi bồ công anh gào thét vô thanh nơi chân tôi phiêu bồng
Qua đám cỏ voi không ngà thổi sáo bởi gió.

Qua chất đồng cạn kiệt của những ruộng bắp gặt xong
Qua lùm lá rợp khoai lang đang chín
Qua tiếng du dương loài đậu của dãy đậu phộng
trong giàn nhạc của những luống đu đưa
Qua cây đậu có một ngàn con
với chất antimony trong mỗi mắt

Qua con bướm hào hoa ghé chơi hoa nọ hoa kia
Qua con ong vi vu mơ mộng trong võng
của những thửa đất đang ủ
Qua con bọ hung lăn lộn trong trái banh cấm
Qua những con kiến càng không giày xếp hàng dằng dặc

Qua cái hồ nằm không tên trong sổ
của những bụi cây trứ danh
Qua con vịt viết những chữ chất lỏng
trên mặt hồ mở rộng
Qua những tảng đá và hòn sỏi đáp lại lời thì thào
của những bàn chân kêu gọi
Qua mũi tên rung rung của một mặt trời vào trưa

Ði về
với một cành hoa nằm trong bàn tay
Ði về
với một mặt trời nằm trong tay kia
Ði về
một căn nhà đầy hương nắng.

Ai nói chỗ này đã có hạn hán?

Với những vị khách màu lục quanh đây
Ai nói chỗ này đã có hạn hán?

Mưa vừa mặc áo cho đất
những chiếc áo lót của tươi xanh
mưa vừa mặc áo cho một quả đất
bị liếm sạch bởi chiếc lưỡi hạn hán bạo tàn

Với những vị khách màu lục quanh đây
Ai nói chỗ này đã có hạn hán?

Rặng cọ đã rũ tấm màn của màu nâu
phủ trên đỉnh rừng
bởi que diêm bất cẩn của những ngày bắt lửa
khi những ánh loé làm ngập đất
và bầy diều hâu lảng vảng cào nên câu chuyện
vào tai bầu trời u mê

Với những vị khách màu lục quanh đây
Ai nói chỗ này đã có hạn hán?

Bốc lửa với niềm vui thảo mộc
cây cối vỗ vào cái mặt của trời
với niềm kiêu hãnh tổng hợp
của những chiếc lá trẻ trung

cuộn những cành lá thành từng lùm
một lần thành những ngọn tháp xương ở trong
bộ mặt không manh mối của mặt trời đang nung nấu

Với những vị khách màu lục quanh đây
Ai nói chỗ này đã có hạn hán?

Và những đồi kiến mở tung triệu cánh cổng
và mối cánh bu quanh lời chào ấm áp
của những chạng vạng thắm thiết
và bướm rủ rê sự đồng hành thơm ngát
của những bông hoa mới biết bay
và những con nhậy thợ xay đặt môi ướt
lên những cái tai trong suốt của những cửa sổ đang nghe
và chim én in một giai điệu
trên khuôn mặt đồng của cái hồ đang quần tụ
và chim sâu chọn giàn hợp xướng
trong những độ cao đang ra lá . . .
chẳng bao lâu những trái nấm giòn sẽ phá vỡ
cuộc nhịn đói của những lòng bàn chân mạo hiểm

Với những vị khách màu lục quanh đây
Ai nói chỗ này đã có hạn hán?

Trái đất của chúng ta sẽ không chết

(Theo một điệu nhạc long trọng, gần như bi đát)

Bị hành hình
những hồ
Bị xẻ thịt
những biển
Bị cấu xé
những núi

Nhưng trái đất của chúng ta sẽ không chết

Ðây
đó
mọi nơi
một cái hồ bị giết bởi nước đái thạch tín
từ bọng đái của những cơ xưởng lợi nhuận
một dòng suối tẩm độc chảy quanh co xuống đồi
ho ra sự hỗn độn trong biển bệnh hoạn
con cá voi than van, ngửa bụng như con cá đang bị chiên,
đẩy lên đến đỉnh bài ca biệt ly ớn lạnh của những vùng nước ra đi.

Nhưng trái đất của chúng ta không chết.

Ai đã hành hình những hồ. Ai?
Ai đã xẻ thịt những biển. Ai?
Ai đây đã cấu xé những núi. Ai đây?

Trái đất của chúng ta sẽ không chết

Và mưa
mưa rơi, a-xít, trên những rừng hói
những cành cây bị cắt bỏ bởi những dao lê nhiễm trùng
của những đám mây ô uế
Những cây liễu khóc lóc nhỏ nước mắt thuỷ ngân
vào con mắt của những vùng đất sụt sùi
một mặt trời nguyên tử mọc lên như một quả cầu tang lễ
triệt hạ con người và đồng cỏ xuống thành bụi và đất.

Nhưng trái đất của chúng ta sẽ không chết.

Cá đã chết trong sông hồ. Cá.
Chim đã chết trên cây. Chim.
Thỏ đã chết trong hang. Thỏ.

Nhưng trái đất của chúng ta sẽ không chết

(Nhạc đổi sang rộn ràng, lớn hơn)

Trái đất của chúng ta sẽ thấy lại
những con mắt rửa bằng một cơn mưa mới
mặt trời về tây sẽ mọc lên lại
chói lọi như một đồng tiền mới.
Gió, tháo ra, sẽ chơi điệu nhạc của nó
cây ríu rít, cỏ múa may;
những sườn đồi sẽ nhún nhịp với những mùa gặt nở hoa
các thảo nguyên chớp những con mắt cỏ kiều diễm.
Biển sẽ uống những gì chứa trong tim biển
khi một tiếng sấm hân hoan mở tung cửa trời
và một cơn mưa mới nhào xuống
trong những tiếng trống của niềm vui.
Trái đất của chúng ta sẽ thấy lại

trái đất này, TRÁI ÐẤT CỦA CHÚNG TA.

Nguồn: Adewale Maja-Pearce, The Heinemann Book of African Poetry in English (Oxford: Heinemann International, 1990)

 
Nhà thơ của thiên nhiên thoát chết trong Bão Katrina

Nguồn: Trích dịch từ bài viết trên trang web của đài VOA, 8 tháng Mười, 2005
http://www.voanews.com/english/archive/2005-10/2005-10-07-voa67.cfm

Khi Niyi Osundare đang chuẩn bị rời nhà ở New Orleans để đưa Kemi, vợ ông, đi làm ở một bệnh viện địa phương, thì ông chợt thấy nước tràn ngập lối xe ra. Chẳng mấy chốc, nước chảy vào tầng hầm của ngôi nhà. Hai vợ chồng bèn vội cứu vớt đồ đạc, được cái nào hay cái nấy.

Nhưng vớt chẳng được bao nhiêu. Nước đã nhanh chóng tràn ngập những gì nhà thơ cho là quan trọng đối với ông—sách, bản thảo, và hồ sơ trong máy điện toán. Vợ chồng Osundare sau đó leo lên gác xép và ở trên đó suốt 26 tiếng đồng hồ, không điện nước, thức ăn, hay phương tiện truyền thông.

Ông kể, “Khi đó, vợ tôi suýt ngất vì nóng. Bà ấy nói, ‘Ta thử làm một cái gì đi.’ Chúng tôi có một cây cọc. Một cái bao trôi tới phía chúng tôi. Bao màu đỏ. Chúng tôi cột cái bao này vào đầu cọc, và tìm ra một cái lỗ nhỏ trên mái nhà mà chúng tôi có thể thọc qua. Sức tôi không đủ, sức bà ấy cũng không đủ. Vì vậy chúng tôi phải hợp sức và kêu, ‘Cứu! Một, hai, cứu!’ Chúng tôi cứ làm như vậy mãi.”

Sau cùng, một người hàng xóm đi thuyền qua và cứu họ. Osundare nói, “Hoàn toàn tình cờ. Nếu người hàng xóm không tới, thì giờ đây hẳn chúng tôi đã tham gia những con số thống kê… Khi ra ngoài, chúng tôi không nhận ra được con đường nữa. New Orleans toàn là nước–nó đã thành khoảng nới rộng của cái hồ.”

Sau này, khi Osundare kể lại câu chuyện cho mẹ ông ở Nigeria, thì bà mẹ nhắc nhở về sự trớ trêu của cái tên của ông. “Thực ra nó có nghĩa là ‘hồn của dòng sông ở bên tôi.’ Mẹ tôi nói là dòng sông đã tặng tôi cho bà, và không thể nào nó lấy tôi lại từ tay bà.” Osundare nói ông sẽ viết một bài thơ về đề tài này.

Về kinh nghiệm mất nhà trong cơn bão, Osundare nói, “Trong hai tuần, tôi thành một người vô gia cư, một nạn nhân, đi xin thức ăn của Hội Hồng Thập Tự… Ðiều này khiến tôi khiêm nhường, nhưng không hề cảm thấy nhục nhã. Nó nhắc nhở tôi đôi điều về đời sống con người, nó làm xẹp bớt cái ngạo mạn mà chúng ta mang theo khắp nơi khắp chốn.”

bài đã đăng của Niyi Osundare


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)