Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 14, Dịch Thuật, Nghiên Cứu, Sang Việt ngữ Email bài này

Nét hay vẻ đẹp của truyện Hoa-Tiên

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 25.11.2006

bán dịch từ Pháp ngữ của học giả Nguyễn Ðăng Ngọc

 

Cụ Nguyễn Tiến Lãng nguyên là Chánh Văn-phòng đặc-trách báo-chí và văn-thư tại Ngự-tiền Văn Phòng của Bảo Ðại (1)

 

Cách đây mấy tháng khi vừa tới Huế, một người bạn tôi, Ông Ðào-Ðăng-Vỹ nhân danh Hội Quảng-Tri, đã có lời mời tôi đến đây để diễn-thuyết. Thực-hiện việc này hẳn chẳng thiếu đề-tài lý-thú. Như quí vị đã biết, trước đây đã có nhiều vị với suy-tư độc-đáo, ảo-diệu, với đức-tin và tài-năng đã từng trình-bày nhiều vấn-đề thuộc về các mặt văn-chương, triết-lý hay xã-hội.

 
 
Nhưng ở bên dòng Sông Hương, giữa chốn đế-đô cao-nhã và kỳ-ảo, trách-nhiệm trước tiên là phải gánh vác xứng-đáng cái gánh nặng của quá-khứ vĩ-đại như lời ông Francis de Croisset, một khách-du nổi tiếng, từng nói với tôi khi bày tỏ lòng ngưỡng-mộ đối với nền văn-hóa và nghệ-thuật rạng danh của đế-đô. Bên dòng sông này tôi đã từng nhìn thấy mùa thu và mùa đông với những nét u-nhã, tĩnh-mịch, trầm-tư, phối-hợp hòa-hài với cái lắng-đọng diệu-kỳ. Các nghi-thức, các lễ-hội thỉnh thoảng đánh thức và mang trả lại sức sống tràn đầy. Vào bất cứ giờ khắc nào khi những hình-ảnh mông-lung trổi dậy trong lặng-lẻ và tĩnh-mịch, đến nghiêng mình trên trang giấy của người cầm bút đang chăm chú viết thì dù phải luôn luôn mở rộng các cánh cửa để nhìn ra khung trời mênh-mang bên ngoài nhưng hãy dè chừng những ảo-ảnh xa-xăm, những hưng-phấn tản-mạn; hãy trở về với nội-tâm để thấu rõ mình hơn; phải biết tự hạn-chế và tự hạn-chế mới hiểu rõ mình thâm sâu hơn. Ở Huế này có nhiều cảnh-huống tự- nhiên buộc phải nhớ tới câu của Maurice Barres đã nói về cái mà ông gọi là “quê-hương Lorraine”(2) của ông: “Ở những chốn khác tôi là một kẻ xa lạ viết được ít vần vụn vặt nhưng ở xứ sở của dòng Moselle(3) tôi biết rõ tôi là một một thiên hùng-ca từ đất cát, một khoảnh khắc trong miên-viễn của quê hương, một nét thầm kín của giống nòi, mỗi mùa lại nở hoa.”
 
Cho nên tôi coi như có bổn phận phải cùng quí vị thành-kính đọc lại một trong những thi-phẩm của đất nước, một sáng-tác có tính-cách thuần-túy An-nam, một áng thi mà thi-sĩ quá cố NGUYỄN VĂN XIÊM coi là tâm-hồn của tổ-tiên, kín-đáo, dịu-hiền.
 
Con đường đã được vạch sẵn cho tôi nhờ vào những buổi diễn-thuyết do bạn tôi, ông Nguyễn-Học-Sĩ tổ-chức. Trong các buổi diễn-thuyết này lần lượt quí ông Ung-Quả, Ðào-Duy-Anh, Nguyễn-Lân, Ðào-Ðăng-Vỹ và Nguyễn-Khoa-Toàn đã nhân dịp nói thêm về thi-ca An-nam, ngôn-ngữ An-nam, tiên-hóa trí-năng An-nam cùng việc sáng-tạo văn-chương của An-nam. Ông Ðào-Ðăng-Vỹ thì nói về việc thờ cúng tổ-tiên. Tất cả các đề-tài đều bắt nguồn từ đời sống dân-tộc. Thưa quí vị, đã đến lúc lề lối này phải được đâm rễ vững chắc; truyền-thống nghiên-cứu An-nam, nghiên-cứu văn-hóa nước nhà, kiên-trì nghiên-cứu Huế cần được tạo-dựng và phát-triển mạnh mẽ ở chốn dung thân cuối cùng của trầm-tư.
 
Có một điều tôi xin thưa thêm trước lúc nói đến đề-tài chính, là việc tôi đã chọn tiếng Pháp để trình-bày cùng quí vị hôm nay. Trong phần giới-thiệu bài diễn-thuyết của ông D’Tribouillet mới đây, Quan Thượng thư Phạm Quỳnh đã khéo léo chứng-minh rằng việc lựa chọn kia mang tính cách tượng-trưng. Trong giai-đoạn thích-nghi và mạnh dạn tiến tới, chúng ta có thể hay buộc phải giữ lấy tính-cách An-nam vẹn toàn nhưng đồng thời cũng phải trở thành Tây, càng nhiều càng tốt. Chúng ta nên, hay đúng hơn, phải mở rộng tầm nhìn, tìm đến một sự hiểu biêt hỗ-tương, một mối đoàn-kết dựa trên tin-tưởng và mến-mộ lẫn nhau. Có nhiều bạn người Pháp đã nói với tôi: “Chúng tôi có quá ít dịp để nghe nói đến những sáng-tác văn-chương của nước anh; tưởng chừng như chỉ có Kim-Vân-Kiều. Giống như lúc dịch-thuật ra tiếng Pháp những vần thơ khác, dịch thi-phẩm Hoa-tiên là một sự thách-đố. Chúng tôi đã cố gắng bổ-túc những sai sót được chỉ dẫn ra, nhưng nếu các bạn thính giả An-nam nhận thấy tôi đã phạm quá nhiều lỗi lầm khi chỉ dịch gần gần với nguyên văn, một việc không thể tránh khỏi, thì xin quí vị hãy mở nguyên bản tiếng ta ra.
 
Nay thử hỏi Sách Hoa-tiên là sách gì?
 
Ðó là một truyện thi An-nam (của ta) gồm đúng 1.826 câu, viết theo thể lục-bát, nghĩa là cứ một câu sáu tiếng tiếp theo một câu tám tiếng. Thể lục-bát là một thể thơ hoàn-toàn An-nam (của ta), một thể thơ duy nhất của dân ta, không mô-phỏng thơ Trung-quốc hay có nguồn-gốc từ Trung-quốc.
 
Truyện Hoa-tiên ra đời trước Kiều. Hiện còn thiếu yếu-tố để xác-định ngày tháng đích-xác, tuy nhiên có điều rõ ràng là không có nhà trí thức nào bàn cãi về vấn đề Hoa-tiên có trước thi-phẩm của Nguyễn Du. Truyện Hoa-tiên khả dĩ được viết vào thời cuối Lê, trước 1800 không lâu.
 
Trong việc nghiên-cứu, nói chung tôi dựa vào bản Ðinh-Xuân-Hội nhưng cũng còn dựa vào bản Nguyễn-Ngọc-Xuân hiệu Xuân-Lan, xuất-bản trước bản của ông Hội chừng 15 năm. Bản Xuân-Lan chỉ là một cuốn sách nhỏ và mỏng, không tham-vọng, không một lời chú-thích nhưng có những câu “dị-bản” rất hay.
 
 
Trong bài tựa bản Hoa-tiên chú-giải của Ðinh-Xuân-Hội, một người được nhiều thức-giả ở Huế biết đến, do nhà xuất-bản Tân-Dân xuất-bản năm 1930 tại Hà-Nội, ông Hội có viết: “Cái giá-trị của Hoa-tiên thật là tương-đương với truyện Kiều, mà phát-tích văn-chương Hoa-tiên lại còn xưa hơn văn-chương truyện Kiều vậy.”
 
Mấy chữ “phát-tích văn-chương còn xưa hơn…” hẳn gây thất vọng cho những nhà viết lịch-sử văn-chương theo phương-pháp khoa-học! Việc thiếu tài-liệu chính-xác là một trở ngại lớn chúng ta đang gặp phải.
 
Liên-quan đến Hoa-tiên tôi cũng lần giở đến những trang nghiên-cứu của nhà chuyên-cứu An-nam nổi tiếng, Ông Georges Cordier. Trong cuốn Précis à l’usage de l’Enseignement secondaire (Sách tóm-lược dành cho bậc Trung-học, biểu kê lịch-sử văn-học và tuyển văn) ông nói rõ ràng rằng Nguyễn Du sinh năm 1789 và mất năm 1820, nhưng trong biểu kê theo thứ-tự thời-gian các tác-phẩm văn-học An-nam chúng ta ngạc-nhiên thấy Hoa-tiên được kê sau Kiều và ông lại nói Hoa-tiên được viết vào cuối Lê, quảng 1777. Tên một tác giả của Hoa-tiên lại bất nhất, lúc thì Nguyễn-Duy-Tự (trang 55 ở sách đã dẫn), lúc thì Nguyễn-Huy-Tự (trang 209), nơi khác thì Nguyễn-Hưu-Tự. Phần tôi, trong buổi diễn-thuyết này cũng như ở bản dịch ra Pháp văn của tôi, tôi dùng danh xưng Nguyễn-Huy-Tự, dựa theo ấn-bản xuất-bản năm 1930. Bản dịch Pháp văn của tôi đã được báo Annam Nouveau (An-nam Mới) lần lượt đăng từng đoạn trong các năm 1932-1933.
 
Nguyễn-Huy-Tự chỉ là một trong các tác-giả của Hoa-tiên. Bản văn chúng ta đang có là công-trình hợp soạn của Nguyễn-Huy-Tự và một nhà nho khác. Nguyễn-Huy-Tự soạn ra rồi sau đó Nguyễn-Thiện, họ hàng với Nguyễn-Du, người làm ra truyện Kiều, hiệu-đính. Nguyễn-Huy-Tự sinh ở tỉnh Nghệ-An, làng La-Khê còn Nguyễn-Thiện cũng như nhà thơ lỗi lạc Nguyễn Du, quán ở làng Tiên-Ðiền, tỉnh Hà-Tĩnh. Hoa-tiên là một đóng góp của Trung-Kỳ vào gia-sản chung của văn học ta.
 
Trong việc hợp-biên giữa hai tác-giả, có điểm thật đáng chú ý.
 
Trong văn-học Tây-phương khi nói đến việc hai tác-giả hợp-biên thì điều này có nghĩa là hai người thỏa-thuận, đồng ý với nhau cùng làm một việc, hợp-tác để hoàn-thành một tác-phẩm. Họ trao đổi với nhau nhũng dự-kiến, những nhận-xét… Tóm lại là họ tìm cách hợp-nhất công-trình sáng-tạo của họ một cách năng động, phía người này cũng như phía người kia. Ở An-nam (nước ta), khi việc truyền-bá văn-học phần lớn có tính-cách truyền-khẩu hay chỉ dựa vào một vài văn-bản viết tay hiếm hoi, nên hai người chưa từng gặp nhau hoặc một người đã mất và một người còn sống cũng có thể hợp soạn. Một độc-giả nào đó, tự xem có khả-năng, có thể trở thành người tu-chính hoặc “hiệu-đính”. Một nhà thơ đứng trước bài thơ mình thích, nghĩ rằng bài thơ sẽ hay hơn nếu được sửa đổi lại cho hợp với sở-thích và xúc-cảm của mình, chẳng ngần ngại gì mà không sửa chữa, rồi tiếp tục chuyền đến tay người đọc khác sau khi bài thơ đã được sửa chữa theo ý mình. Việc hợp-soạn đã được áp-đặt lên tác-giả ban đầu. Quần-chúng, kẻ phán xét duy nhất, thừa-nhận bản được sửa chữa nếu bài này quả thực có điểm hay hơn. Nhưng nếu bài văn được tu-chính kém hơn bài văn đầu tiên thì sao? Ở trường-hợp này, tôi giả thiết, bản-văn nguyên-thủy sẽ được tồn-tại, dựa theo ưng-thuận chung của các nhà nho vì vào thời ấy chỉ có họ là những người đọc các tác-phẩm văn-học. Cũng có thể nói vì chỉ có một quần-chúng đọc nên văn-chương bình-dân, môt nền văn chương thuộc mạch nguồn khác, gồm có ca-dao, tục-ngữ và nhiều loại chuyện kể, chỉ lưu-hành trong đám bình-dân.
 
Cách hợp-soạn như thế dưới mắt người phương Tây, quả thật lạ lùng. Nhưng ở ta thì cá-tính của tác-giả, dù giỏi giang, dù có thiên-tài là điều không đáng kể; chỉ đáng kể là tác-phẩm, là nghệ-thuật và tinh-thần mà thôi. Thoát mình ra khỏi áng thi, gửi lại cho thế-nhân một thông-điệp đó là điều-thiết yếu đối với thi-nhân. Khi sứ-mệnh hoàn- thành, thi-nhân không cần ai biết đến tư-tưởng, nhịp-điệu, tiếng than, tiếng thét kia, diệu nhạc, lời khẩn-cầu này là của ai hay từ đâu đến. Áng thi dù ngắn dù dài một khi đã vươn thoát khỏi con tim và trí óc, thì thi-nhân ta nói một cách tự-nhiên, như Paul Valéry nói trong “Cimetière marin”: “Hãy bay đi những vần thơ sáng ngời” hoặc giản dị hơn, “Lời nói bay đi!” (“Verba volant, scripta manent.”)(4).
 
Rời khỏi thi-nhân, văn-bản mang một cuộc sống riêng rẽ, độc-lập. Hoặc từ cửa miệng các nhà nho nghiêm-túc hoặc từ làn môi đẹp của các đào nương bài thơ cứ truyền đi. Không mang tên tác-giả, từ tâm-hồn này qua tâm-hồn khác, bài thơ cứ lan ra, vỗ-về người này, an ủi người kia, dạy-dỗ kẻ khác. Riêng phần mình, tác-giả coi như đã mãn-nguyện. Tên tuổi mình có gì đáng kể. Vong-kỷ tuyệt-vời, ly-khai cao cả! Ðó là một nghịch-lý không nhỏ trong xã-hội Á-Ðông; những người dù đã được đào-tạo ra trong nền giáo-dục nghiêm-khắc và thực-tiễn của Khổng giáo lại không dám tìm một thế đứng trong nghệ-thuật, giả hoặc họ đã đạt đến một quan-niệm cao-thượng về nghệ-thuật hoặc giả khi “tác phẩm” (le verbe) đã được phổ-biến, đã có một vị-thế, thì tác-giả lại quên chính mình đã sáng-tạo ra nó. Người phương Tây xem thái-độ này là thiếu cá-tính, không có ý-niệm cá-nhân. Chúng ta không thảo-luận để nói quan-niệm này, kia đúng hay sai, nhưng trước lúc đóng ngoặc lại phần này, vì đã quá dài, phải thừa-nhận rằng không có ai phủ-nhận được lòng tự-tôn và phẩm-cách cao-thượng của nhà văn của ta trong việc chối từ này. Vào lúc văn-đàn đang đầy rẫy những người xem cái “tôi” của mình quá lớn, hợm-hĩnh quá độ, ước-ao tạo nên tiếng tăm để được nhắc nhở tới; trong lúc thế-giới văn-chương đang trở thành một chốn bụi mù gồm nhiều nhóm liên-kết lại để ca-tụng hoặc gièm-pha lẫn nhau thì thiết-tưởng cũng nên nhớ đến việc tôn-thờ “nghệ thuật vị nghệ thuật,” tiêu-biểu cho tổ- tiên chúng ta, dù việc tôn thờ này đã có trước khi cụm từ kia xuất-hiện.
 
Chúng tôi không đi xa hơn nữa trong việc nghiên-cứu tiểu-sử các tác-giả Hoa-tiên. Việc nghiên-cứu này xứng đáng dành cho một buổi diễn-thuyết khác. Hơn nữa, khác với Nguyễn Du, tác-giả Kiều, cuộc đời các tác-giả Hoa-tiên tuồng như không có ảnh-hưởng gì lớn đối với tác-phẩm. Chúng ta sẽ rõ điều này về sau, khi phân-tích tác-phẩm.
 
Tuy nhiên ít ra phải xác-định thêm một điểm trước khi phân-tích, rằng Hoa-tiên là một thi-phẩm của An-nam ta. Việc xác-định xem ra có vẻ lạ lùng và dư thừa, nhưng về điểm này cũng có những ý kiến trái ngược và có những lối giải-thich mơ hồ. Nhiều tác-phẩm văn-chương An-nam ta ở vào trong tình-huống này, nhất là lúc những người Pháp có sáng-kiến tiên-phong trong việc nghiên-cứu, khen chê. Họ đặt ra vấn-đề tác-phẩm này hay tác-phẩm kia có thật là một sáng-tác của An-nam hay chỉ là một bản phiên-dịch sách Tàu hoặc chỉ là bản diễn-âm ra tiếng An-nam. Về Hoa-tiên chúng ta thấy trong sách của ông Cordier lời ghi chú: “Ðây là một đoản-thiên của Tàu được diễn-âm ra tiếng An-nam. Không rõ tác-giả và năm tháng được soạn ra, nhưng biết là do Nguyễn-Huy-Tự diễn-âm và về sau được Nguyễn Thiện, họ hàng với Nguyễn Du, xem lại.”
 
Các bạn đã thấy rõ ràng Nguyễn-Huy-Tự và Nguyễn-Thiện không phải là tác-giả! Tác-giả là một người Tàu chưa được biết tên tuổi, hai nhà thơ của chúng ta chỉ là những kẻ thực-hiện việc diễn-âm ”đoản-thiên Tàu kia” mà thôi. Nghe nói thế cũng như nghe có kẻ nói với người Pháp, Corneille(5) là người diễn-âm Le Cid từ tiếng Tây-Ban-Nha ra. Tác-giả chính-thức cuốn Le Cid của Corneille là Guillem de Castro. Dầu sao cũng phải hiểu họ muốn nói gì khi bảo là “diễn âm.”
 
Chúng tôi không tìm cách trình-bày văn-chương An-nam (ta) độc-đáo hơn thực-chất của nó. Chúng tôi không có ảo-tưởng về sự độc-lập tư-tưởng của cha ông chúng ta ngày trước. Chúng tôi thừa-nhận sự lệ-thuộc về mặt tư-tưởng của chúng ta xưa kia với văn-hóa Trung Quốc. Chúng tôi thừa-nhận đề-tài của Kiều, của Hoa-tiên, của Nhị-Ðộ-Mai lấy từ truyền-thuyết hoặc huyền-thoại hoang-đường của Tàu. Nhưng phải thừa-nhận những tác-phẩm vừa nói là những tác-phẩm An-nam đích thực, giá-trị hơn những bản dịch hay bản diễn-âm. Ðây là một điểm cần nhận chân. Tuồng như có nhiều người ngoại quốc không nhận-thức được nhiều đặc-tính trong cách suy nghĩ của ta, họ lầm lối, lạc đường trước những cách đồng-hóa, chuyển-tả, lối nói tế-nhị, bóng-bảy của chúng ta. Năm trước tại Hà-Nội, trong buổi diễn-thuyết của tôi dưới đề tài “Cuộc phối-ngẫu giữa ngọn bút lông và ngòi bút sắt,“ tôi xin lỗi đã tự nhắc đến mình, tôi có nêu ra một trong nhiều đặc-điểm ấy: Người mình đã sáng-tác ra nhiều tác-phẩm mang đặc-tính và tình tự dân-tộc, chống đối lại Trung-Quốc, nhưng lại dùng chữ Nho để viết. Bài tựa cuốn Binh-Thư yếu-lược của Ðức Trần-Hưng-Ðạo viết cho quân binh chống Nguyên dưới sự thống lãnh của Ngài; bài ‘Bình-Ngô đại-cáo’ của Nguyễn Trãi, người đã giúp Lê Lợi giành lại quyền tự-chủ đất nước, cáo cho dân chúng hay việc đại-thắng quân Minh, cả hai bài này dù đầy lòng tự-tôn dân-tộc, lòng yêu nước cao độ, đều được viết bằng chữ Nho. Cho nên sẽ lầm lạc lớn khi đứng trước một tác-phẩm mà đề-tài, tình-tiết đại-cương cùng chung-cuộc đều dựa vào văn-bản Trung-Quốc và chỉ có ngữ-ngôn và cách hành-văn là An-nam, lầm lạc coi đó chỉ là những bản diễn-âm. Trong cuốn “Nghiên cứu Văn chương An-nam,” ông Cordier có một nhận-định khá hơn khi xét về Hoa-tiên, đã cho rằng truyện ấy viết phỏng theo một đoản-thiên Trung-Quốc. Khi một tác phẩm được viết bằng tiếng ta, dù trong tiếng nói ấy có thật nhiều điển-tich và thành-ngữ vay mượn từ Trung-Quốc, nhưng nếu phản-ảnh tâm-lý dân ta, ca ngợi tập-tục, lý-tưởng gia-đình, xã-hội và nhân-bản của ta thì tác-phẩm ấy đúng là một sáng-tác của ta chứ không phải là một phỏng-tác theo Trung-Quốc
 

Hoa-tiên
có rất nhiều vẻ đẹp, nhiều vẻ đẹp kỳ-ảo nhưng không phải là những vẻ đẹp dễ cảm-nhận. Muốn nhận-thức vẻ đẹp của Hoa-tiên cần phải được hướng-dẫn, kể cả độc-giả người Nam ta. Các tác-giả Hoa-tiên, giống như mọi nhà nho khác, đều có một quan-niệm cao-quí về nghệ-thuật. Khi nói đến tình yêu trong văn chương, họ mong ước có những người, nam và nữ, có đủ văn-hóa và kiến-thức, thuộc từng lớp xã-hội thanh-lịch, đủ đảm-bảo để hiểu được tình-cảm cao quí ấy. Thế nào đi nữa trong thơ Hoa-tiên đã có thật nhiều điển-tích tế-nhị mượn từ lịch-sử hay huyền-thoại Trung-Quốc, nhiều ngữ-từ Hán-văn. Cho nên tôi có lời khuyên đối với các nhà văn ngoại quốc muốn nghiên-cứu văn-chương tiếng Nam là xin đừng bắt đầu với việc nghiên-cứu Hoa-tiên. Tôi cũng nghĩ rằng người mình cũng không nên lấy Hoa-tiên làm sách gối đầu. Nhưng một cuốn sách khó hiểu không phải là một cuốn sách không hay, không có giá-trị lớn. Khi số người không biết chữ Hán mỗi ngày một nhiều, khi có người không hiểu nổi một điển-cố lúc đọc hay nói về một tác-phẩm văn-chương, khi số người lười suy nghĩ gia-tăng trong quần-chúng độc-giả thì e rằng chẳng bao lâu nữa chỉ có một số ít người chuyên-nghệ, một thiểu-số hiếm hoi, có kiến-thức, có tâm-hồn tế nhị, lấy khó-khăn làm hứng-thú, đọc tới Hoa-tiên mà thôi. Hoa-tiên cũng giống như những người đẹp dịu-dàng, kín-đáo và khó nắm bắt, nhưng khi nghe ra một tiếng thì-thầm trong lặng-im, thoáng thấy một chút ánh sáng từ tâm-hồn kín đáo, ẩn-mật kia, thì say sưa, mê mẩn biết bao!
 
Phát hiện những vẻ đẹp của Hoa-tiên không phải là công việc đã hoàn-thiện đối với tôi. Tôi chưa chinh-phục được người đẹp lặng yên kia, chưa hoàn-toàn vén mở được tấm màn che khuất tâm-hồn kín-đáo, sinh-động và mênh-mang. Sau đây chỉ là ít nét tổng quát.
 
Trước tiên Hoa-tiên đẹp về mặt tình-cảm. Tuy tình-cảm có lúc yếu ớt nhưng lúc nào cũng thanh-khiết, tế-nhị, cao-quí và sâu-sắc. Ðó là những tình-cảm chân-thật có giá-trị chung cho mọi người và đúng ở khắp nơi, những tình-cảm mà các nhà văn cổ-điển Pháp muốn tìm thấy. Tiếp đến Hoa-tiên phản-ảnh vẻ đẹp của quan niệm cao quí của người Nam ngày xưa, văn-chương hòa-hài với hồn người. Còn là vẻ đẹp của những ý-niệm, những hiểu biết điềm-tĩnh, sâu-sắc về thân-phận con người; vẻ đẹp xao-xuyến trong hoà-điệu với thiên-nhiên miên-viễn. Sau cùng là vẻ đẹp của lời thơ; trang nào, trang nào Hoa-tiên cũng có nhiều câu thật hay.
 
Nay xin nói về vẻ đẹp tình-cảm.
 
Không thể chối cãi Hoa-tiên là một truyện tình. Nếu có những bậc đạo-đức nghiêm-khắc phải tức giận, nếu có những vị có lòng tu-sĩ phải thẹn thùng khi nghe tiếng tình-ái thì tôi xin dựa bóng nhiều nhà Nho chân-chính để nói rằng tình trong Hoa-Tiên thắm-đượm qua từng câu thơ và sau bao nhiêu năm tháng, cho đến nay vẫn tỏa nồng. Ðó là ý-kiến của nhà Nho Cao Bá Quát khi nói rằng: “Thơ của Hoa-tiên thật sâu-sắc có thể dùng để dạy người.” Ðó là nhà Nho Vũ-Ðại-Văn khi ngài đã từng viết trong một bản tựa Hoa-tiên: “Ai đọc Hoa-tiên mà chẳng biết quên đôi mắt trần-tục để nhìn với đôi mắt tinh-thần, không biết rửa sạch tấm lòng nhục thịt để có những ý-tưởng thanh-khiết, tưởng không đáng đọc để thưởng-thức một áng thi như thế.” Nói cách khác đối với những tâm hồn thanh-khiết thì mọi điều đều thanh-khiết, đặc biệt là tình ái. Các tác-giả của Hoa-Tiên theo thông-lệ chung cũng đã nêu rõ quan-niệm về đạo-đức cùng triết-lý trong phần mở đầu:
 

Trăm năm một sợi chỉ hồng,
Buộc người tài sắc vào trong khuôn trời.
Sự đời thử ngẫm mà chơi,
Tình duyên hai chữ với người hay sao,
Từng nghe trăng gió duyên nào,
Bể sâu là nghĩa, non cao là tình.
Người dung hạnh, bậc tài danh,
Nghìn thu để một mối tình làm gương.
 
Xin hãy nhớ đến cái quan-niệm quí-phái về tình yêu của nhà Nho ta: không phải mọi người ai cũng có quyền hưởng được cái say sưa thanh-cao và linh-thiêng của tình yêu; tình yêu chỉ riêng cho trai tài, gái sắc.
 
Và sau đây là nội-dung Hoa-tiên, tôi xin tóm lược lại ngắn gọn: Ngày xưa có một chàng trai thật tài-hoa và một cô gái đẹp diệu-kỳ. Chàng trai, con một vị thượng-thư tại triều được vua sủng ái, ở vào tuổi chí-hướng lăm le, tình xuân đang độ, thôi thúc muốn lên đường đi học xa mà cũng để cầu mong tìm được bạn hiền ngày mai:
 

Song hồ nấn ná thôn dâu,
Thẻ rồng xuân điểm, ngày thâu chìm-chìm.
Lối thơm khí nhẹ gót tìm,
Mùi hoa như rước, tiếng chim ngở chào.
Sóng đào mảnh-mảnh bông đào,
Hoa xuân lóng-lánh khác nào mặt xuân.
Hẹn phong-lưu để nợ-nần,
Bạn song âu thẹn vũng tần đôi uyên.
Ðưa chân thử dạo khơi miền,
Rẩy-run may được như nguyền biết đâu?
 
Chàng xin phép song thân từ-giã gia-đình du học phương xa; chẳng khác gì với sinh viên ngày nay ra nước ngoài du học. Lương-Sinh, tên người con trai, đến trọ ở nhà một người cậu ở tỉnh. Ở đây, cạnh nhà cậu, Lương-Sinh đã gặp một cô gái, tên là Giao-Tiên, nổi tiếng về sắc cũng như tài, con một vị võ quan. Ngày qua tháng lại, bằng khéo léo, qua thi-phú và với sự giúp-đỡ khôn ngoan của hai thị-tì, vai trò giống như vai các nhân vật “để cùng ai giãi bày tâm sự” trong các vở kịch cổ-điển Pháp, Lương-Sinh chiếm được lòng Giao-Tiên.
 
Ðôi trai gái giao-ước thề-nguyền chung-thủy. Nhưng rồi, theo như cách bố-cục của các truyện cổ-điển ta, Lương-Sinh bỗng được lệnh song thân gọi về. Chia ly đau khổ và độc địa hơn ngàn lần là trong lúc Lương-Sinh vắng nhà cha mẹ đã dạm hỏi cho chàng một nơi khác mà chẳng cho chàng biết, như chuyện thường xảy ra ngày xưa. Chẳng biết làm sao khác, nạn nhân chỉ biết vâng lời và Lương-Sinh đã phải vâng lời cha mẹ. Cô gái được cha mẹ dạm hỏi cho Lương-Sinh, như được biết về sau, cũng là một người vừa có đức, vừa có tài. Song thân lại không để cho Lương-Sinh đi du học nữa và cũng chẳng cho phép chàng đi xa. Lương-Sinh đành không thể gặp lại Giao-Tiên.
 
Chẳng bao lâu sau, Giao-Tiên biết được tin này. Dù ngày xưa giao thông chậm trễ và khó khăn, dù chưa có bưu-điện, tem cò, chưa có thư nặc-danh, tin tức vẫn được thẩm-lậu ra ngoài . Thất vọng bẽ bàng, đau khổ biết bao cho người con gái thơ ngây. Viễn-ảnh hạnh-phúc đã chết. Lại thêm một tin đau khổ khác, thân-phụ nàng, Dương danh-tướng, được Vua triệu vời về kinh-đô. Giao-Tiên theo gia-đình, giã từ nơi nàng đã thề-nguyền, nơi chứng-kiến sự mong chờ của nàng rồi sau nữa là niềm thất-vọng. Ðến triều-đình cha nàng được lệnh đem quân dẹp bọn giặc man xâm-lấn biên-cương. Giao-Tiên cùng mẹ đến ở nhờ ở nhà một người bà con trong khi cha nàng đi chinh-chiến.
 
Trong lúc ấy Lương-Sinh được phép song thân trở lại chốn xưa, nơi chàng đã gặp Giao-Tiên. Không tìm thấy lại được người mình vẫn một lòng yêu thương, Lương-Sinh đau khổ, thất vọng mà lâm bệnh.
 

Bâng-khuâng đến trước đình Ba,
Lương không yến đẻ, song tà nhện giăng.
Dấu thơ vách hãy đăng đăng,
Xã thơ cách mấy mươi chừng người thơ.
Hiên cài lác đác sao thưa,
Sân rêu nọ chốn ngày xưa chén đồng.
Mày dương liễu, mặt phù dung,
Ngắm hoa thêm nhắc tấm lòng sinh ly:
Trăng thề còn đó chi chi,
Liễu Chương-đài biết nay đi đâu rồi?
Mừng xuân đào hãy ngậm cười,
Vẻ hồng trơ đó, mặt người nào đâu?
 
Diêu, con dì với Lương-Sinh, đã săn sóc và làm chàng vui trở lại, lại phân-tích cho chàng rõ, dù cảnh ngộ khó khăn đến đâu thì việc đèn sách cũng đem lại được vinh-quang. Một khi trúng bảng khoa thi biết đâu chàng có thể gặp lại Giao-Tiên hiện đang ở kinh đô và biết đâu cũng tìm ra được một lối giải quyết cho nỗi lòng rối ren.
 

Sinh rằng “Duyên nghiệp dở dang,
Thôi thôi còn nghĩ chi đường lợi danh.”
Dám thưa: Dạy thế sao đành,
Lầu Ban sáu kỷ, song huỳnh mười thu.
Lại gì cho trọng hơn ru,
Mà coi muôn dặm vân-cù làm chơi ?
Gió bằng chín vạn bay khơi,
Bất bình dẫu việc tầy trời cũng xong.
 
Bấy giờ Giao-Tiên ở tại kinh-đô, nhận được nhiều tin chẳng lành về thân phụ. Dương tướng-công đang bị giặc vây ở biên-cương và có thể có nguy cơ bị tấn công. Lương-Sinh đến kinh-đô để dự thí. Số trời dun dủi đưa Lương-Sinh và Giao-Tiên gặp nhau ở một hoa viên. Thôi thì biết bao lời trách-móc, giải-thích, an ủi, biết bao là nước mắt, ban đầu sầu khổ nhưng dần dần trở nên dịu dàng, say đắm. Lương-Sinh đã làm cho Giao-Tiên tin vào lòng chung thủy của mình; ở cảnh làm con vì hiếu thảo phải nghe theo lời cha mẹ. Chàng luôn luôn chỉ yêu một mình nàng. Chàng thề thốt với nàng.
 
Ðỗ đầu khoa thi của triều-đình, Lương-Sinh được bổ làm quan. Sứ-mệnh đầu tiên chàng khẩn cầu là xin Vua ban lệnh được thống-lãnh một đạo binh tăng viện cho Dương tướng-quân đang bị địch vây ở biên-cương. Quân lên đường, nhưng rồi đạo quân của chàng cũng bị bao vây, một phần cùng chàng khốn-đốn, một phần tan tác, lại thêm có tin đồn là chàng đã chết. Vua lại gửi thêm quân tiếp cứu. Lần này, Diêu-Sinh, con dì với Lương-Sinh, tên chói bảng vàng một lượt với Lương-Sinh, được cử làm phó soái. Giao-Tiên tin Lương-Sinh xông pha hiểm nguy là vì tình yêu đối với mình, lại tin người yêu đã chết nên nàng muốn tự vẫn:
 

Vì ai cho lụy đến ai,
Thà liều mạnh bạc, kẻo sai chữ đồng
 
Nhưng hai thi-tì của nàng khuyên nàng nên nghĩ đến bổn phận làm con, phải sống vì phụ thân.
 

Tình kia bể núi thực bằng.
Tình này sao lại xem bằng hiếu kia?
 
Song thân Lương-Sinh cũng tin chàng đã chết. Gia đình người hứa hôn với chàng muốn đem con gái gả cho người khác, nhưng Ngọc Khanh giữ tiết-hạnh, can ngăn mẹ cha rồi nhảy xuống sông tự vẫn:
 

Tiếc đời chi nữa cũng rằng,
Dẫu mà có thác cầm bằng không sinh.
Há rằng chuốc tiếng mua danh,
Sao cho phải phận sự mình thì cam
 
Lời lẽ nghe hùng tráng chẳng khác gì thơ Corneille. Tấm lòng cao thượng của nàng đã được đền bù. Gia đình một vị quan đang trẩy kinh, đi ngang qua nơi dòng sông kia đã cứu sống và nhận nàng làm dưỡng nữ.
 
Ở nơi biên thùy, thấy Diêu-Sinh và đoàn quân cứu viện đến, Lương Sinh ra sức liên kết với Diêu Sinh phá vỡ được vòng vây. Tiếp đến lại cùng Diêu giải thoát cho Dương tướng-quân, thân-phụ của Giao-Tiên. Trở về trong thắng lợi, Lương-Sinh được Thiên-tử ban lệnh cho Lương Sinh được kết duyên với Giao-Tiên. Lương-Sinh lại được chính ngay người anh của Ngọc-Khanh, cũng làm quan tại triều, cho biết tin Ngọc Khanh đã tự-vẫn. Xúc động trước lòng trinh-tiết của nàng, Lương-Sinh buồn bã làm mấy vần thơ:
 

Lửa hương nào đã chi đây,
Mà liều quán nước, làng mây hỡi người?
Khối tình mang nặng nghìn đời,
Ðỉnh-chung hầu dễ ăn ngồi được đâu!
 
Nhưng Ngọc-Khanh vẫn còn sống, nàng vừa với nghĩa phụ, nghĩa mẫu đến kinh-đô. Nghĩa-phụ, nghĩa-mẫu nàng muốn cải chính tin nàng đã mất và ngăn cản lễ cầu hồn được Vua chiếu thuận theo thỉnh-cầu của Lương-Sinh. Ngọc-Khanh nghe tin Lương-Sinh sắp thành hôn với Giao-Tiên, xin nghĩa-phụ cùng nghĩa-mẫu đừng đưa tin nàng còn sống, nàng muốn toàn vẹn hy-sinh. Nhưng có người lại nói tình-nghĩa Lương-Sinh không đổi thay, chàng thành-hôn theo chỉếu lệnh của Vua, tình riêng không đáng trách. Lương-Sinh sau đó được biết vị hôn-thê tiết sạch giá trong của chàng đã được cứu khỏi dòng nước và muốn được là hôn-thê chính thức như xưa. Vua lại ra lệnh vẫn tổ-chức hôn-lễ, Ngọc-Khanh là chánh thất cũng như Giao-Tiên là chánh thất. Hai nàng thị nữ có công xây nên cuộc lương duyên giữa Lương-Sinh và Giao-Tiên cũng được Vua ban cho Lương-Sinh làm thiếp. Thê thiếp bốn người đều thương yêu Lương-Sinh và chàng cũng thương yêu cả bốn.
 
Ðó là lược truyện Hoa-Tiên và hai tác-giả đã kết truyện với những câu nói về đạo đức ở đời như sau:
 

Gót đầu bàn lại mà chơi,
Phong hoa hai chữ cõi đời ai không?
Lấy tình gặp gỡ đã xong,
Trước sau vẹn một chữ tòng mới ghê.
Lời quê dù đã nhắm nghe,
Gác bên tình tứ, giữ bề hiếu trinh.
Luân thường sang để rành rành,
Chớ đem bác hãn mà khinh làm thường.
 
Câu chuyện tình của tôi, của chúng ta, đã kết thúc như vậy. Nếu tôi đã vụng về kể lại thì những câu thơ trích dẫn mà tôi chủ ý trích ra thật nhiều, tuy rằng vẫn chưa đủ, chắc cũng đã đem lại cho quí vị một ý niệm về cái hay đẹp, đạo đức cao thượng của Hoa-tiên.
 
Nhưng xin hỏi, tại sao gọi sách ấy là Hoa-tiên? Hoa là “hoa” nhưng tiên có phải là “nàng tiên,” một kẻ bất tử? – Thưa không phải, tiên ở đây cũng đọc như chữ “tiên” là nàng tiên nhưng có nghĩa là giấy viết thư, giấy trắng mịn (giấy lụa). Hoa-tiên là giấy lụa có vẽ hoa. Gọi là Hoa-tiên vì tình tiết sau đây đã mở màn cho cuộc tình duyên giữa Lương-Sinh với người đẹp mỹ miều Giao-Tiên: Lương-Sinh qua thăm thân-sinh Giao-Tiên như tình lân lý, đã được Dương tướng-công mời ra ngắm hoa-viên. Trên bức tường của hoa-viên thấy có một bài thơ, ca tụng vẻ đẹp của cây liễu trong vườn; tác giả bài thơ ấy chính là Giao-Tiên. Dương tướng-công bèn lấy lời khiêm tốn mời Lương-Sinh họa lại. Giữ theo lễ các nhà nho ngày trước, không được chối từ, Lương-Sinh vui sướng nhận lời, muốn nhân cơ hội ngụ vào trong thơ một chút tình kín đáo với người làm thơ (xướng)
 

Nổi-nênh chút nghĩa tình thâm,
Lá ngô man-mác, doành nhâm gập-ghềnh.
Bành, Tô, sẵn mối duyên lành,
Mượn câu cảnh, ngụ câu tình họa may.
 
Dương tướng-công cho mang bút và mấy mảnh giấy hoa tiên đẹp đẽ ra. Lương chỉ dùng một mảnh và
 

Còn thừa hai mảnh hoa tiên,
Chắt-chiu sinh đã giấu liền biết đâu.
 
Người tình si đã cắp giấu kỷ niệm của mối tình đầu, và tên truyện được đặt theo tình tiết này.
 
Giữa chốn đường nét nhạt mờ theo mộng mơ, giữa những vẻ đẹp thanh tú, hòa hài và biến ảo, cuộc sống mang những nét riêng. Ðó là một cuộc sống cân bằng, dịu dàng, vô cùng thanh khiết, êm. Thi phú thần diệu, văn hóa tuyệt vời đào luyện nên con người như những hạt kim cương được cắt dũa; cảnh sống bình thường quanh mình đổi thay như đã được chói rọi bằng một thứ ánh sáng thư thái. Giấc mộng của người Nam dù bay bổng vẫn chẳng bao giờ rời khỏi mặt đất. Ðược biết giấc mơ Ấn-Ðộ có tính cách huyền-bí, bao-la, thấm tỏa vào trong những khái-niệm mênh mang nên có lúc thành ra mờ ảo; giấc mơ Trung-Quốc có nhiều vẻ dị-kỳ, phức-tạp, nhấp nhánh những ánh li ti; giấc mơ “celtique”(7) hoặc đắm say, hoặc hắt hiu buồn; còn có biết bao giấc mơ của nhiều dân tộc khác; mỗi loại giấc mơ biểu-thị tâm-tư sâu lắng theo một cách riêng. Và nếu như nền văn-chương Nam ta được biết đến nhiều hơn trên thế-giới thì chắc chắn người ta sẽ phát-hiện ra một lối ước-mơ thuần-túy An-nam, hỗn-hợp và xen kẽ, chỉ vừa thỏa-mãn được bản-năng và ước-vọng ức-chế nhưng không vượt ra ngoài khuôn khổ xã-hội. Cái thoát-ly ra ngoài thực-tại, bay bổng đến vô cùng, mà thi ca và trí tưởng-tượng đem lại chỉ là những cái vỗ cánh có tính toán để rồi sau khi con tim đã lắng dịu phần nào, lại trở về với cảnh sống sinh-động, chăm-chỉ, bình thường, thực-tế và mạnh mẽ hơn .Vì vậy một tình cảm thành thật, dù nồng nhiệt đến độ nào, ban đầu có thể vút lên thật cao, thật xa, tự-phấn và tỏa lan, nhưng để cho tình-cảm cao đẹp đó không trở nên vô bổ, nó phải thích-nghi với hoàn-cảnh xã-hội và con người để làm cho hoàn-cảnh ấy đẹp hơn, dịu hiền hơn nhờ ở nhiệt-thành và nhiễm-cảm sâu sắc.
 
Tình yêu! Tiền bối chúng ta không phải không biết đến cái nghiệt ngã, say sưa dịu dàng, nhớ nhung man-mác của tình yêu. Ông cha chúng ta đã từng yêu đắm-đuối, khắc-khoải vì tình yêu. Ý hướng muốn đưa ra một quan-niệm đạo-đức xã-hội theo Khổng giáo không có vẻ giả-tạo đối với các tác-giả Hoa-tiên. Sự dung-hoà giữa bổn-phận gia-đình và tình yêu đã đưa đến chế-độ đa thê, việc này làm sai lạc hết tâm lý về tình yêu. Nhưng vấn-đề đặt ra là người phụ-nữ Á-Ðông tuân-phục theo chế-độ đó từ ngàn năm xưa vì theo thông-lệ của xã-hội và việc nối dõi tông-đường, cảm thấy thế nào ở đáy lòng họ? Phân-tích vấn-đề này hẳn phải mất nhiều thì giờ lắm. Chỉ nên nhận thấy rằng trước kia cá-nhân chẳng có trong gia đình, cá-thể thần-dân cũng chẳng có đối với Vua. Nam hay nữ đều rõ mỗi hành-vi của mình đều là tấm gương cho xã-hội; mọi hành-động sai trái đều phá rối trật-tự xã-hội. Sai trái có ảnh-hưởng đặc-biệt và trực-tiếp của nó đã đành mà còn vì đó là gương xấu cho người đời. Cho nên mọi người phải lo tròn bổn-phận, cho chính mình và sau nữa để làm gương tốt. Giữa tình yêu và bổn-phận không có những đấu-tranh rõ rệt kiểu Corneille(8), cũng chẳng có những cuộc tranh lý, cãi lẽ biểu-hiện ra ngoài. Sự tranh-chấp ở người Nam mình thầm lặng, kín đáo chỉ thấy khi kết quả phơi bày ra với thắng lợi của bổn-phận. Xem ra thái-độ này có vẻ giả-tạo nhưng cũng chẳng phải là anh-hùng, phi-phàm hay sao ? Gần đây tôi có đọc đâu đó trong một bài của tạp chí Le Temps:”Hào-tiết trong cuộc sống thường nhật là hào-tiết đẹp đẽ nhất; dân-tộc nào có được cái hào tiết đó chắc sẽ đạt được mọi thắng lợi.” Cha ông chúng ta đã có cái hào-tiết thường ngày đó và hành-động đúng theo cái hào tiết ấy hơn cả những kẻ tin rằng mình là những kẻ “đã được tự do.”
 
Tôi biết rằng đối với tiếng hào-tiết siêu-phàm tôi vừa nói, nhiều người Pháp và người Nam thuộc thế-hệ tôi, đơn-giản cho rằng đó chỉ là “phi-nhân.” Ðiều mà tôi coi là hào-tiết thì nhiều người khác cho đó chỉ là an-phận (tốt một bề), ù-lì, thụ-động. Cuộc tranh luận còn bỏ ngỏ, hấp-dẫn nhưng vượt khuôn-khổ buổi diễn-thuyết hôm nay.
 
Với cái phép lạ ấy, đúng đó là một phép lạ, với ý niệm lý-trí-hóa tình-cảm, biến mỗi nhân-vật ra thành biểu-trưng cho nghĩa-vụ, gương mẫu xử-thế, truyện Hoa-tiên vẫn thực, đầy nhân-tính; các nhân-vật vẫn sống động, xao-xuyến. Không phải là những nhân-vật ước-lệ, vai nào cũng có cá tính rõ nét; họ hành-động, cảm-xúc, tranh-biện và chúng ta chia sẻ những lý-lẽ, những mối ưu-tư, hưng-phấn của họ; cùng họ chúng ta mến yêu, mong ước, đau buồn.
 
Ở phần trên tôi có trích dẫn đoạn mô tả Lương-Sinh vừa tuổi lớn lên, mơ-màng đến tình yêu khi thấy hoa xuân nở hay chim chóc yêu-đương trên nhành. Ðoạn văn ấy gợi lại hình-ảnh những chàng trai vừa độ trong văn học khắp nơi, những chàng trai sống-động muôn đời của tuổi thanh-xuân, nói chung lại là những kẻ đến tuổi khi con tim vừa thức tỉnh, hướng về người yêu lý- tưởng, những người “yêu yêu đương,” như lời một thi-nhân. Ðó là René mơ màng đến tiên-nga, đến nàng Hồng-nhan. Thật là sinh-động đoạn văn sau đây mô-tả kẻ tình si mơ-màng, ao-ước, sầu-đơn giữa mảnh vườn còn đầy những kỷ-niệm của người yêu.
 

Ngân tà, trăng nhạt, sao th
ưa,
Dở dang lẽ ở, ngẩn ngơ lẽ về.
Ðỉnh trầm thoang-thoảng gió khuya,
Chập-chờn cơn tỉnh cơn mê trước đình.
Bỗng dưng vướng lấy tơ tình,
Này đồ viên Lãng, này tranh non Bồng.
Người sao ngọc đúc tuyết đông,
Vẽ sao giá truốt gương trong hỡi người.
Chớ chê dạ khách tơi-bời
Tượng sành âu cũng rụng-rời chân tay.
Xiêm huyền chưa dễ ai tày,
Huyền kia đã lịch, bạch này lại thanh.
Thợ giời dù hẳn vô tình,
Làm chi đem thói khuynh-thành trêu ai ?
 
Ðoạn sau đây còn cảm-động hơn, tả cảnh kẻ tình si bước trong hoa-viên tìm lại dấu vết của người tình:
 

Chiếc đình gió lọt sương pha,
Xạ phai trận rước,sen lòa dấu in.
Tấc gang, gác khóa lầu then,
Bồng sơn ràng cách muôn trùng chẳng sai.
Chập-chờn bóng nguyệt trêu ai,
Hoa đâu rụng, lá đâu rơi trước rèm?
Kêu sương tiếng nhạn lay thêm,
Mảnh thư đưa đến cung Thiềm được không?
 
Nếu không thiếu thì giờ tôi có thể giới-thiệu ra cả một tràng hoa mỹ-miều gồm những thiếu-nữ trong Hoa-tiên, phân-tích tâm-lý mỗi một nhân-vật ấy. Tiếc thay, tôi không làm được. Có thể nói Hoa-tiên là vinh-quang của các tiểu-thư cũng như Kiều là vinh-quang của một thiếu-phụ đã sống và chịu nhiều đau khổ. Trong Hoa-tiên người tiểu-thư đã hiện ra với mọi vẻ duyên-dáng, cái duyên-dáng riêng của nàng, yểu-điệu, kín-đáo, mơ-màng, thanh-thoát, lôi cuốn, tư-lự và xúc-động thầm kín, một vẻ duyên-dáng quyến rũ, tinh-khiết khó tả mà ngày nay nhà văn như Giraudoux(9), một nhà văn thuộc về một nền văn-chương khác, được đào-luyện theo những đường hướng thẩm-mỹ và triết-lý khác, đã mô tả rất thành công. Trong Hoa-tiên có nhiều nhân vật nữ, nhân vật nào cũng tự-nhiên, sinh-động, thế nhưng chẳng có nhân-vật nào giống nhân-vật nào. Ðây là Giao-Tiên, chẳng “già” một chút nào, tôi muốn nói nàng giống một thiếu-nữ “hiện-đại,” mà đúng là thiếu-nữ hiện-đại: Nàng có học, biết xúc-động, biết hãnh-diện, trong trắng và dịu-hiền. Còn Ngọc Khanh là một anh-thư giản-dị, có ý-thức về bổn-phận giống như anh hùng “cornélien“ (của Corneille), trong khi Giao-Tiên thì có tính chất “racinien” (thuộc về Racine)(9). Ngọc Khanh trước lúc gieo mình xuống nước, suy-tư rất nhiều về danh-tiết. Một lần nữa tôi lấy làm tiếc phải ngưng lại, không phát-triển thêm về điểm này. “Tâm hồn thiếu nữ trong văn chương An-nam“ hẳn là một đề-tài lý-thú cho một cuộc diễn-thuyết về sau.
 
Tôi xin nói thêm đôi lời về giá trị giáo dục của Hoa-tiên.
 
Ðã đem Kiều làm sách giáo-khoa lẽ nào Hoa-tiên lại không xứng đáng hơn để có một địa vị tương-đương. So sánh để xem Kiều hơn Hoa-tiên là một việc làm vô nghĩa, chẳng có ích gì. Vô nghĩa vì so sánh như thế là chẳng đếm xỉa gì đến những yếu-tố chủ-yếu trong việc hình-thành một tác-phẩm văn-học, sự tiến-hóa về ngôn-ngữ vào thời-kỳ cuốn sách được viết ra, cảnh-huống của tác-giả hay nhiều tác-giả. Chẳng lợi ích gì vì xếp đặt thứ-tự hơn kém không thú-vị bằng việc nghiên-cứu ảnh hưởng của các tác phẩm đối với nhau, mạch lạc liên hệ giữa các tác phẩm. Tuy chẳng so sánh nhưng tưởng cũng nên nhận ra rằng Hoa-tiên đã có một triết thuyết hay đơn-giản ra là một quan-niệm sống hồ-hởi, phấn-chấn hơn. Niềm lạc-quan, niềm thanh-tĩnh của một giai-đoạn chưa có những xáo trộn mà Nguyễn Du phải gánh chịu. Hoa-tiên là một sáng-tác trong thời kỳ thịnh-vượng hay ít ra cũng yên-tĩnh. Từ Kiều thoát ra nỗi-niềm đau-khổ của một thời ly-loạn, của một con người tả tơi vì thời-cuộc. Vì thế ngoại trừ sự dồi-dào quá-độ về từ và ngữ-từ vay mượn từ Trung-Quốc, do trình-độ phát-triển của ngôn-ngữ ta, Hoa-tiên xứng-đáng có một địa-vị quan- trọng ngang hàng với Kiều trong việc giảng-dạy văn-chương quốc-âm. Trong một tác-phẩm văn-học như Hoa-tiên, thanh-niên không những hiểu biết được về tính-chất con người mà còn học tập được những tình-cảm cao-quí, ý-chí tuân thủ bổn-phận, tôn-trọng trật-tự, lòng yêu mến những đường nét êm ả, thanh thoát, lòng say mê hòa-bình.
 
Ðể cho đầy đủ, tôi xin dành một phần bài diễn-thuyết để nói về lối hành-văn của Hoa-tiên. Nghiên-cứu lối hành-văn này thật là lý thú. Không những thấy lối hành văn này tuyệt-diệu mà còn biết được cả những gì Nguyễn Du đã vay mượn từ Hoa-tiên. Có thể kê ra thật nhiều câu Kiều được lấy hầu như nguyên vẹn từ Hoa-tiên. Xem thế Nguyễn Du đã đọc rất kỹ Hoa-tiên, thấm-nhuần văn Hoa-tiên. Nguyễn Du đã noi theo cả những kỹ-xảo để mô-tả những ấn-tượng do sự vật tạo ra. Trong Hoa-tiên, tác-phẩm có trước Kiều, đã có những tiếng đôi thật gợi cảm. Ðoạn văn sau đây tả cảnh hoa-viên từ phòng của người thanh niên du-học nhìn ra, là một tỉ dụ:
 

Cầm giao sẵn thẳng dây huân,
Nuôi tươi chậu chậu, cầm xuân cành cành.
Gương treo bóng lộn màu thanh,
Trong xanh đã vậy, ngoài xanh mới càng.
Bức lan quanh quất mặt tường,
Màu dương hởn hởn, bóng dương lầu lầu.
Ngòi thơm dợn nước lau lau,
Dạng rừng khúc khúc, lưng cầu khom khom…
 
Nhưng tôi không đi xa hơn nữa vì hơn bao giờ hết tôi cảm thấy thiếu khả năng để dịch. Cái tài tình của cách tả cảnh trong văn-chương ta qua đoạn thơ tôi vừa đọc là ở những tiếng trùng điệp, gây ra ấn-tượng chuyển động, tạo ra hình dáng và màu sắc của cảnh vật được mô-tả. Dịch qua tiếng Pháp tôi đã chẳng phản-ảnh được chút gì. Làm sao dịch được nhưng từ như “dầu dầu, khuất khuất, khom khom, om om, điểm điểm,” bao nhiêu từ trùng điệp ấy. Ðứng trước cái tế-nhị của lối hành-văn trong thơ ta, dịch giả đành hạ vũ-khí (bất lực).
 
Tôi ước mong có được cái cảm-tưởng, sau buổi diễn thuyết này, rằng từ nay về sau các thính-giả người Pháp đặt Hoa-tiên ngay bên cạnh Kiều (đánh giá đúng Hoa-tiên, đặt ngay bên cạnh Kiều). Tôi không rõ là họ đã ý-thức được như vậy chưa. Tôi nhớ tới lời của Quan Thượng-thư Bộ Học trong buổi giảng mở đầu giáo-trình môn Bác-ngữ-học và Văn-chương Trung-Nam (Việt) tại Ðại-học Hà-nội, là không nên phán-xét (đánh giá) văn-chương Nam ta khi chưa thấu hiểu nền văn-chương ấy. Tôi ước mong họ đem cái chân lý ấy phổ biến ra. Quan Thượng-thư, Ngài lại có nói thêm: Có ai dám tự-hào là đã hiểu tận-tường nền văn-chương Nam trong khi các văn-bản chưa được biết hết. Dù sao cũng phải thừa-nhận rằng người Nam đã có một nền văn-hóa, một nền văn minh riêng. Nền văn-minh ấy cần đổi mới, nhưng thật sự đã có nhiều mặt đáng kinh trọng
 
Chúng ta dựa vào văn-hoá Tây-phương để đổi mới và trong lãnh-vực văn chương đó là việc phối-ngẫu đáng ước ao giữa “ngọn bút lông và ngòi bút sắt.”
Tôi xin phép quí vị được nhắc lại đây một câu nói của Ông Ðinh-Xuân-Hội trong bài tựa bản Hoa-tiên ông xuất bản, cuốn sách mà hôm nay may mắn được quí vị chú ý tới: “Cuốn Hoa-tiên-truyện dẫn-giải này phải xuất-bản, chẳng những vì sùng-bái văn-chương của hai ông Tự ông Thiện, đã khéo thâu-thái Hán-học, mà lại khích-khuyến cho văn-chương của hàng nghìn ông Tự ông Thiện lại khéo dung-hòa tân-học sau này.”
 
Ðối với các thính-giả người Nam, hơn cả với các thính giả Pháp, một lần nữa tôi xin các Ngài hãy khoan-dung. Bản dịch Hoa-tiên của tôi, hơn một lần, là một nỗi khổ tâm cho quí Ngài. Rõ ràng tôi không đủ thẩm-quyền để dịch. Tôi chỉ là kẻ tự trau dồi lấy học-vấn, đang dở dang. Tôi ước-mong trở lại trong cảnh lặng lẽ và được lãng quên đi. Nhưng lặng-lẽ và lãng-quên chẳng chấp-nhận tôi; có điều thật phải băn-khoăn là ở thời buổi này khi không lên tiếng, không phô-diễn trước quần-chúng thì không ai muốn tin rằng mình đã thật sự làm việc. Tôi được thôi-thúc ra để lên tiếng. Tôi không có cách nào khác là bày tỏ thiện-chí và cảm-tình của mình đối với những nét đẹp chân-chính ngày xưa còn để lại; phải biết giới-thiệu đúng những nét đẹp ấy, đề-cao giá-trị lên.
 
Tôi nhớ lại một lời phán-xét khá nghiêm-khắc đối với chúng ta của ông Alfred Maynard trong tạp chí Extrême-Asie số xuất-bản vào tháng 8 năm 1928: “Có thể nói gần đúng là những thanh-niên tiến-bộ An-nam, trong giờ khắc này, ở vào vị-thế sau đây: đối với đồng-bào của họ, họ chẳng đếm-xỉa gì đến nền văn-hóa bản-lai của họ, cậy vào nền văn-hóa họ tiếp-thu được từ chúng ta; đối với chúng ta thì họ tự hào về truyền-thống và “trí khôn ngoan” của họ, nhìn một cách trịch-thượng những điều họ đã nhiệt-thành và tranh-đua vay mượn từ chúng ta. Họ đã học từ phương Tây vừa đủ để tự quên mình. Kiến-thức ngoại-lai đầy ắp trong trí-óc họ đã đắm chìm cái căn-bản họ sở-hữu.” Vậy thì, thưa quí Ngài, chúng ta có nên tiếp tục sống để xác-minh lời nhận xét vừa rồi không? – Tất nhiên phải đi đến một nhịp sống hoạt-động gấp đôi, sống một cuộc sống đòi hỏi nỗ-lực gấp đôi so với những người nước khác. Chúng ta phải là những người Nam tốt đồng thời cũng phải là những người Pháp tốt, hay nói đúng hơn là Pháp hóa càng nhiều càng hay. Phải tranh-thủ để đạt đến một lãnh-vực có những quan niệm và cách suy tư mới. Mỗi phe tùy theo mà xây dựng lại cái thế-giới đang đổ ngã hay như Renan đã đòi hỏi: “Hãy liệm vào nhung đỏ, chôn đi những Thần-tượng đã chết.”
 
Hôm nay tôi đã thưa chuyện cùng quí Ngài về thi ca, nhưng thi nhân (Renan) đã nói:
 

Nhiều thời đại đã trôi qua
Bao cái chết mỹ miều trên bãi cát chảy trôi lặng lẽ;
Có người đã chết trên môi Nhân ngư,
Ngàn thu còn mang theo giấc mộng.”
(dịch theo ý)
 
Tôi đã thưa chuyện với quí vị về thi-ca, thi-ca cổ. Nhưng bây giờ đây có phải là thời-điểm của thi-ca, thời-điểm để trở về quá-khứ? Vâng, hơn bao giờ hết, thời-điểm này là thời-điểm của thi ca. Tất nhiên là phải đồng nhất về quan-niệm thi-ca; đó là một nền thi-ca hùng-tráng, trẻ trung, một nền thi-ca say sưa với cuộc sống, một nền thi ca tin-tưởng vào những thần linh (lý-tưởng) mới, những thần-linh (lý tưởng) đang nẩy nở. Tại sao chỉ nói đến những “thần-linh” đang chết? Hơn bao giờ hết, đây là thời-điểm phải biết thỉnh thoảng quay về quá khứ để rồi mạnh tiến trên con đường tương-lai. Những lữ-khách phương xa thỉnh thoảng quay về tổ ấm; không có tổ ấm thì làm sao có những “lãng tử hoàn hương”? Xin cho phép tôi được thú thật cùng quí vị là trên dòng Hương-giang thỉnh thoảng tôi nhớ tới câu nói của Abel Bonnard: “Con người phi thường có quyền chính đáng hưởng hết mọi đắm say trên thế-gian, nhưng lại hy-sinh một phần tự do của mình để chỉ cho con người bình thường đừng lạc lối lầm đường với cái tự-do tranh-đoạt được. Con tàu lớn say sưa với những chân trời rộng đã thả neo ở một bến cảng tầm-thường và không bao giờ rời bến nữa; trang-nghiêm biết bao, giờ khắc người chủ con tàu đặt chân xuống đất để vĩnh-viễn không ra đi nữa, tự hãm mình vào một vẻ đẹp bình-dị để tìm thấy lại hồn thơ sâu sắc.”
 
Có ai trong chúng ta là kẻ không chấp-nhận mọi hy-sinh, mọi nỗ-lực cần-cù để mong tìm lại được hồn thơ sâu sắc của giống nòi?(**)

 
 

 

bán dịch từ Pháp ngữ của học giả Nguyễn Ðăng Ngọc

[**] Có một ấn bản Hoa-tiên mới, hoàn hảo về mọi mặt, của ông Nguyễn-Văn-Tố được đăng trong Bulletin de la Société d’enseignement Mutuel de Hanoi (Tạp-chi của Hội Khuyến học – Hà-nội) (Tập XVI – Số 3-4; Tháng Bảy-Tháng 12 1936, trang 297-365). Bản này không được trích dẫn vì đã có sau bài diễn thuyết này
 
BỊ CHÚ và DẪN GIẢI của người dịch:
 
1. Bài diễn-thuyết này đã được trình-bày tại Huế vào ngày 8 tháng 2 năm 1937, dưới sự chủ-tọa của Thượng-Thư Bộ Học, Ông Phạm Quỳnh, và được Hội Quảng-Tri Trung-Kỳ bảo-trợ.
2-3. Lorraine – Moselle: Lorraine là một tỉnh của nước Pháp ở về phía Ðông-Bắc, nơi đã từng xảy ra tranh chấp giữa Pháp và Ðức trong lịch-sử. Moselle là con sông chảy qua Lorraine.
4. “Verba volant, scripta manent”: một thành ngữ la-tinh có nghĩa là lời nói bay đi, chữ viết còn lại. Diễn-giả dùng mấy từ “verba volant“ để nói rằng những câu thơ hay các tác phẩm văn chương ở nước ta thường được phổ biến theo lối truyền khẩu.
5. Corneille: nhà viết kịch nổi tiếng của Pháp vào đầu thế-kỷ 17, thời-kỳ văn-học cổ-điển Pháp. Một trong những vở kịch được biết đến nhiều nhất của ông là vở Le Cid, mượn cốt truyện từ văn-học Tây-ban-nha. Những nhân vật chính trong vở kịch này như Rodrigue, Chimène là những người đã đặt danh dự, bổn-phận, trung-tiết lên trên hết. Nguyễn văn Vĩnh đã dịch bản Le Cid ra Việt văn lấy tên là Anh-hùng Lộ-Ðịch.
6. Celtique: thuộc về người Celte. Celte là một sắc dân ở xứ Gaule xa xưa. Gaule nằm trên một phần đất Pháp bây giờ nên người Pháp coi dân Gaule (Gaulois) là tổ tiên của mình. Dấu tích của dân Celte trong văn-hóa và ngôn ngữ còn thấy rõ nét ở vùng Bretagne của Pháp và nhiều vùng khác ở Anh.
7. Giraudoux: Một nhà văn và viết kịch nổi tiếng của Pháp vào thế-kỷ 20. Có thể kể ông vào phong trào các nhà văn Tượng-trưng nhưng ông lại cũng có khuynh hướng Tả thực.
8. Racine: nhà viết kịch nổi tiếng của Pháp cũng thuộc về thời-kỳ cổ-điển nhưng ở hậu-bán thế-kỷ 17. Trong khi Corneille đề-cao bổn-phận và danh-dự thì Racine trái lại nghiêng về phân tích tâm-lý, đặc-biệt là những nỗi niềm đắm say. Ông đã để lại nhiều vở kịch rất nổi tiếng như Andromaque, Britannicus, Iphigénie.

 

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)