Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 17, Dịch Thuật, Sang Việt ngữ, Tiểu luận Email bài này

Edward P. Jones và những Tâm Ca Cho Dân Mỹ

0 bình luận ♦ 16.12.2006

Dịch thuật: Vi Lãng & Nguyễn Đức Nguyên

 

 

Edward P. Jones có một tấm ảnh trắng đen duy nhất của mẹ, bà Jeanette Satana Majors, chụp lúc còn trẻ, ở thủ đô Washington; bà mang đôi bông tai ngọc trai, mặc áo trắng, ngồi thẳng lưng, chân tréo, với tòa nhà Quốc Hội bên phía vai phải, như một người lính gác. Mới thoáng nhìn, tấm ảnh – đăng chung trong bài tiểu luận “Bức Chân Dung Ngày Chủ Nhật” của Jones, năm 1994 – làm ta nghĩ đến một hình chụp chính thức của một người đàn bà Mỹ gốc Phi, trẻ, thanh lịch, sung túc, hoặc giả là con gái của một nhà ngoại giao, hay cũng có thể là một giáo sư mới ra trường. Hai mươi bốn tuổi, Jones thừa hưởng tấm ảnh này một tháng sau khi mẹ ông mất, năm bà năm-mươi-tám. Chụp khoảng cuối thập niên 1930, “Bức Chân Dung Ngày Chủ Nhật,” theo Jones là “một trong những gì quí báu tôi có thể đổi mạng sống để được”, là tấm ảnh đầu tiên ông nhận được của mẹ ông thời bà còn trẻ. “Trước khi nhìn tấm ảnh đó,” Jones viết, “tôi không hề biết mẹ tôi trông nghiêm nghị, trẻ trung và hồn nhiên như thế.” Trước đó, với ông, bà khác hẳn. Ông có biết về mẹ ông, nhưng đó là bà mẹ
sau những năm nô lệ thân xác cho chính mình và con cái, làm thợ rửa chén đĩa hay người lau chùi nhà, sau khi bị buộc bỏ thằng con trai út yêu dấu nhưng chậm trí vào viện nuôi, sau những năm chung sống với một người đàn ông ăn hại, sau ba lần đột quỵ bệnh tim làm tê liệt phía thân bên phải, sau khi ung thư phổi giật lại mặt mày thân thể và vặn vẹo bà thành một nắm đất sét, chắc là cùng một nắm đất khoảnh khắc trước khi Thượng Đế nắn tạo lên hình người và thở hơi sống đầu tiên vào bà.

Tấm ảnh chân dung ngày chủ nhật này của bà Jeanette Satana Majors – “Chủ Nhật” vì đó là ngày nghỉ làm duy nhất trong tuần của bà – chụp trong một phòng ảnh ở Washington; tòa nhà Quốc Hội trên nền chỉ là một tấm phông giấy bồi; tất cả là một dàn cảnh, chỉ để gửi về “dưới quê,” về lại miền Nam Mỹ, bang North Carolina và Virginia; “gửi về,” như Jones viết, “cho thân nhân để họ gác vào khung của những tấm gương đã rạn nứt hay bỏ vào trong một hộc tủ áo, kẻo không ánh sáng dữ mạnh miền Nam làm mờ ảnh đi và lấy mất đi ma lực.”

Cũng chẳng có ma lực gì về hình ảnh thực trong đời sống: mười tám căn phòng khác nhau Jones và mẹ với cô em gái đã đi qua trong mười tám năm đầu của ông, mỗi căn “tệ hơn căn trước,” có căn họ đã phải dọn ra vì nguyên tòa nhà bị tịch thu. Cũng chẳng có ma lực gì về việc mẹ ông không biết đọc không biết viết, nếu có cũng có thể giúp bà và gia đình được một đời sống khác. Chẳng ma lực gì về gia cảnh nghèo khó của họ, về vắng bóng một người chồng đã bỏ rơi người vợ trẻ với ba con nhỏ trong cảnh cùng khó đó, một người cha mà Jones “trao đổi ít hơn hai ngàn chữ trong suốt cuộc đời của ông,” một người cha Jones không có được một tấm hình, với khuôn mặt Jones không thể nào diễn tả. “Nhưng vì những gì cha tôi đã không làm,” Jones viết, “tôi quyết định không mua một bia mộ cho ông khi ông ấy mất. Mộ phần ông ta chắc cũng chưa được đánh dấu, mặc dầu tôi chưa thấy lại nó sau lần đầu năm 1975.”

Trong bài tiểu luận về tấm chân dung ngày chủ nhật này, Jones bảo rằng giả như ông có “khả năng đi trở ngược thời gian,” tới ngay lúc trước khi chụp tấm ảnh người đàn bà nghiêm vệ này, ông biết ông sẽ muốn nói gì:

Tôi sẽ bước tới, gặp người đàn bà sau này sẽ thành mẹ tôi. Chạm tay bà giây phút trước khi bà đưa tay nắm lấy núm cửa phòng tiệm ảnh, cầm tay bà và bảo bà nên tin vào những gì tôi sắp nói. Mẹ tôi vẫn luôn là một người hiền từ, tốt bụng hơn tất cả những gì Thượng Đế đòi hỏi từ những sinh vật Người tạo ra, nên tôi nghĩ, sau lúc đầu hơi do dự, bà sẽ bước ra khỏi cửa và nghe tôi. Tự cứu lấy mẹ đi, tôi sẽ bảo bà. Cứu tất cả chúng con. Đừng kết hôn với ông ấy, tôi nói đến cha tôi, kết phận tôi, em trai và em gái tôi vào một thế giới của những kẻ không-bao-giờ-có-mặt. Tự cứu lấy mẹ đi… Tôi bị ám ảnh vì tấm chân dung của người đàn bà đức hạnh này, người có thể làm bao nhiêu gì khác, người – trong một thế giới thuần đạo – có thể trở thành cả ngàn người đàn bà khác; hơn vậy nữa, tôi bị ám ảnh bởi vì tôi đã không là đứa con hiếu thảo nhất và cũng vì, cuối cùng, tôi sợ rằng quá nhiều những gì mẹ tôi sống qua chỉ là cặn đáy của một nồi niêu bẩn, đầy xà phòng.

* * *
Jones không thể cứu mẹ ông, nhưng, trong vòng ba-mươi-hai năm từ khi bà qua đời, ông đã tạo một công trình cho mẹ, chỉ mới đây ta mới thấy được phạm vi và bản tính của nó. Công trình khởi đầu năm 1992, mười tám năm sau khi mẹ ông mất, với việc ấn hành tác phẩm đầu tay của ông, lúc ông 42 tuổi. Bối cảnh trong thành phố Jones sinh ra, chỉ viết về những dân cư Mỹ gốc Phi, mười bốn câu truyện trong Lạc trong Thành Phố (Lost in the City) đi qua một thành phố Washington nơi mà những viện bảo tàng công trình kiến trúc không được nhắc tới, dẫu chỉ là tấm phông giấy bồi. Đây là một thành phố, đầy con cháu những nô lệ thời trước, như là thế hệ di dân đầu tiên, với cha mẹ đã bỏ thế giới cũ miền Nam những năm đầu thế kỷ 20, cư di lên thế giới mới miền Bắc, tới những thành phố như Philadelphia, Baltimore, Detroit, và Boston. Và cũng như mẹ ông đã chụp một ảnh chân dung sau ngày tới Washington, để đánh dấu, cho thân nhân quê cũ, bao xa bà đã đi tới, sách của Jones vẽ lên chân dung con cháu của họ, là những lịch sử ngắn gọn để đánh dấu bao xa, từng ngày từng ngày một, họ đã đồi trụy.

Jones cho biết một mô hình văn chương cho Lạc trong Thành Phố là tập truyện Thành Dân Dublin (Dubliners) của James Joyce, mặc dầu ông nhận rằng ông “không muốn viết như The Wiz, lấy hết bao câu truyện và chỉ đổi màu da họ thành da đen.” Như trong tập Thành Dân Dublin, những truyện trong Lạc trong Thành Phố được sắp xếp theo tiến trình phát triển: những truyện đầu tập trung vào tuổi thơ, dần chuyển tới thanh thiếu niên, người đứng tuổi, và cuối cùng ở cuối tập, người già. Cũng như trong Thành Dân Dublin, không nhân vật chánh nào trong Lạc trong Thành Phố xuất hiện hơn một lần, và chỉ vài nhân vật không quan trọng mới được đưa ra trong các nền truyện khác nhau. Quan trọng hơn hết là cả hai tập truyện có cùng quan điểm về lịch sử – như là một ác mộng trong đó nhân vật không thể tỉnh thoát ra được.

Dẫu vậy, với tất cả những điểm tương đồng đó, một khác biệt căn bản nổi bật giữa hai tập truyện này: sự khác nhau về góc nhìn. Joyce, xét cùng, thù ghét Dublin – “thành phố của thất bại, hiềm oán và bất hạnh” – đến nỗi ông phải tự đày ải xa nó. Những câu truyện trong Thành Dân Dublin, do đó, đúng ra là những lời buộc tội để người Ái, theo lời viết của Joyce, “nhìn kỹ lại chính họ” – “kỹ” trong trường hợp này có nghĩa gần với “tê liệt.” Bởi vì Joyce tin rằng người nước ông đã bị vướng bẫy, vậy nên hình thể tu nhọn của truyện ông chỉ nhằm để lùa những nhân vật vào một rào tự-nhận-thức, vào một hiện tượng vạch trần những sai lầm cốt yếu của họ: đây là phù phiếm, họ bảo; đây ngu xuẩn; đây hèn nhát – như một dòng mạch đầy những chứng tích, nhỏ nhưng chính xác, tàn nhẫn, chắc chắn, là lý do tại sao phải xa lánh khỏi Dublin.

Jones, khác hơn, trừ một vài năm lẻ, đã vẫn sống trong thành phố Washington suốt năm mươi sáu năm đời ông. Điểm khác biệt này còn có tính thẩm mỹ nữa: trong cả hai mặt đời sống và nghệ thuật, ông sẵn lòng lưu lại với người của ông hơn là Joyce với thành dân Dublin. Jones muốn kể lại một câu truyện lớn rộng hơn là chỉ một liệt kê những sai lầm. Cứ đọc thử đoạn văn đầu từ “Một Người Mới” (A New Man), một truyện trong Lạc trong Thành Phố:

Một ngày cuối tháng mười, Woodrow L. Cunningham, tim yếu, về nhà sớm bắt gặp con gái mình với hai tên con trai đó. Lúc đó, ông năm-mươi-hai tuổi, một trợ tế tận tâm ở hội thánh Tân Giáo Giám Lý Phi Châu (Rising Star AME Zion), hội viên suốt đời Hiệp Hội Quốc Gia Thăng Tiến Dân Da Màu (NAACP) và Liên Hội Thành Phố, 25-năm hội viên Elks. Mười năm nắm chức kỹ sư chính cho Khách Sạn Sheraton Park, gần như nhân viên nào cũng biết đến tên ông. Ông quên mất đã bao lâu, bạn bè và người sống cùng nhà trọ từng bảo rằng ông có nhiều khả năng hơn là chỉ là một nhân-viên-bảo-trì-số-một. Vậy nhưng ông luôn trả lời ông mãn nguyện với việc làm này, nó đã đủ cho ông, và điều này đại loại là đúng. Mười ba năm sau, ông chắc là cũng sẽ ở vị thế đó, khi cái chết tới tìm lúc ông cúi xuống trên một bồn tắm khách sạn, sắp sửa làm một việc mà một kỹ sư trẻ tuổi hơn cho rằng ông không thể quản lý được.

Cunningham, theo như Jones kể lại ngay trong câu văn đầu, trở về nhà thấy con gái với “hai tên con trai,” hay đúng hơn, “hai tên con trai đó” – một phân biệt hình như không gì quan trọng, nhưng thêm một chữ ấy, từ góc cạnh kể truyện, lại mang đầy tính nguy: hai tên con trai có thể vô tội; hai tên con trai đó không thể. Đoạn văn đi tiếp, thúc ta khỏi cái câu hỏi trêu ngươi đặt mầm từ câu đầu (hai đứa con trai đã làm gì?), đưa vào tình tiết về đời sống của người cha, viết theo cung cách của Joyce. Như nhân vật Lily, trong “The Dead,” “đúng là bắt chạy treo cẳng,” Cunningham làm việc trong một nơi “gần như nhân viên nào cũng biết đến tên ông” – những chữ như mang lén vào, từ giọng nói không âm của các nhân vật. Tới cuối đoạn văn, Jones đã vĩnh viễn tách hẳn khỏi Joyce: ông cho ta hay Cunningham, mười-ba-năm sau, gặp cái chết khi “ông cúi xuống trên một bồn tắm khách sạn.” Tình tiết như thế – việc xảy ra hoàn toàn bên ngoài những sự kiện mà sau này sẽ mở ra, trong truyện – chắc là không bao giờ xuất hiện trong Joyce. Joyce luôn muốn người đọc để ý thẳng vào những thời điểm ông đã chọn để minh chứng tầm mức an bày của định mệnh. Trong Jones, lại khác, dẫu nhân vật ông gặp tới nhược điểm của họ, họ luôn được bày ra trong một màng khó khăn rộng lớn hơn, trốn tránh lẩn quất đâu đó phía sau cái tai ương đang có. Trong khi trọng tâm hạn hẹp từ Joyce buộc ta, như ông, đừng tha thứ những giới hạn của nhân vật, cách nhìn rộng hơn từ Jones đòi hỏi lòng thương trong ta: ông luôn kêu gọi người đọc nhìn hơn nữa, và từ đó cảm nhận hơn.

* * *

Ngay cả những nhân vật không đáng trong Jones, những kẻ rõ ràng xấu xa hiểm độc, cũng không tránh khỏi cách nhìn tròn vẹn của ông. Trong truyện “Bầy sư tử con” (Young Lions), Caesar Matthews, một tên du côn trẻ, hưởng được vài kết hợp mỹ cảm, khác hẳn với lời kể nhân vật Madeleine của Proust:

Hắn bỏ khẩu Beretta vào một túi trong áo khoác. Mỗi lần chạm tay vào nó, hắn nhớ lại những lúc hắn dùng nó. Hắn thích nhớ lại. Lần cuối cùng, tám tháng trước, khi băng vào Maryland, hắn bắn tên giữ tiệm 7-Eleven, ngay vào mặt. Sau đó, vài dặm cách xa tiệm, lúc trở lại Washington, Caesar vẫn còn cười khi nhớ lại gương mặt tên giữ tiệm như mất hết máu khi khẩu súng dí vào ngay trước mặt.

Khoái lạc bao nhiêu khi nhớ lại nỗi đau đớn hắn gây ra, Caesar cũng không kém thế khi hắn đi lùng tìm nạn nhân mới. Đây, hắn tình cờ gặp một nhóm người chậm trí tại một trạm chờ xe:

Họ lớn cả, ít nhất cũng ba mươi tuổi, nhung họ nói chuyện như vẻ họ mới tới trái đất này, thích thú vì họ đang sống thế. Hai người đàn ông nói lớn tiếng, như là họ không ngại chia sẻ nhũng gì họ đang nói. Từ đầu Caesar đã định rằng người đàn bà to con hơn lại là kẻ yếu nhất, chắc là dễ nhất để làm thịt.

Văn kể theo nhân vật thứ ba, nhưng cách nhìn và cảm nhận ở đây thuộc về Caesar: hắn không thể nghe được “những gì” hai người đàn ông nói, nhưng chắc là Jones nghe được. Vậy, ta được dịp nhìn ngoại cảnh qua đôi mắt lạnh của Caesar, và thấy được suy nghĩ chín chắn của hắn – để ý tới “như vẻ họ mới tới trái đất này, thích thú vì họ đang sống thế.” Điều này có vẻ tương đắc hơn là những gì ta có thể trông mong từ một tên côn đồ ác độc, khiến ta bắt đầu nghĩ tới hắn như một kẻ không đơn thuần chỉ là hiểm ác, dầu chưa hẳn là một người mà ta có thể có lòng thương hơn. Khi truyện diễn tiếp, khi Caesar tiếp tục kế hoạch để lừa “người đàn bà to con hơn,” Jones không để người làm việc xã hội kể chuyện cho ông. Tham vọng văn từ của ông không là muốn thấy Caesar trở lại với khuôn phép; thay vào đó, lòng trắc ẩn trong văn từ của ông biểu lộ qua những thời điểm khi sự mua chuộc tầm thường bị đánh mờ đi bằng bàn tay run rẩy của kẻ sát nhân. Đây là Caesar, về nhà để cướp tiền cha hắn, người từng đã đá thằng con “chết tiệt vô tích sự” ra lề đường:

Caesar sờ tay vào gần hết mọi thứ – mảnh viền ren bà hắn đan lúc xưa, trên ghế nằm trong phòng khách; bức vẽ họa đồ căn nhà, em gái hắn ký và đánh dấu ngày, dán trên thành tủ lạnh; màn cửa sổ phòng bếp mà hắn đã giúp mẹ treo lên. Trong góc một ngăn kéo bếp, hắn tìm thấy, quấn trong một vòng cao su, những lá thư hắn đã gửi cho cha hắn lúc trước; chỉ lá đầu tiên đã mở xem… Hắn quay lại, trở vào phòng em gái, sờ tay vào đầu ba con vật nhồi bông trên gối đầu giường. Trong căn phòng hắn từng ngủ chung với thằng em trai, hắn lấy đủ quần áo nghĩ có thể mang theo được, tay hắn run rẩy mỗi khi nhặt từng món.

***

Mười một năm sau, khả năng sáng tạo nhân tính trong cái vô nhân tính rất thích ứng cho một chủ đề ông xuất bản kế tiếp, một cuốn tiểu thuyết về miền Nam Mỹ, trong bối cảnh còn duy trì chủ trương nô lệ, tiền cuộc chiến phân tranh. Jones dự định đặt tên cho cuốn tiểu thuyết này là Đám Trẻ của Mợ Hagar (All Aunt Hagar’s Children), “một câu nói mà mẹ tôi thường dùng để gọi những người da đen” ông giải thích cho một người phỏng vấn. Cuốn tiểu thuyết viết về giai đoạn trước nội chiến của ông, thoạt đầu rất có giới hạn về bố cục, và đặt trọng tâm vào một tên nô lệ độc nhất. Jones nói: “Tuy nhiên, trong khi sáng tác, tôi đột nhiên chú ý đến những nhân vật khác, những nhân vật không khoác trên người một màu da đen. Vì vậy, tôi phải tìm một cái tựa đề bao quát hơn.”

Xuất bản năm 2003 với tựa đề Thế Giới Đã Biết (The Known World), một cuốn tiểu thuyết đoạt đa số giải thưởng văn chương có thể kể tên, cuốn sách này được dựng lên trong một bối cảnh là môt thị trấn hư cấu tại miền Nam nước Mỹ, mà Jones đặt tên là Manchester, Virginia. Thế Giới Đã Biết thuật một câu chuyện, không phải chỉ của một người nô lệ nào đó, mà là của cả một cộng đồng, da đen có, da trắng có, bất cứ người nào có liên hệ một chút gì với một người da đen, mang tên Henry Townsend, trong đời sống của họ. Townsend, sinh ra đã là một tên nô lệ, được trả tự do khi chưa đầy hai mươi tuổi; chính hắn ta trở nên một người chủ đồn điền, chủ đất, và cũng là chủ một đám nô lệ; và khi hắn qua đời – một biến cố làm bàn đạp khởi đầu cho cuốn tiểu thuyết – số nô lệ dưới quyền quản thúc của hắn lên tới 33 người. Cốt chuyện tóm lược này, tuy có thể dẫn dắt rằng bố cục của Thế Giới Đã Biết là “một tiểu thuyết lịch sử,” một truyện hư cấu chính xác dựa vào sự hiểu biết của chúng ta qua những dữ kiện có thật. Thật sự, những sưu tầm của Jones về chủ đề của cuốn sách không mấy chốc đã trật lề sau khi ông ta đọc được câu chuyện một người chủ nô lệ da trắng, ngày ngày bạo hành một người nô lệ da đen của bà ta, một em bé gái, bằng cách đập đầu đứa bé gái đáng thương này vào tường. Jones trình bày với một người phỏng vấn như sau: ” Dù tôi muốn thuật lại rõ ràng những tình tiết về vấn đề nô lệ, quần chúng Mỹ có lẽ đã không chấp nhận. Họ muốn nghĩ là trong quá khứ, có một thời kỳ nô lệ, và chúng ta đã qua được chặng đường đó. Họ không muốn nghe kể là một người đàn bà có thể nắm một em bé gái và đập đầu em bé vào tường, ngày này qua ngày khác. Có lẽ cũng tốt là tôi không đọc hết những quyển sách nọ, nếu không những chuyện tôi phải viết trong cuốn tiểu thuyết đã còn dã man, tồi tệ hơn gấp bội.”

Thay vì bám víu vào những yếu tố bạo hành qua dữ kiện lịch sử, Jones đã sắp đặt trong Thế Giới Đã Biết một lời kêu gọi lạ kỳ, qua vài chục nhân vật, mà không một nhân vật nào, dù có nhỏ bé tới đâu, cũng không đáng để cho ông ta chú ý đến hoàn toàn, dù chỉ thoáng qua. Cái lựa chọn mỹ thuật này tạo ra một kết quả triết lý: tất cả các nhân vật, qua sự nhận thức của chúng ta, đều đáng được chú ý như thế. Thí dụ, gần cuối cuốn sách, viên trưởng quận Skiffington, sau khi khám phá rằng một người da đen tự do trong phạm vi kiểm soát của gã, bị một người thuộc hạ bất lương bán đi làm nô lệ; chính gã cũng không chắc là hành động này có hợp pháp hay không; tuy gã biết việc đó bất công. Gã viết thư cho Harry Sanderson, một người quen ở Richmond; người này trả lời chứng nhận là ”

[Gã trưởng quận] nhận được câu trả lời từ Richmond bốn ngày sau đó. Một người đàn bà mang tên Graciela Sanderson, qua những giòng chữ viết không quen thuộc, báo cho gã biết là chồng bà ta, Harry, đã qua đời và bà ta bây giờ phải hồi âm thay mặt cho người chồng đã khuất. Lá thư dài tám trang, gã đọc hai lần nhưng vẫn không tìm thấy những chi tiết gì liên quan đến vấn đề xử tội phạm buôn bán nô lệ những người da đen tự do tại Virginia. Người góa phụ kể chuyện về người chồng, họ gặp nhau khi ông ta đi nghỉ hè tại Ý như thế nào, ông ta tán tỉnh bà ra sao, chuyện ông ta đưa bà sang Mỹ sau ngày đám cưới, và đưa đến cho bà một niềm hạnh phúc ở Richmond “nơi viên Thống Đốc sinh sống.” Bà ta kết thúc lá thư bằng hai đoạn thư viết về việc thời tiết “không thuận” tại Richmond, và rồi lại hỏi Skiffington rằng bà ta có nên trở về cố quốc Ý, “nơi mà mặt trời không gay gắt như nơi đây,” hay là bà nên ở lại thủ đô này, nơi con cháu đang ăn nên làm ra. “Tôi nóng ruột và mong chờ ý kiến của ông cho tôi biết tôi nên làm gì.”

Trong những ngày kế tiếp, gã sẽ nhận thêm nhiều lá thư của bà ta, nhưng sẽ không có thì giờ viết thư hồi đáp.

Một nỗi buồn phiền – việc đánh cắp quyền tự do của người da đen nọ – đã bị tăng cường bằng hai nỗi khác: cái chết của một người chuyên môn mà gã trưởng quận cần cố vấn, và người vợ góa, nay vì nỗi u sầu, điên cuồng thiện thị, gửi thư đến cả những người không quen biết, cả những người quá bận để hồi âm. Nhân vật Graciela Sanderson, từ đoạn đầu cuốn sách chưa xuất hiện bao giờ, ngoại trừ lúc này, ở đây, và cũng sẽ không trở lại trong phần còn lại. Tuy vậy, Jones đã tài tình xếp đặt, dùng thủ thuật để khơi dậy nhân vật này bất thình lình, tạo nên một âm hưởng tồn tại cho người đọc, như thể chính chúng ta là người đàn ông lạ, bỡ ngỡ, trên tay cầm đọc những lá thư của bà.

* * *

Việc Jones tìm được chỗ đặt trong cái cấu trúc của quyển sách dầy của ông cho những mẩu chuyện nhỏ nhưng súc tích, đó thật là một kỹ thuật thần sầu, một mưu mẹo có chủ ý mà Jones đã cống hiến, theo đúng nghĩa, một biểu đồ cho người đọc theo dõi. Ở đoạn cuối cuốn sách, tại những trang cuối cùng, một trong những người nô lệ may mắn thoát khỏi khu đồn điền, một người đàn bà tên Alice – hầu như cả khu vực quận nghĩ là điên vì những chuyến ngao du hằng đêm với bút vẽ, ăn nói lải nhải một mình – đã biến thể, xuất hiện tại Philadelphia, và triển lãm những tác phẩm sáng tạo của chính bà trong một căn đại sảnh. Một cư dân cũ ở Manchester, tình cờ có mặt tại căn đại sảnh đó, tả những tác phẩm của Alice trong một lá thư viết cho người em gái:

Môt công trình sáng tạo mỹ thuật lớn, một phần dệt, một phần vẽ tạo hình, và một phần đúc bằng đất sét – tất cả đồng tạo nên một phẩm Tạo Tác thanh tú, treo trên bức tường phía Đông, tuy im lặng nhưng đầy âm điệu. Nó như là… một loại biểu đồ tả cảnh sinh hoạt của quận Manchester, Virginia. Nhưng nếu gán cho nó là một “biểu đồ,” thì dùng chữ này là một điều thật vụng, không diễn tả đủ cái vật nhiệm mầu đó. Đó là một biểu đồ đời sống, được cấu trúc bằng tất cả các phân loại mỹ thuật nào mà con người đã dùng để diễn tả họ. Không thấy thiếu một cái gì, một túp lều, một kho lúa, một con gà, một con ngựa. Ngay cả cũng không thiếu một con người nào. Anh nghĩ rằng, nếu ta bỏ công đếm từng cọng cỏ, thì con số đếm cũng sẽ chính xác như con số chính lúc người tạo ra tác phẩm, khi mới biết được về cái thế giới đó vậy.

Jones, với Thế Giới Đã Biết, đã cố gắng tạo dựng “một loại biểu đồ,” một loại biểu đồ mà trong đó chứa toàn vẹn không thiếu một vật gì. Lẽ dĩ nhiên là cái biểu đồ nào cũng cần được hoài hoài bổ túc vì chúng liên tục trở thành bất cập nhật, như cuốn sách kế của Jones nhắc nhở. Cái tựa cũ đã bỏ không dùng cho cuốn tiểu thuyết, Đám Trẻ của Mợ Hagar, nay lại tìm được chỗ đứng, tựa đề cho tuyển tập truyện ngắn của ông. Câu nói này của mẹ ông dựa vào Hagar xứ Genesis, một tỳ nữ của Sarah, thần nữ đỡ đầu của những người gốc nô lệ, và nó cũng gợi ý đến cái nền tảng của tuyển tập truyện ngắn. Mười bốn truyện trong cuốn Đám Trẻ của Mợ Hagar không những chắp nối đến thành phố Washington, mà còn nối về mười bốn truyện trong cuốn Lạc Trong Thành Phố. Mỗi truyện mới – và rất nhiều truyện trong tuyển tập, qua toàn bộ, đã đưa đến cảm quan như là những tập tiểu thuyết nhỏ – lại gắn bó với một truyện cũ trong tuyển tập đầu, như thể đã dính dáng với nhau qua đường dây cuống rốn. Trong văn chương, đương nhiên có dầy dẫy những chùm sách tiếp nối như vậy – của Rabbit và Bech; Zuckerman và Kepesh – nhưng ở đây sự tiếp nối không hẳn là chủ ý của Jones để lập lại điệp khúc. Mỗi một lần tái ngộ giữa những truyện ở đây đều dẫn đến một hợp cấu khác lạ giữa hai tuyển tập. Một nhân vật phụ trong truyện ngắn đầu tiên của Lạc Trong Thành Phố, “Người Con Gái Nuôi Chim Bồ Câu” (The Girl Who Raised Pigeons), tái hiện trong truyện “Trong Cái Chớp Mắt Của Thượng Đế” (In the Blink of God’s Eye), truyện đầu của tuyển tập “Đám Trẻ của Mợ Hagar.” “Trong Cái Chớp Mắt Của Thượng Đế” kể chuyện một người đàn bà, từ Virginia chân ướt chân ráo đến Washington, và vào năm 1901, giật mình thức giấc khi nghe một tiếng động trong đêm. Chân bước khỏi nhà, hai tay, một dao một súng, bà ta thấy “một bị vải treo lủng lẳng trên một cái cây trong sân nhà, trên một cây táo đã hơn mười năm nay không có trái.” Bà dùng con dao chọc vào cái bị vải, “và như để đáp ứng, như một phần thưởng, cái bị vải trả lời qua tiếng khóc một trẻ sơ sinh, mà bà ta cần vài giây phút mới nhận ra.”

À, Washington là như thế đó, bà vừa nghĩ, vừa nhón gót cắt hai khúc dây thừng cột bị vải khỏi nhánh cây, rồi mở cái mền phủ, cái này đến cái kia. À, Washington là như thế đó, [chồng bà] đã đưa bà qua con sông Potomac để đến nơi đây – một thành phố mà người ta treo trẻ sơ sinh trên cây giữa lúc đêm khuya.

Đứa bé nọ, Miles Patterson, tuổi đời tròn con số không, một người năm mươi sáu năm sau trong “Người Con Gái Nuôi Chim Bồ Câu” sẽ đích thân giao một bó chim bồ câu cho người con gái nhân vật chính trong truyện đem về nuôi. Cái câu chuyện cũ hầu như đã được thuật lại một cách đầy hiệu quả, hiện đại hơn: người đàn bà nọ trong cái đêm tăm tối ấy, Ruth Patterson, mang bị vải về, đặt tên là Miles, và nuôi nấng đứa trẻ như đứa con ruột – một sự lựa chọn không hẳn là không có hậu; nhất là, cái cây mà bà hái cái-trái-ngọt-là-lạ-nở-rộ-qua-đêm-đó, lại là một cây táo. Và, trong những trang đầu tiên của Đám Trẻ của Mợ Hagar, Jones đã cố ý cho người đọc cảm nhận rằng Washington, lúc ấy, đã bước hẳn vào một thời kỳ Suy Thoái.

Những phương cách Jones dùng để kết nối những mẩu truyện mới với truyện cũ không hề thiếu cái đa dạng và sự sáng tạo. Ông liên tục đặt song song những chủ đề, và phản ảnh những hình ảnh trong câu chuyện, để cấu tạo cho người đã đọc và biết tuyển tập đầu, mở rộng phạm vi của cả hai câu chuyện nối kết: một bộ “những vật thứ ba,” đặt tại những nơi trong tiềm thức, nơi mà mười bốn mẩu-truyện-liên-kết xa vời đó được tạo dựng. Một trong những điều thú vị nhất khi đọc cuốn sách này là lúc người đọc chợt nhận thức, khi họ khám phá ra cái mới và cái cũ được sắp xếp dọc thẳng nối nhau ra sao – một nỗi thú vị không hề phụ kỳ vọng của độc giả. Bởi vì, những truyện này, có quá nhiều tình tiết khiến người đọc, khi đi từ truyện này sang truyện kế, đột nhiên quên hẳn đi những cái gì tiềm ẩn trong chúng… để rồi sực nhớ lại… và rồi lại quên đi. Có thể nói, phần lớn đây chính là một chức năng công cụ của Jones qua ý tưởng thuật chuyện bao quát của ông: như ông viết về người góa phụ gốc Ý trong Thế Giới Đã Biết, cái bể tưởng tượng của ông chứa đầy những mẩu chuyện dài, đầy dẫy những nhân vật, những biến cố, và những giây phút êm đềm dịu dàng, nếu không nói là hóm hỉnh giữa u sầu. Và như vậy, đối với độc giả thiếu hỗ trợ, xa lạ với tuyển tập truyện ngắn trước của Jones, ông đã lưu tâm bằng cách cấu tạo mười bốn câu chuyện cho đủ để chúng đứng vững một mình.

Người ta không cần đọc trước “Bầy Sư Tử Con” trong Lạc Trong Thành Phố để thưởng thức câu truyện tương ứng mới, truyện “Trai Cũ, Gái Xưa” (Old Boys, Old Girls). Theo diễn tiến, cái sợi dây nối chúng có thể nói là cổ điển nhất trong mười bốn cặp truyện ngắn: cả hai đều có Caesar Matthews là nhân vật chính. Tên vô lại trẻ trong câu truyện đầu, mười ba năm sau, đã hoàn toàn trở thành một tên tội phạm đúng nghĩa. Khi câu chuyện Trai Cũ, Gái Xưa khai mở, người đọc sẽ nhận thấy cốt chuyện của nó đã được viết nhiều lần không kể hết: một người phạm pháp, đi tù, được thả tự do, và khi không còn trẻ hay sung sức nữa, phải tìm lại cho mình một chỗ dựa thân. Cuộc hành trình của Caesar dường như chỉ là một đường xuống dốc: ta thấy hắn sống trong những nơi bẩn thỉu, và lại sống gần những cám dỗ có thể làm hại bản thân của chính hắn. Nhưng cách Jones thao tác những cái quen thuộc đó rất tài tình, không kém gì một sự tái tạo. Caesar bất chợt gặp một người đàn bà nơi hắn trú ngụ, Yvonne, một người quen cũ, một người tình đã dời khỏi đời hắn đã lâu.

“Cả hai đã đồng ý mướn một căn nhà vùng Đông Bắc, và dự định có con một khi họ đã sống ở nơi đó được hai năm… Chỉ hai tháng sau, bà ta đã bỏ đi biệt tích.” Trong khoảng thời gian chung sống đó, Caesar tránh được những trò ma cô, ăn cắp; nhưng đã quay trở lại những trò này sau khi bà ta bỏ hắn, “không phải là vì hắn thất tình, hắn thất tình thật, mà là vì rất dễ trở lại những con đường đó.” Caesar biết được rằng Yvonne đã gục ngã: bà ta nằm trong một tình trạng tồi tệ hơn hắn, không còn cứu vãn được nữa. Cuối cùng hắn khám phá bà ta nằm chết trong phòng. Hắn ra tay dọn dẹp những vật nhỏ bé còn lại trong cuộc đời bà ấy: từ căn phòng đến thân thể. Không ai ngoại trừ người đọc có thể thấy được cái dịu dàng ẩn hiện trong người Caesar:

Caesar thay tấm vải trải giường và cởi quần áo khỏi người Yvonne. Hắn nhặt một trong những bình đựng nước lớn, đổ đầy nước ấm lấy từ trong phòng tắm vào đấy, rồi xức một chút nước thơm của hắn mà hắn chưa bao giờ dùng đến, bỏ vào đó vài cục dầu-thơm-để-tắm mà hắn thấy nằm trong một cái thùng méo mó đặt ở một góc bên cạnh cái bàn trang điểm. Hắn dùng bàn tay nắn vụn những cục dầu-thơm vì chúng không chịu tan dễ dàng trong bình nước. Hắn rửa thân người bà, rồi lau miệng cho bà ấy. Từ trong tủ áo hắn lấy một cái áo màu xanh, cái quần lót và cặp vớ mỏng dài từ bàn trang điểm, mặc lên cho bà ta, và gắn lên trên ngực áo, khoảng áo bên trên trái tim của bà một tí, một món đồ trang sức đã rỉ sét. Xong, hắn lược và chải tóc, gắn lên trên tóc bà ta một cái kẹp, sau khi đã tẩm nó với chút nước thơm còn lại, rồi nhẹ nhàng đặt đầu bà ta nằm xuống giữa một cái gối đã được thay bằng một cái bao gối sạch của hắn. Hắn không mặc giầy, và cũng không phủ trên người bà ấy cái gì, chỉ để bà ta nằm trên cái giường đã ngăn nắp. Caesar đã cố gắng sửa soạn căn phòng, với người đàn bà đã chết, cho thật sạch sẽ và xinh xắn, điều mà hắn chỉ có thể làm được vào chính thời điểm đó trong đời sống hắn.

Đọc đến đây, bất cứ người đọc nào cũng cảm thấy xúc động tràn đầy, nhất là những người nhớ lại những bàn tay run rẩy của Caesar trong “Bầy Sư Tử Con.

Một truyện ngắn khác trong Đám Trẻ Của Mợ Hagar, “Người Đàn Ông Giầu Có” (A Rich Man) có lẽ là truyện xúc động nhất trong những hồi kiến của Jones. Trọng tâm của câu chuyện này là Horace Perkins. Một cựu trung sĩ trong quân đội, sau thuyên chuyển về làm việc tại một phòng văn khố ở Ngũ Giác Đài (Pentagon), Horace trở thành một người đàn ông góa bụa sau cái chết của người vợ tên Loneese Perkins: cả hai ”

* * *

Lập đi lập lại, “Con Số Không” chính là điều mà những nhân vật sống tại Washington của Jones đã bị bắt phải đối diện. Mẩu truyện cuối trong Đám Trẻ Của Mợ Hagar, “Tấm Thảm Dệt” (Tapestry) đề nghị cách dùng những khoảng trống này. Anne Perry, con gái một người thợ dệt ở Mississipi, cũng mang nghề thợ dệt, gặp một người đàn ông và theo hắn di chuyển lên hướng Bắc đến Washington sinh sống. Cô ta để lại đằng sau nhiều thứ, gia đình, bè bạn và một đời sống khác có thể đã xảy ra, và cũng để lại một tấm thảm dệt tả cảnh tuyết, còn đang dệt dở dang. Nhiều năm sau đó, người cha gửi tấm thảm lên cho cô ta hoàn tất. ”

Cái khoảng cách xa cách khỏi cái tôi, mà ta có thể gọi là viễn cảnh, cũng là chủ đề mà Jones phô trương ở phần cuối Thế Giới Đã Biết, với tác phẩm của Alice “một công trình sáng tạo mỹ thuật lớn, một phần dệt… một loại biểu đồ tả cảnh sinh hoạt của quận.” Đi ngược lại thời gian chút nữa, mẩu truyện kết thúc tập Lạc Trong Thành Phố, “Marie,” đã chứa đựng thí dụ đầu tiên cho cái kết luận cuối cùng đó. Một thanh niên tên George Carter, người cháu trai của người thợ dệt trong “Tấm Thảm Dệt,” ghi âm những mẩu chuyện miền Nam do bà-lão tám-mươi-sáu-tuổi-đời Marie kể lại cho một phân học dân gian. “Thằng cháu nó ghi âm tất cả cuộc đời tôi,” bà lão nói với người bạn, và mặc dù bà cảm thấy khoái trá khi kể chuyện xưa, “bà biết rằng cho dù có sống lâu đến đâu chăng nữa, bà sẽ không bao giờ nghe lại chúng, dù tất cả đã được ghi vào băng nhựa, vì thật sự bà không chịu được giọng nói của chính bà.”

Về sự thật, một số sự thật rất khó nghe; một số chỉ buộc chúng ta vào những dữ kiện quái ác, như Jones đã khám phá khi khảo cứu để viết Thế Giới Đã Biết, về việc đứa bé gái nô lệ bị đập đầu vào tường dài dài. Biết thế, nhưng những sự thật khác lại có thể tạo ra một cái nhìn viễn cảnh vào những khoảng cách phóng khoáng, nhưng không tha thứ được, để từ đó người đọc có thể gặt được một sự hiểu biết sâu sắc. Cái loại tự do phóng khoáng này có vẻ nhỏ nhoi, nhất là khi so sánh với những mất mát mà những nhân vật của Jones phải chịu đựng – về cái quyền tự do căn bản khi họ còn là nô lệ, về những cơ hội khi được trả tự do, về phẩm cách lòng tự trọng suốt đời. Những chân giá trị này đã bị đánh cắp nhưng không có gì để sửa chữa cho chúng. Những mẩu truyện của Jones cho ta biết, qua tích trữ những kiện hàng nhân phẩm, qua cứu rỗi những gì bé nhỏ và thanh khiết ra khỏi những điêu tàn đổ nát lớn, ông đã tìm thấy được nơi để bắt đầu những chuyến đi giải thoát. Và như những đoạn kết của ba cuốn sách của ông dẫn chứng, ta phải vẽ biều đồ; phải tìm cách thu thập, miêu tả, sáng tạo; hoàn thiện những gì không thể hàn gắn được trong đời sống. Đó là cách cái oai nghiêm, tuy bị khóa chặt trong một bức ảnh chụp chật hẹp, được phóng thích một cách rất thoải mái vào thế gian. Đó cũng là phương cách cứu rỗi mọi người.

Đôi lời về tác giả:

Wyatt Mason

Harper’s Magazine và cũng là người được National Book Critics Circle tuyên dương về nghệ thuật phê bình suất xắc trong giải thưởng Nona Balakian năm 2005. Ông cũng nhận giải thưởng của National Magazine Award năm 2005 qua bài viết bình luận này. 

 

là một biên tập viên cho tạp chí 

đó là một hành động phạm pháp rõ ràng.” Mặc dù câu trả lời này có lẽ đã đủ để thúc bách gã trưởng quận và cho phép câu chuyện diễn tiến, Jones đã gài bẫy người đọc với những lời sơ lược về sự hiện hữu đau khổ của một nhân vật phụ:đã có một thời sống thiếu hạnh phúc với nhau hơn mười hai năm trời ở căn số 230, thuộc Nhật Hạ Gia Trang (Sunset House), một cao-ốc dành riêng cho những người già lão.” Câu chuyện khởi đầu vào năm 1989, một khoảng thời gian ngắn sau cái chết của Loneese. Horace, với bản chất đa tình hay tán gái, ngay trong lúc họ còn quan hệ hôn nhân, và ngay cả khi họ về dưỡng lão tại đây, đột nhiên thảnh thơi hơn để theo đuổi những kích thích dục tình đầy cấp bách và hăng hái hơn trước. “Thượng Đế thật lạ, hắn nghĩ, một đêm nọ sau khi nhấm nháp Chivas Regal trước khi đi chơi: bắt mất vợ của một người đàn ông, và gắn cho gã ta một dương vật mới để bù trừ.” Trước đó hắn cam phận với “những góa phụ xinh xắn, một số góa phụ chỉ cần đôi lời tử tế của một cựu trung sĩ quân đội,” cái mạch sống mới đã đẩy hắn đi lùng “gái trẻ gái tơ.” Trong khi hắn ở tại căn phòng của một người nhân tình lớn tuổi, sáu-mươi-mốt-tuổi-lẻ Sandy, người con gái nhỏ của bà ta đến thăm với một người bạn. “Một ngày tháng Hai, chín tháng sau cái chết của Loneese, Jill, một người con gái của Sandy, đến chơi với người bạn tên Elaine Cunningham.” Elaine Cunningham, là con của Woodrow L. Cunningham, người con gái mất tích ở đoạn cuối truyện “Một Người Mới” (A New Man). Tôi không muốn đề cập thêm ở đây việc gì đã xảy ra, vì Jones đã cẩn thận chỉ cung ứng đủ chi tiết để cho sự tái hiện của cô ta là một khai thông đúng nghĩa. Nhưng đối tượng của truyện này, thật sự là Horace, người sau đó sẽ tự hỏi mình: “Làm thế nào để xây dựng lại với con số không?”Đến lúc đó, cô ấy đã có lẽ thay đổi thành một người khác, thành một người sống tại Washington, và đã mất đi hầu hết bản tính Mississipi để hoàn tất [nó]. Ba năm nữa trôi qua, tấm thảm dệt không còn trông giống như cái thế giới mà cô lúc đầu tưởng tượng tại Picayune. “Cái tác phẩm đó, như vậy, đã vẽ lên cái khoảng cách giữa hai con người của chính cô ta.

bài đã đăng của Mason Wyatt

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)