Chẳng có gì đổi thay sau khi mẹ tôi chết.
Các bức chân dung của bà vẫn tươi trẻ. Bốn chị tôi vẫn cố tình cột
ngày vào
ba nghi lễ bất di dịch: cà phê buổi sáng, gừng buổi trưa, bạc hà
buổi chiều.
Trong nhà chúng tôi bạn không cần đồng hồ.
Mùi hương sẽ cho bạn biết chỗ của vầng thái dương trên trời.
Chẳng có gì đổi thay trong căn nhà đó từ sau cái chết của mẹ tôi.
Các chị tôi vẫn luôn tay dọn dẹp những căn phòng mà năm
anh em trai họ bỏ lại để sang phòng khác
nơi linh hồn các anh sẽ không bao giờ nghỉ.
Các anh không còn ngủ trên những tấm nệm trải trên sàn nhà,
không còn run lên như những con nghiện trong khi chờ trà và bánh mì
buổi sáng.
Sau cái chết của mẹ tôi, chẳng có gì đổi thay trong căn nhà.
Khi chúng tôi nhìn Kawthar, bà chị lớn, cố tình giữ nguyên
cả những đồ vật nhỏ,
chúng tôi bắt đầu nghĩ mẹ vẫn chưa rời khỏi căn nhà bà xây, từng tiếng
thở dài một,
trong cỗ quan tài trắng và cơ thể bị ăn từng miếng một
bởi ung thư, để cho nghĩa địa được chôn người chết đầu tiên trong gia đình.
Chẳng có gì đổi thay sau cái chết của mẹ tôi:
ngày với ba độ vĩ của nó,
những căn phòng gọn gàng chờ những đứa con trai vắng mặt,
cuộc chạy đường trường vô tận cha tôi đua giữa những cuộc xá tội
và tòa giáo đường,
nỗi luyến tiếc muôn năm về những ngày vui thú trong cái nghèo.
Tất cả vẫn còn như cũ
chỉ trừ bàn tay đó, đang đổi đất thành xanh.
Như con chim ưng đau đớn,
như cơn bão không răng,
ta sẽ tựa lên bờ tường thành phố
đưa lưng ra đón
những mũi tên mà bạn bè nã vào ta.
Ta sẽ nhớ cái ống điếu dài của bà nội ta
và ta sẽ không mơ tưởng về những cuộc viễn chinh vĩ đại của người Ả-rập
và ta sẽ không nghĩ rằng Paris là cái chuồng ngựa của chúng ta
và ta sẽ không khóc về rặng Pyrenees
trong khi nó tan trong tay các người như một khối nước đá
và ta sẽ không xắn tay áo chùng của ta
giơ lên Thượng Đế để tôn vinh al-Ghafiqi.(1)
Khi cuộc diễn hành của các vua triều Banu Ahmar(2)
trôi qua chân ta,
ta sẽ không bắt mi mắt mình phải đáp lại một câu chào.
Ta sẽ nhớ thanh gươm và tấm thảm da thú.
Ta sẽ nhớ những món hối lộ bằng vàng và bạc.
Ta sẽ nhớ cơn đói trên bình nguyên sa mạc.
Ta sẽ nhớ bọn thảo khấu và bọn đầu cơ
đã từng tới uống từ bàn tay thương tích của ta.
Từng ấy điều trong khi ta tựa lên bờ tường thành phố
đau đớn như con chim ưng,
trốc gốc như cơn bão.
Chú thích
(1) Abdul Rhaman al-Ghafiqi là vị tướng Hồi giáo Andalusia đem quân đánh Charles Martel trong Trận Tours vào ngày 10 tháng 10 năm 732.
(2) Triều đại Hồi giáo sau cùng ở Andalusia, Banu Ahmar, lãnh địa hầu hết chỉ nằm trong thành phố Granada, rốt cuộc đã bị đuổi ra khỏi bán đảo Iberia vào năm 1492.
Nguồn
Theo bản dịch từ tiếng Ả-rập sang tiếng Anh của Khaled Mattawa hai bài thơ “The House after Her Death” và “Lampoon”, đăng trên tạp chí The Kenyon Review, Xuân 2010
.