Trang chính » Tin văn học, Văn hóa Email bài này

Tin Văn Học – Giải Pulitzer năm 2010; Hai Tác Phẩm Mới Nhất về Chiến Tranh Việt Nam

  

 

pulitzer

Giải Pulitzer năm 2010 được công bố như sau:

Báo The Washington Post: 4 giải thưởng.

Báo The New York Times: 3 giải thưởng.

Báo điện tử ProPublica: báo điện tử đầu tiên được trao giải Pulitzer từ trước đến nay chỉ dành cho báo in.

Giải Văn Học: Paul Harding và tác phẩm “Tinkers.”

Giải Thơ: Rae Armantrout với “Versed.”

Giải Âm nhạc: Jennifer Higdon với Violin Concerto

Giải Nhạc Kịch: Vở nhạc kịch “Next To Normal” của Tom Kitt (nhạc) và Brian Yorkey (ca từ).

Giải Lịch Sử: Liaquat Ahamed với “Lords of Finance: The Bankers Who Broke the World.”

Giải Tiểu Sử Nhân Vật: T.J. Stiles với “The First Tycoon: The Epic Life of Cornelius Vanderbilt.”

Giải Biên Khảo: David E. Hoffman với “The Dead Hand: The Untold Story of the Cold War Arms Race and Its Dangerous Legacy.”

Giải Nhiếp Ảnh: Mary Chind của The Des Moines Register và Craig F. Walker của The Denver Post.
Bristol Heral Courier: giải Phục Vụ Công Chúng.

Tinkers (Thợ Sửa Dạo) là tác phẩm đầu tay của Paul Harding nói về nhân vật George Washington Crosby, người trong giờ hấp hối đã hồi tưởng lại tuổi thơ của ông ta ở tiểu bang Maine. Bố của Crosby vốn bị chứng kinh phong. Ông bố làm nghề bán dạo và là thợ sửa chữa nồi chảo và đồ dùng trong nhà. Bố của Crosby đã rời bỏ gia đình khi biết bà vợ muốn cho ông vào dưỡng trí viện để lại một thiếu vắng to lớn trong cuộc sống tình cảm của Crosby. Quyển sách miêu tả cuộc sống ở thế kỷ 19 và cuộc đời của Crosby là sự kết hợp của những mảng kính đầy màu sắc của ký ức. Hai tác phẩm văn học khác đã được vào vòng chung kết giải Pulitzer là “Love in Infant Monkeys” của Lydia Millett và “In Other Rooms, Other Wonders” của Daniyal Mueenuddin.

Bristol Heral Courier, được trao giải Phục Vụ Công Chúng, là một tờ báo rất nhỏ ở miền Tây Nam của tiểu bang Virginia, số lượng xuất bản chỉ có 29,000. Báo được trao giải thưởng vì có công phát hiện nhiều công ty nhiên liệu đã không trả tiền hoa hồng cho địa phương mà họ đã khai thác dầu khí. Một vài công ty trả tiền hoa hồng thì số tiền này lại không được dùng vào công việc phục vụ những người địa phương.

Bốn giải thuộc về báo Washington Post bao gồm:

Giải Bình Luận: Kathleen Parker nhà bình luận chính trị của nhóm hữu.

Giải Phê Bình: Sarah Kaufman, cho loạt bài bình phẩm về bộ môn khiêu vũ.

Giải Chuyên Đề: Gene Weingarten viết cho tạp chí tuần Washington Post về những người đã giết chết của con họ bằng cách để trẻ em trong xe khi trời nóng cao độ. Đây là giải thưởng thứ nhì, lần đầu ông được trao giải chuyên đề là năm 2008.

Giải Tường Thuật Tin Tức Thế Giới: Anthony Shadid, phóng viên nhiều năm kinh nghiệm của Iraq, hiện nay đang cộng tác cho báo The New York Times. Ông đã thắng giải năm 2004 và năm 2008 ông vào vòng chung kết.

Ba giải mà The New York Time được trao tặng gồm có:

Giải Điều Tra: Sheri Fink được trao giải này cho một công trình bà đã hợp tác với ProPublica và báo The New York Times. Bà Fink đã tái xây dựng rất công phu những chi tiết về việc một số bác sĩ của Memorial Medical Center bị cáo buộc giết (một cách nhân đạo vì thương xót) một số bệnh nhân trong trường hợp nan y khi cơn bão Katrina hoành hành New Orleans. Bà Fink là bác sĩ và cũng là cộng tác viên của tờ báo ProPublica.

Giải Phóng Sự (1): Michael Moss và các cộng tác viên được trao giải trong cuộc điều tra và tường trình về sự nguy hiểm của thịt bị ô nhiễm.

Giải Phóng Sự (2): Matt Richtel và các cộng tác viên được trao giải cho loạt bài “Driven to Distraction,” nói về sự nguy hiểm của những người vừa lái xe vừa gởi tin hiệu hay dùng điện thoại di động.

Báo The Philadelphia Daily News được trao giải phóng sự vì đã khám phá sự hư hỏng thối nát của một tiểu đội cảnh sát chuyên về bài trừ ma túy. Báo The Milwaukee Journal Sentinel,The Seattle Times, và Dallas Morning News được trao các giải thưởng khác. Mark Fiore được trao giải tranh hí họa cho tác phẩm của ông đăng trên SFGate.com. Cố ca sĩ Hank Williams được tưởng niệm cho công trình ông đã đóng góp vào âm nhạc và văn hóa Hoa Kỳ.

 

 

Hai Tác phẩm Đầu Tay của Nhà văn Hoa Kỳ về Chiến Tranh Việt Nam:

 matterhorn-cover

 “Matterhorn” là quyển tiểu thuyết đầu tay của Karl Marlantes nói về một đại đội thủy quân lục chiến đã xây dựng đồn chiến lược trên một ngọn đồi ở Việt Nam, được lệnh triệu tập sang một vị trí khác nên bỏ đồn, và về sau được lệnh phải tìm cách chiếm lại đồn chiến lược này. Tác giả, một lính Thủy Quân Lục Chiến tốt nghiệp từ đại học Yale, đã viết quyển sách này trong gần ba mươi lăm năm, dài 1600 trang được ông giảm xuống 600 trang. Hiện nay quyển sách đang nằm thứ 10 trong danh sách sách bìa cứng bán chạy nhất của báo The New York Times. Theo lời bình luận của Sebastian Junger “trong tay của Marlantes, chiến tranh là một thế giới phong phú nhưng cũng đầy những chuyện gây nhầm lẫn, nơi có nhiều người chết một cách anh hùng, có người chết chỉ vì những chuyện quan liêu ngu ngốc, và có người chết chỉ vì những người cùng đơn vị ghét mà trả thù.” Có đoạn trong “Matterhorn” được so sánh với những thứ mà người lính phải mang theo trên người họ như đã được nhắc đến trong tác phẩm của Tim O’Brien. Jungler bảo rằng những đoạn so sánh chiến tranh Afghanistan với chiến tranh Việt Nam làm ông có cảm tưởng tác giả đang chế nhạo Việt Nam. Dù ông không biết đó có phải là dụng ý của tác giả hay không, đây là điều đáng chú ý cho người Mỹ khi thảo luận về những điều họ phải đương đầu với cuộc chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn.

(598 trang, nhà xuất bản El León Literary Arts/Atlantic Monthly Press, $24.95.)

 Lotus-Eaters

 “The Lotus Eater (“Người Ăn Hoa Sen”) là tác phẩm đầu tay của Tatjana Soli. Tựa đề Người Ăn Hoa Sen lấy ý từ một đoạn trong Odyssey của Homer nói về những thủy thủ bị trôi giạt vào một vùng đất liền bị người địa phương cho ăn hoa sen để mê hoặc những thủy thủ này ở lại. Đây là một ẩn dụ để ám chỉ những người bị men chiến tranh mê hoặc đến mức không còn biết sợ hãi cái chết. Họ lao vào nguy hiểm như muốn đi tìm cái chết tương tự như Darrow và Helen, nhân vật kể truyện trong quyển sách. Helen, 32 tuổi, là nhiếp ảnh viên chiến trường. Darrow có vợ nhưng không hạnh phúc, hướng dẫn nghề nghiệp cho Helen, và hai người yêu nhau. Cuộc tình sóng gió không bền, sau đó Helen yêu và kết hôn với Linh, người cộng sự của nàng. Qua Linh, Helen tìm hiểu và yêu mến Việt Nam. Nàng hoang mang khi nhìn thấy cái tàn nhẫn của chiến tranh đè nặng lên đất nước này và việc mạo hiểm của nàng để ghi nhận những hình ảnh tàn bạo của chiến trường là cần thiết. Danielle Trussoni trên New York Times đã nhận xét tác phẩm này rất hấp dẫn nhờ hình ảnh sống động của chiến tranh bao quanh chuyện tình éo le gợi cảm được diễn tả bằng giọng văn uyển chuyển và duyên dáng.

(389 trang, nhà xuất bản St. Martin Press, $24.99.)

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)