Chương 36
Bên bờ Hàn Giang
Sau giấc ngủ nhiều mộng mị, Võ Bằng dậy khá trễ.
Vừa ăn sáng anh vừa nghe hạm phó trình bày công việc trong ngày. Thi hài thủy thủ Trịnh Cương đã được căn cứ đưa ra phi trường. Phòng Xã Hội Hải Quân ở Sài Gòn sẽ phối hợp cùng gia đình lo hậu sự. Hai thủy thủ bị thương đang được săn sóc tại bệnh xá Tiên Sa.
Riêng chiến hạm, các ban ngành đang lo phần vụ thường nhật. Ngoài chi đội trực, hai chi đội còn lại đã được phép đi bờ.
Sau khi cùng hạm phó và ban nội vụ vào bệnh xá thăm thương binh, Võ Bằng dặn:
– Nếu có việc gì cần, tìm tôi ở bãi Tiên Sa.
Bãi biển chỉ cách nơi tàu cập cầu chưa đầy một cây số. Anh quyết định đi bộ. Trong quá khứ, anh đã nhiều lần đến đây. Bãi nằm trong khu quân sự nên vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ, tĩnh lặng. Cảnh sắc không khác gì một bức thủy mặc: giản dị mà sâu lắng.
Bãi biển hình cánh cung, cát trắng mịn, chạy dài gần cả cây số. Ở hai đầu bãi, những ghềnh đá nhấp nhô đủ hình thù, khoác lên mình lớp rêu phong của thời gian, in bóng xuống mặt nước lặng như gương.
Khác với những bãi biển ở các quần đảo quanh Phú Quốc, đáy biển nơi đây hoàn toàn không có san hô. Chỉ là lớp cát mịn, long lanh. Nước trong lạ lùng. Gần bờ thì màu ngọc bích, có thể thấy từng gợn cát. Xa hơn là màu xanh thẫm. Và tận phía chân trời, màu nước chuyển sang tím biếc.
Những con sóng hiền hòa vỗ nhẹ lên bờ rồi rút xuống, để lại trên cát những bọt sóng trắng xóa, tựa viền ren cho tấm thảm xanh khổng lồ.
Xa xa, vài chiếc tàu đánh cá lắc lư theo nhịp sóng.
Võ Bằng cởi bỏ quần áo ngoài, chỉ còn quần tắm. Anh chậm rãi bước xuống nước. Nước biển mát lạnh, dâng dần lên thân thể. Từng tế bào như được thả lỏng. Mọi âu lo, căng thẳng của những ngày chiến trận dường như tan ra theo làn nước.
Anh ngửa người bơi ếch dọc theo bãi ba trăm mét, rồi thư thả bơi sải trở lại.
Đã mấy năm rồi anh không bơi xa như thế. Khi chạm bờ, anh mệt gần đứt hơi.
Anh nằm ngửa trên cát, thở một lúc rồi nằm sấp, gác đầu lên cánh tay. Mặt trời và gió xuân vừa đủ mát đưa anh thiếp ngủ.
***
Tiếng động khẽ làm anh hé mắt. Trên mặt biển óng ánh nắng trưa, một vật tròn đen đang nhấp nhô theo sóng.
Anh ngồi bật dậy, nhìn kỹ hơn. Đó là một… đầu người. Người ấy đang vẫy tay, bơi dần vào bờ.
Rồi bất chợt… hình bóng đó biến mất. Khi nổi lên, khuôn mặt hiện ra khiến anh sững sờ.
Như Oanh.
Mắt anh mở to. Đúng là Như Oanh. Sao nàng lại ở đây?
Giờ này đáng lẽ nàng đang đứng trên bục giảng. Một người cá mượn hình? Hay chính anh nằm mơ?
Thân hình nàng dần dần hiện rõ khỏi mặt nước. Những giọt nước lấp lánh trên làn da. Mái tóc đen dài bám vào cổ và bờ vai.
Trong bộ đồ bơi ôm sát thân thể, nàng hiện lên như một hình ảnh vừa thực vừa mộng.
Võ Bằng vụt đứng dậy, chạy vội đến đón. Nàng cười, chìa tay:
– Còn nhớ không? Huỳnh Như Oanh đây.
Anh nắm chặt tay nàng:
– Võ Bằng.
Cả hai ôm nhau cười giòn… Võ Bằng rối rít:
– Sao em biết anh ở đây?
– Anh ở đâu… em đều biết.
Anh nhìn sâu vào mắt nàng, như để chắc rằng nàng đang thực sự hiện hữu. Một cảm giác lạ lùng dâng lên trong lòng anh.
Hai người đứng ở mép nước. Sóng vờn bàn chân như ngày mới quen ở An Thới. Anh bóp tay nàng:
– Nếu bãi biển này chưa có tên thì anh sẽ đặt là Tiên Sa.
Như Oanh bật cười:
– Nó vốn mang tên Tiên Sa mà.
– Phải chi ngày xưa tiên không xuống tắm thì anh đặt tên bây giờ càng thích hợp.
– Đừng có nịnh.
Nàng nắm chặt tay anh, kéo ra biển.
Nước dâng lên đến cổ, rồi bất chợt nàng buông tay…
***
– Dậy đi! Nắng thế này mà cứ mộng mơ!
Tiếng quát làm Võ Bằng choàng tỉnh. Anh mở mắt. Trước mặt là hai thằng bạn cùng khóa đang cười hề hề.
Lâm nói:
– Mau lên đi ăn rồi đi chơi với tụi tao.
Đường tiếp lời:
– Về tàu thay quần áo. Hôm nay tụi tao đưa mày đi du hí, coi như mừng còn gặp nhau.
Chiếc xe Jeep quân sự phóng bon bon trên con đường đất đỏ ven sông Hàn. Gió biển thổi vào mặt, mang theo hương vị đặc trưng quen thuộc. Hai bên đường, những rặng dương xanh rì nghiêng ngả trong nắng.
Xe qua cầu Trình Minh Thế, thẳng tới chợ Cồn. Tô bún bò Huế nóng hổi, nhiều thịt, đầy hương vị. Bia 33 ngon hơn thường lệ. Võ Bằng nhởn nhơ thưởng thức thêm một tô nữa, bù cho ba ngày sóng gió ăn uống cầm hơi.
Xong bữa ăn, Lâm bảo tài xế đưa về đường Độc Lập rồi cho xe về sở. Anh căn dặn trở lại rước lúc mười giờ ở nhà hàng Ánh Trăng.
Cả ba vào một con hẻm nhỏ tráng xi măng, quanh co, hai bên là những căn nhà quét vôi bong tróc với những cửa ngõ khác màu. Mùi thơm các loài hoa từ dãy hàng rào tỏa ra man mác.
Lâm dừng trước một cánh cửa gỗ cũ kỹ, bên trên treo một chiếc đèn lồng mang hàng chữ Quán Câm. Võ Bằng nhìn Lâm, ngạc nhiên. Lâm chỉ cười, đẩy cửa bước vào.
Bên trong là một khoảng sân nhỏ, lát gạch đỏ. Bên trên một giàn hoa ti-gôn màu hồng che kín cả khoảng trời. Dưới giàn hoa, hai dãy bàn, mỗi bên năm được kê trước một sân khấu. Bảy bàn đã đầy khách, đang thì thầm trò chuyện.
Một người đàn ông trạc năm mươi, mặc áo dài the đen, đội khăn xếp, bước ra đón họ. Ông có khuôn mặt hiền từ, đôi mắt sâu hoắm như chứa đựng cả một trời ký ức.
Ông nói, giọng trầm ấm:
– Chào các cháu. Có đặt bàn trước không?
Lâm đáp:
– Dạ rồi, cháu tên Lâm.
Ông già gật đầu, dẫn ba người vào bàn chỉ định. Giàn hoa màu hồng đang nở rộ. Võ Bằng thích thú ngẩn ngơ đứng nhìn. Hoa ti-gôn màu hồng thật đúng ý, đang tỏa tâm tư của anh: khao khát, nhớ nhung, mong ngày đoàn tụ.
Võ Bằng hỏi:
– Hết tên đặt, sao lại chọn “Quán Câm”?
Đường thì thầm:
– Chủ quán là một nghệ sĩ cải lương nổi tiếng Sài Gòn. Sau một cơn bệnh, ông bị mất tiếng, ra đây mở quán này. Tụi tao thường đến sau mỗi công tác. Ông có những màn trình diễn rất nghệ thuật. Những động tác mộc mạc, những câu chuyện đầy ý nghĩa giúp chóng xua đuổi các ám ảnh, căng thẳng. Đặc biệt, những câu chuyện được kể bằng… tay.
Võ Bằng ngạc nhiên kêu khẽ:
– Bằng tay?
Lâm mỉm cười:
– Đừng nghĩ bậy! Ở đây không có các tiếp viên như ở snack bar. Kể chuyện bằng tay là kể qua nghệ thuật múa rối.
Võ Bằng nhìn sân khấu với bức màn nhung đã bạc màu. Anh đã có kịp xem vài màn múa rối trên truyền hình, nay xem tận mắt hẳn càng thú vị.
Ông chủ quán đến, một tay nâng khay đựng ấm trà và ba chung nhỏ in họa tiết hoa lài, tay kia dĩa mè xửng và bánh in nhân đậu. Ông rót trà, mỗi chung vừa đủ một ngụm. Nước trà vàng óng, thơm mùi sen.
Giọng ông khàn khàn phát ra tiếng độc nhất, khó nghe:
– Mời.
Cả ba nâng chén trà lên môi. Trà nóng, hơi chát nhưng sau đó ngọt, thơm lắng sâu ở cuống họng. Võ Bằng cảm thấy như có một luồng khí ấm áp lan tỏa khắp cơ thể. Những sợi thần kinh chùng xuống.
Bỗng nhiên, tiếng đàn tranh từ sân khấu vang lên. Nhẹ nhàng, da diết. Tấm màn từ từ kéo ra. Đôi tay ông chủ quán thoăn thoắt điều khiển những con rối bằng vải màu, biến chúng thành những nhân vật có hồn. Võ Bằng mê mẩn theo dõi câu chuyện về một chàng ngư phủ cứu nàng tiên cá thoát khỏi cá mập, được nàng tặng viên ngọc quý. Nhưng rồi chàng bị kẻ gian hãm hại lấy mất viên ngọc. Nàng tự nguyện thay thế. Cả hai tìm thấy hạnh phúc bên nhau.
Tiếng đàn tranh lúc trầm lúc bổng, lúc nhanh lúc chậm, hòa quyện với từng động tác của những con rối. Cả khoảng sân chìm trong nhạc âm và tiếng gió thổi qua giàn hoa ti-gôn.
Anh nghĩ tới Như Oanh. Phải chi không là giấc mơ mà nàng đến thật bên anh, chắc cũng thích thú như anh.
Kết thúc màn múa rối, ông chủ quán bước ra, cúi chào mọi người. Tiếng vỗ tay vang lên. Ông chỉ cúi đầu cảm tạ, không nói một lời.
Võ Bằng nói to:
– Hay quá! Cảm ơn bác.
Chủ quán mang thêm ấm trà mới… Cả ba kể chuyện buồn vui sau ngày ra trường cho đến gần giờ trình diễn suất kế tiếp.
Quán không đề giá. Lâm trả theo hảo tâm. Võ Bằng tặng thêm một ít tiền thưởng.
Cả ba đi bộ đến nhà hàng Đồng Vinh nằm khoảng giữa đường Độc Lập. Võ Bằng cũng từng vào các nhà hàng lẫn các quán cà phê nhạc trên con đường nhộn nhịp nhất của thành phố này nhưng chưa vào Đồng Vinh. Ở đây có những món ăn miền Trung lạ miệng, rất ngon. Anh lại thêm một lần no bụng thỏa thuê.
Khi rời Đồng Vinh, phố đã lên đèn. Những dãy đèn vàng vọt đủ soi sáng mặt đường tráng nhựa còn mới. Thỉnh thoảng, một chiếc xe lam chạy qua, tiếng nổ bình bịch vang góc phố.
Mười lăm phút sau, cả ba vào đường Bạch Đằng. Quang cảnh không còn thơ mộng như những lần tàu anh ủi bãi gần Viện Cổ Chàm. Con đường tình tự dọc sông Hàn giờ mọc lên vô số snack bar. Nhạc rock ồn ào tràn ra đường. Những cô gái mặc áo dài, áo đầm đứng mời gọi lính Mỹ.
Đà Nẵng đổi thay. Chiến tranh đi tới đâu, phố xá đổi khác tới đó.
Đường chỉ ngôi biệt thự tường trắng cửa xanh bên tay phải hướng về núi Sơn Trà:
– Giang sơn của thị trưởng Đà Nẵng đó, cùng quân chủng.
Nhà hàng Ánh Trăng nằm ở cuối, chếch nhà vị thị trưởng, khá đông khách. Cũng như Đồng Quê quán, tiếng nhạc êm dịu bàng bạc không gian.
Lâm chọn bàn bên ngoài, vừa nhìn trăng sao vừa ngắm dòng sông lấp lánh. Gió biển từ cửa sông Hàn thổi vào mát rượi.
Một phụ nữ trạc bốn mươi, mặc quần jean xanh, áo sơ mi trắng, tóc búi cao, bước ra tiếp đón. Chị có khuôn mặt khả ái, đôi mắt buồn xa xăm, nhưng nụ cười thì rất tươi.
Chị hỏi, giọng nhẹ nhàng:
– Quý khách dùng chi?
Đường nói:
– Chị cho một chai rượu thuốc và vài món nhậu.
Chị hỏi:
– Rượu thuốc ngâm rắn hổ?
– Đúng trăm phần trăm.
Chị quay vào trong. Võ Bằng có hơi ngạc nhiên. Anh cứ tưởng thứ rượu thuốc này chỉ có ở miền Tây.
Lâm nhìn Võ Bằng, cười:
– Hôm nay, đặc biệt dành cho miệt cò bay thẳng cánh của mày.
Võ Bằng bóp bàn tay hai bạn tỏ ý cảm ơn. Lâm sinh quán ở Huế, Đường ở Đà Nẵng, nhưng không ngờ họ vẫn nhớ gốc gác của anh.
Chị chủ mang ra dĩa mực nướng và dĩa đậu phộng. Mực tươi, nướng trên than hồng, chấm với muối tiêu chanh. Võ Bằng tách một sợi râu, bỏ vào miệng nhai. Thịt dai, ngọt, thơm không thua mực vùng Phú Quốc.
Nguyên con rắn cuộn tròn lên tới miệng chai rượu thuốc có màu vàng óng như mật ong. Rót rượu ra ba ly thủy tinh nhỏ, Đường nói:
– Uống đi mày. Ly này mừng cho ba thằng mình còn sống sót.
Họ cụng ly. Rượu vào cổ họng, nóng ran, thơm mùi thuốc bắc. Nhưng sau đó là cảm giác ấm áp lan tỏa khắp cơ thể, như thêm sức mạnh. Cả ba lặng thinh nhâm nhi mồi. Giọng Chế Linh qua Hận Đồ Bàn nghe não nuột. Thỉnh thoảng tiếng sóng ầm ì vọng đến. Trăng lưỡi liềm lơ lửng hướng đông, soi sáng một khúc sông.
Lâm rót rượu cho cả ba rồi nâng ly:
– Ly này để tưởng nhớ các bạn ta đã nằm xuống, cho những người đã nằm xuống.
Đường nói, giọng buồn buồn:
– Sau tám năm từ ngày ra trường, khóa mình đã có sáu thằng đền nợ nước. Gần như mỗi năm một thằng. Năm nay tới ai? Và năm tới sẽ là ai?
Đường ngừng lại, rót thêm rượu. Im lặng bao trùm. Võ Bằng nhìn ra sông. Hình ảnh người bạn đồng khóa tử thương đầu tiên ở trận Ba Rài năm 1965 lờ mờ hiện ra. Hai người kế tiếp cùng năm 66, ở miền Trung. Người thứ tư, trên sông Hàm Luông năm 1967…
Võ Bằng ực cạn ly. Rượu cay xè cổ họng, hòa với nỗi xót đau trong lòng.
Chị chủ quán lặng lẽ đặt lên bàn thêm một dĩa mực nướng và một dĩa đậu phộng. Chị nhìn Võ Bằng, nói nhẹ nhàng:
– Hai món này chị mời chú em, khách mới. Không tính tiền. Chỉ mong tái ngộ.
Võ Bằng cảm ơn chị. Chị cười, rồi xoay bước.
Bỗng nhiên, từ bờ sông, một giọng hò Huế êm ái, da diết, ngọt ngào vọng đến:
Khoan ơi khoan hò ơi ơi…
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng.
Cả ba nhìn ra bờ sông. Một chiếc thuyền nhỏ đang trôi lững lờ, trên thuyền có một người con gái mặc áo dài trắng, tóc xõa lung linh dưới ánh trăng.
Đường nhìn đồng hồ, mỉm cười:
– Người đẹp đúng hẹn.
Cô gái lại hò tiếp:
Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Đường nói nhỏ với Võ Bằng:
– Cô bé đó tên Mai Chi. Nghe đâu cha mất trong một cuộc đụng độ. Ban ngày học Sao Mai, tối lên ghe hát hò kiếm tiền nuôi mẹ già và em nhỏ. Thấy thì tội nghiệp nhưng giữa thời buổi nhiễu nhương… thực hư khó biết.
Chiếc thuyền từ từ tiến vào bờ. Cô gái bước lên, nhẹ nhàng, uyển chuyển. Dưới ánh trăng, Võ Bằng thấy rõ khuôn mặt cô. Một khuôn mặt thanh tú, với đôi mắt to, đen, ẩn chứa một nỗi buồn xa xăm. Mái tóc dài thả xuống bờ vai, phất phơ trong gió. Anh chợt nhớ thiết tha mái tóc của Như Oanh.
Cô vào quán, nhìn quanh, rồi tiến lại bàn Võ Bằng, cúi chào:
– Chào anh Đạt, anh Thành. Và chào anh…
Đường lên tiếng:
– Lê Cung, bạn tụi này, ở Sài Gòn. Đây là Mai Chi.
Võ Bằng không ngạc nhiên khi bạn tự đổi tên của mình. Anh đã được biết tất cả mọi người trong Sở Phòng Vệ đều mang tên giả.
Võ Bằng vui vẻ:
– Chào Mai Chi.
– Anh cũng… lính?
– Trông tôi không giống lính sao?
Lâm nhanh nhảu kéo ghế:
– Mời ngồi. Mai Chi uống gì?
– Dạ, em xin một chai nước lọc.
Võ Bằng thân mật nói:
– Anh mời một ly nước dừa, làm quen.
– Cám ơn anh Cung.
Anh gọi tiếp viên. Cô gái uống từng ngụm nhỏ. Đôi tay cô thon dài, trắng ngần, khiến anh liên tưởng đến bàn tay Như Oanh – bàn tay của một người không phải làm lụng nặng nhọc.
Anh khen:
– Giọng hò của cô thật ngọt ngào, tình cảm. Nếu cô hát sẽ rất thành công, mau giàu…
Mai Chi cười buồn, nhỏ nhẹ:
– Em đã đi hát nhưng rồi sợ không gian phòng trà…
– Ban đêm một mình trên sông, đáng sợ hơn chứ?
– Nhà em bên kia sông. Cũng chỉ quanh quẩn khúc sông có đông hàng quán này.
– Cô hò trên sông thì làm sao kiếm tiền?
– Có ai gọi thì ghé vào. Hoặc có hẹn trước như anh Đường, anh Lâm.
Võ Bằng thật thà:
– Nhan sắc của cô thế này, đâu khó để chọn một người xây dựng mái ấm.
Cô nhìn Võ Bằng, đôi mắt bỗng sâu thẳm:
– Có chắc là ấm không anh? Hay càng lạnh, càng buồn đau? Đã hai người đeo đuổi em, cả hai lần lượt đi hành quân, không thấy về!
Mai Chi nói với giọng bình thản, không than vãn, không oán trách. Võ Bằng lòng dâng lên một niềm xót thương. Giữa cuộc chiến tranh khốc liệt này, cô vẫn cố giữ cho mình một nhân cách, một tâm hồn.
Võ Bằng vui vẻ nói:
– Tôi đâm thích giọng hò Huế, khác hẳn giọng hò miền Tây. Cô vui lòng cho tôi thưởng thức chứ?
Không chần chừ, Mai Chi mỉm cười cất tiếng. Dù đã quen nghe giọng Huế, nhưng giọng hò nhỏ nhẹ, thánh thót, ngâm nga phần lớn chỉ được Võ Bằng thưởng thức qua cảm nhận:
Ờ hơ ớ hơ…
Núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời không thấy người thương.
Thương chi cho uổng công trình,
Bạn về xứ bạn bỏ mình bơ vơ.
Lên chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy Mẹ công phu chưa đền.
Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng,
Nhớ cha thương mẹ quá chừng bạn ơi!
Cô say sưa hò khoảng nửa giờ, uống cạn trái dừa rồi đứng lên từ giã.
Võ Bằng vội vàng ngăn lại:
– Mới chín giờ, ở thêm chút nữa.
– Như anh thấy, vì vấn đề an ninh.
– Chờ một chút.
Anh rút bóp, lấy một số tiền khá khẳm đưa cho Mai Chi:
– Mong có ngày gặp lại.
Mai Chi nhận tiền, cúi đầu:
– Cảm ơn anh Lê Cung. Em cũng rất mong được gặp lại.
Cô bước xuống thuyền, nhẹ nhàng chèo ra xa. Võ Bằng ngồi nhìn theo cho đến khi chiếc thuyền chìm hẳn trong bóng đêm.
Khi quay lại, Võ Bằng bắt gặp hai nụ cười hóm hỉnh của Lâm và Đường.
Võ Bằng hỏi:
– Tụi mày cười gì?
Lâm trêu chọc:
– Tương tư rồi chăng?
– Không được sao?
Đường úp mở:
– Trong chiến tranh… nhiều người sống giữa hai thế giới. Cẩn thận là hơn.
Võ Bằng nhớ lại ánh mắt của Mai Chi. Ánh mắt linh động thường hướng về hai thằng bạn của mình. Anh đáp trả:
– Tao tương tư thì tụi mày hẳn… tương tri!
Lâm cười:
– Tương tri chỉ để dò xét.
Đường tiếp lời:
– Phòng tình báo Sở Phòng Vệ lâu lâu bắt một người đẹp hoạt động lấy tin cho địch. Vui Xuân, đừng quên Tết Mậu Thân.
Võ Bằng đâu dễ quên kinh nghiệm đắng cay của mình. Chẳng qua chỉ là một cảm thông thường tình trước người gặp hoàn cảnh khó khăn. Tuy vậy, anh cũng nói nhỏ “tụi mày có lý” rồi chậm rãi nâng ly rượu, ra dấu cùng uống cạn.
***
Chương 37
Hướng về giới tuyến
Võ Bằng rời buổi họp tại Trung Tâm Hành Quân Hải Quân Vùng 1 thì mặt trời đã nằm trên đỉnh Trường Sơn. Vịnh Đà Nẵng như tấm lụa xanh trải rộng.
Về tàu, anh cho lệnh họp sĩ quan thông báo công tác.
Rạch Gầm được giao nhiệm vụ tuần dương trong sáu ngày, từ cửa Tư Hiền đến cửa Việt. Các đơn vị hải quân hoạt động phối hợp gồm các khinh tốc đỉnh và chiến thuyền. Đơn vị bạn gồm các Chi Khu Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Phong Điền, Quảng Điền, Hương Điền, Phú Vang.
Hồi mười giờ rưỡi, Rạch Gầm ngang qua đèo Hải Vân. Mây trắng phủ đỉnh đèo. Vịnh Chân Mây còn lãng đãng sương mù từ từ hiện ra. Mặt vịnh tĩnh lặng, thanh bình. Bãi cát trắng chạy vòng cung dài tám cây số, phân chia màu xanh của rừng, của biển, tạo nên vẻ đẹp hoang sơ, lãng mạn bất chấp không khí chiến tranh.
Hạm trưởng Võ Bằng đang say sưa ngắm phong cảnh tuyệt vời thì tiếng của quan sát viên vang lên:
– Trình Hạm trưởng, có một tàu đánh cá đang quay đầu chạy ra khơi hướng một giờ.
Võ Bằng nâng ống dòm quan sát mục tiêu, rồi ra lệnh:
– Hai máy tiến 4. Lái hướng bắc.
Chiến hạm tăng tốc, mũi chếch dần về bên phải và giữ hướng 0 độ.
Chiếc ngư thuyền đổi hướng về tay trái. Chiến hạm đuổi theo. Võ Bằng đọc số trước mũi: TT và tám con số. Số đăng bộ của tỉnh Thừa Thiên. Anh dùng loa kêu gọi ngừng máy.
Chiếc ghe tuân lệnh. Trên boong có ba người đàn ông, tất cả mặc quần đùi, ở trần.
Võ Bằng ra lệnh hạ sĩ quan trực:
– Trung sĩ Liêm, thủ khẩu 20 ly. Toán xét ghe sẵn sàng.
Anh nói qua loa phóng thanh:
– Yêu cầu ghe cập vào chiến hạm.
Toán khám xét lên chiếc ghe, dồn ba người ngồi gom lại ở mũi. Một thủy thủ canh chừng với khẩu M16.
Võ Bằng giao tàu cho Hạm phó Việt, xuống boong trước. Anh yêu cầu chủ ghe qua gặp.
Ông ta ở khoảng tuổi năm mươi. Khỏe mạnh, da cháy nắng.
Anh hỏi:
– Giấy tờ đâu?
Chủ ghe đưa bọc nhựa. Võ Bằng nhận nhưng không xem, hỏi tiếp:
– Sao thấy tàu lại bỏ chạy?
Ông gật đầu, đáp nhỏ, giọng Huế:
– Thưa, đâu có bỏ chạy, chúng tôi đi đánh cá.
– Đánh cá ở ngoài khơi?
– Dạ, trong bờ không có cá to.
– Các anh ra đây từ mấy giờ?
– Dạ, từ sáng sớm.
– Xuất phát từ đâu?
– Dạ, từ phá Tam Giang.
– Sao không đánh cá trong phá?
– Như tui nói, không có cá to.
Võ Bằng mở ra bọc nhựa.
Thẻ Căn Cước: Cảnh Sát trưởng Quận 1, Huế, ký tên đóng dấu. Giấy hành nghề đánh cá: Quận trưởng Quận 1, ký tên đóng dấu. Sổ ghe đăng bộ: Ty Ngư nghiệp ký. Một tờ giấy giới thiệu, nội dung viết ngắn gọn: “Yêu cầu quý đơn vị dành mọi thuận lợi cho ngư thuyền hành nghề. Rất cám ơn.” Ký tên: Nguyễn An Cư, Trưởng Ty Ngư Nghiệp.
Võ Bằng đọc xong, ngẩng lên, chăm chú nhìn người chủ ghe:
– Anh quen biết ra sao với ông Trưởng phòng M?
– Dạ, bà con. Ông ấy hùn hạp làm ăn chung.
Võ Bằng nhìn ông ta thật lâu. Chuyện các quan chức hùn hạp không lạ. Đồng lương quá thấp, phải kiếm thêm bằng hình thức hợp pháp là chuyện bình thường. Anh không hỏi thêm.
Đúng lúc anh định trả lại giấy tờ, cho ghe đi thì có tiếng Trung úy Tuấn la to từ ngư thuyền:
– Thưa Hạm trưởng, tìm thấy một máy truyền tin PRC10, giấu kỹ trong khoang.
Máy được chuyển tới Võ Bằng. Anh cho gọi nhân viên vô tuyến.
Võ Bằng giữ giọng bình thường, hỏi chủ ghe:
– Đánh cá… mà có máy vô tuyến?
Ông ta không trả lời. Võ Bằng gằn giọng:
– Ai đưa cho anh máy này? Ông Trưởng phòng?
Chủ ghe lặng thinh.
Võ Bằng cho lệnh mở máy PRC10. Vô tuyến viên vặn nút. Tiếng rè rè phát ra. Máy còn tốt. Chợt có giọng đàn bà trong trẻo vang lên:
– Nghe đây.
Võ Bằng thấy mồ hôi trên trán chủ ghe. Tiếng nói lại phát ra:
– Nghe rõ. Nói đi.
Võ Bằng giật mình. Tiếng nói nghe quen quá. Như tiếng nói của Mai Chi. Anh đưa ống liên hợp cho chủ ghe:
– Anh trả lời.
Người chủ ghe bất ngờ lao tới húc mạnh vào vai Võ Bằng. Thân anh va vào dây an toàn, suýt bật ngửa văng xuống biển.
Anh hô to:
– Bắt nó!
Hai thủy thủ đứng gần phóng theo, Nhưng đã muộn. Người chủ ghe thoát về phía mũi, nhảy ùm, mất dạng. Hai người bên ghe cũng bật dậy, nhảy theo. Anh lính gác chĩa súng bắn trọn băng đạn.
Mọi người nhốn nháo chưa biết làm gì thì Võ Bằng quát:
-Toán xét ghe về tàu ngay.
Anh ngửa mặt, la to:
– Đài chỉ huy. Cho lùi tàu.
Chiến hạm tách khỏi ghe, khoảng cách xa dần. Năm phút sau, không gian vẫn im lắng. Điều anh sợ không xảy ra: ghe không gài chất nổ. Anh nhìn mặt biển chờ ba ngư dân nổi lên. Chỉ thấy chủ ghe, hai người kia biệt tăm, biển nhuộm đỏ một khoảnh.
Võ Bằng cho vớt lên, trói chủ ghe vào trụ sắt ở mũi. Anh trình báo sự việc về Bộ Tư Lệnh Vùng. Chỉ thị nhận được nhanh chóng: bàn giao ghe, máy móc, tài liệu và người cho Duyên Đoàn 13. Điểm hẹn tại cửa Tư Hiền.
Một tiếng sau, việc bàn giao hoàn tất.
Trung úy Tuấn nhận phiên hải hành, tiếp tục tiến về cửa Việt.
***
Bữa cơm trưa diễn ra trễ nửa tiếng, trong không khí nhộn nhịp bàn tán sự việc xảy ra. Chủ ghe tự sát, chứng tỏ đang đảm nhận công tác thật quan trọng. Điều rõ ràng nhất, kết luận chung, là ghe đó hoạt động cho Việt Cộng. Máy PRC10 dùng để báo cho các tàu xâm nhập khi cửa Tư Hiền và cửa Thuận An bỏ trống tuần phòng. Hoặc chuyển tin tình báo. Võ Bằng lan man nghĩ về giọng nữ từ máy truyền tin. Có phải của Mai Chi không? Nếu phải thì sao?
Thiếu úy Quang hỏi nhỏ:
– Họ liên lạc với ai?
Hạm phó nhún vai:
– Thì với người ở đầu máy bên kia.
Giọng Hạm phó nghiêm trang nhưng ai cũng cười.
Võ Bằng thân mật:
– Kỳ họp hành quân tới, tôi sẽ hỏi cặn kẽ rồi cho anh em biết. Bây giờ, qua đề tài khác.
Như chờ dịp, Thiếu úy Ngô Quang lên tiếng tức khắc:
– Thưa Hạm trưởng, nếu tôi nhớ không lầm, cửa Tư Hiền, ngày xưa mang tên cửa Tư Dung, là nơi công chúa Huyền Trân từ giã nước Đại Việt về làm vợ vua Chiêm Thành Chế Mân?
Võ Bằng nhìn quanh:
– Ai biết thì trả lời.
Thiếu úy Lũy:
– Rất đúng. Cửa Tư Hiền là một trong hai cửa biển của hệ thống đầm dọc theo bờ biển dài gần 70 cây số mà tàu chúng ta đang ngang qua. Đó là phá Tam Giang, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai. Cửa biển kia là Thuận An.
Thiếu úy Quang nôn nóng:
– Người Huế có khác, quá rành rẽ. Nhưng vẫn ngoài chủ đề. Tôi muốn biết có phải cửa Tư Hiền, trước kia có tên là cửa Tư Dung?
Thiếu úy Lũy nhởn nhơ kể tiếp:
– Khi vùng đất này còn thuộc Chiêm Thành, cửa Tư Hiền mang tên Ô Long. Đến năm 1306, vùng đất là quà cưới công chúa Huyền Trân của Chế Mân, cửa Ô Long đổi tên thành Tư Dung để ghi nhớ nơi công chúa xinh đẹp dừng chân nghỉ ngơi trên đường về Chiêm Thành. Nhưng nhiều năm sau, dưới triều vua Thiệu Trị, nhà vua đổi thành Tư Hiền mang nhiều ý nghĩa hơn: nhớ hiền tài.
Võ Bằng hỏi:
– Thiếu úy Quang thỏa mãn?
Quang cười:
– Thưa Hạm trưởng và quý huynh, nhắc đến phá Tam Giang, tôi nhớ hai câu ca dao: “Thương em, anh cũng muốn vô, Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Hai địa danh đó có ý nghĩa gì?
Giọng Huế của thiếu úy Lũy xác nhận thẩm quyền của người trả lời:
– Ở Huế, ai cũng biết ý nghĩa của nó. Truông nhà Hồ là một lối đi trong rừng Vĩnh Linh, Quảng Trị, thường có bọn cướp chận đường. Còn phá Tam Giang là nơi giao nhau của ba dòng sông, thường có sóng lớn gây nguy hiểm cho thuyền bè. Tuy nhiên lại là nơi ngắm hoàng hôn đẹp nhất.
Thiếu úy Quang hỏi:
– Anh Lũy chắc đã có dịp ngắm nhiều lần?
Lũy lắc đầu:
– Chưa. Chỉ mới ngắm qua hình.
Lại nhiều tiếng cười rộ. Rồi lặng im ăn uống.
Lúc tráng miệng, Võ Bằng nói:
– Nhân nhắc đến Huyền Trân công chúa, chúng ta thử bàn về sự kiện vua Việt gả con cho vua Chàm để đổi lấy châu Ô, châu Lý. Các anh em nghĩ thế nào?
Hạm phó Việt hăng hái lên tiếng:
– Thưa Hạm trưởng, tôi thấy vua Trần Nhân Tông… tàn nhẫn với con quá. Dân tình đã có câu ta thán: “Tiếc thay cây quế giữa rừng. Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo!”
Trung úy Tài:
– Tôi đồng ý với Hạm phó. Xem ra thật… nhục quốc thể!
Võ Bằng mỉm cười:
– Cả hai anh đều đúng, xét về mặt đạo đức. Nhưng xét về mặt chính trị, một hy sinh cá nhân mà có được một dải đất mênh mông, thì là một việc rất nên làm. Thử tưởng tượng, nếu không có sự hy sinh của công chúa, ta đem quân đánh chiếm hai châu này, tức hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay, có phải tốn biết bao xương máu binh sĩ? Đây chính là lý do nhiều nơi dân chúng lập đền thờ công chúa Huyền Trân. Các anh có đồng ý không?
Không ai trả lời nhưng đều gật gù.
Võ Bằng uống cạn ly đá lạnh, lại lên tiếng:
– Còn chuyện tình Huyền Trân – Trần Khắc Chung, các anh em nghĩ sao?
Hạm phó Việt lại xông xáo:
– Tôi thấy chả có gì gọi là mối tình… Các nhà văn, nhà viết tuồng chỉ bịa chuyện cho lâm ly để câu độc giả, khán giả mà thôi!
Thiếu úy Lũy:
– Xin Hạm phó chứng minh.
Hạm phó Việt trầm ngâm như sắp xếp ý tưởng, rồi nói:
– Có nhiều minh chứng:
Thứ nhất, xét việc tướng tài Trần Khắc Chung đại diện nước Đại Việt đi Chiêm Thành. Trên danh nghĩa là chia buồn cái chết của vua Chế Mân nhưng mưu đồ là tìm cách đưa Huyền Trân về nước, tránh bị hỏa táng theo chồng. Rõ ràng là một sự kiện thậm vô lý. Việc hỏa táng hẳn phải diễn ra trong vòng mươi ngày sau khi Chế Mân chết. Trong khi đó thời gian Chiêm Thành cho người đi Thăng Long báo tin bằng ghe chèo cần ít nhất ba tháng. Cộng thêm ba tháng Trần Khắc Chung lên đường đi chia buồn. Đâu lý do gì Chiêm Thành chờ sáu tháng mới hỏa táng?
Hạm phó ngưng uống nước. Thiếu úy Lũy nóng nảy:
– Xin tiếp.
– Thứ hai, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tục lệ Chiêm Thành khi vua mất thì hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu. Sách ghi rõ chỉ chánh thất mới được vinh dự đó. Huyền Trân là vợ thứ ba. Cũng trong sách này có ghi chép: “Mùa thu năm 1308, công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành về nước. Thượng hoàng sai trại chủ Hỏa châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm trở về Đồ Bàn”. Câu đó chứng tỏ Huyền Trân không bị hỏa táng mà còn được Chiêm Thành cho ba trăm người tiễn đưa an toàn về đến tận Thăng Long.
Hạm phó nhìn thiếu úy Lũy chờ ý kiến. Lũy cười:
– Xin tiếp tục.
– Thứ ba, Trần Khắc Chung năm đó đã là sáu mươi, Huyền Trân mới hai mươi, không thể có chuyện tư tình công khai giữa chốn ba quân. Hơn thế nữa, Huyền Trân đang chịu tang chồng, đang đau đớn xa đứa con hai tháng, vui thú gì nghĩ chuyện yêu đương!
Hạm phó trao thiếu úy Lũy cái nhìn trêu chọc, rồi tiếp:
– Thứ tư, Huyền Trân là con của một vị vua anh minh, một thiền sư sáng lập môn phái, chắc chắn là rất khắt khe với luân thường, đạo lý. Nếu là một đứa con hư hỏng, công chúa đã không xin cha đi tu mang pháp danh Hương Tràng. Bà vừa tu hành vừa dạy dân dệt vải và làm thuốc chữa bệnh. Dân chúng đã hết sức tôn kính bà, lập đền thờ.
Thiếu úy Lũy xoa tay:
– Bái phục Hạm phó!
Võ Bằng gật đầu:
– Tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến của các anh em. Cũng như tôi rất ưa thích ca khúc Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi của Phạm Duy. Bản này được nhiều người hát, nhưng chỉ có hai giọng ca Thái Thanh và Duy Khánh trình bày tâm sự Huyền Trân thấm thía nhất.
Có tiếng nhao nhao:
– Hạm trưởng hát cho nghe đi.
Võ Bằng cười:
– Tôi đã nói chỉ có Thái Thanh và Duy Khánh…
Đợi tiếng phản đối chấm dứt, Võ Bằng tiếp:
– Có một bài ca khác, cũng nói lên tâm sự của dân Chàm mà tôi tin các anh em đều đã có dịp thưởng thức. Hẳn ai cũng biết, sau Chế Mân, dân Chàm có một vị vua tài ba lừng lẫy, từng mấy lần đánh chiếm Thăng Long, làm vua tôi Đại Việt chạy tán loạn. Nhưng cuối cùng lại bị một tướng trẻ có tên gần giống Trần Khắc Chung là Trần Khát Chân, giết chết. Đế chế Chiêm Thành suy tàn, kinh đô Đồ Bàn hoang phế. Cuối cùng hậu duệ Chế Linh cam đành rên rỉ Hận Đồ Bàn.
Mọi người cười rần. Không thấy ai thêm ý kiến, Võ Bằng chậm rãi nói:
– Câu chuyện công chúa Huyền Trân lấy vua Chế Mân, gợi tôi nhớ một chuyên vương giả khác, cũng một công chúa lấy một vị vua. Kết cuộc cũng giống nhau: buồn não nuột…
Trung úy Tài nôn nóng:
– Xin Hạm trưởng kể cho nghe.
– Năm 1786, quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh, vua Lê Hiển Tông trở thành bù nhìn. Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”. Sau thành công mỹ mãn, Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông gả công chúa Ngọc Hân. Chàng đưa nàng về Phú Xuân, Huế. Sống hạnh phúc bên nhau chỉ được sáu năm, Nguyễn Huệ đột ngột qua đời.
Có tiếng xuýt xoa. Hạm phó Việt lên tiếng;
– Nếu so sánh hoàn cảnh của hai công chúa sau khi chồng chết thì công chúa Huyền Trân may mắn hơn nhiều. Bà đi tu, giúp đời. Còn Công chúa Ngọc Hân chết trẻ – mới 29 tuổi – mà cũng không được yên mồ yên mả. Mộ của Ngọc Hân bị Gia Long phá hủy, hài cốt ném xuống sông. Hai con của bà bị xử trảm, thây ném xuống biển.
Thiếu úy Lũy chen lời:
– Trường hợp Trần Khát Chân cũng rất thảm thương. Năm 1398, Hồ Quý Ly bắt vua Thuận Tông nhường ngôi cho con trai mới 3 tuổi để dễ bề khuynh loát. Cái xót xa là tuy nhường ngôi rồi, vua Thuận Tông vẫn bị Hồ Quý Ly giết chết. Trần Khát Chân thấy vậy, họp các tướng, bàn cách mưu sát Hồ Quý Ly. Việc bại lộ, Hồ Quý Ly thẳng tay giết Trần Khát Chân và 370 người gọi là đồng lõa. Sau đó, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần.
Võ Bằng thở dài:
– Thôi, hôm nay đến đây là quá đủ. Còn gì thắc mắc, bàn tiếp vào bữa cơm tối.
Anh rời phòng ăn, về phòng riêng, đánh một giấc, sẵn sàng cho một đêm giới tuyến, có thể sẽ thức trắng…
***
Chương 38
Về bến Sài Gòn
Giữa tháng Năm, trợ chiến hạm Rạch Gầm về cập bến Bạch Đằng sau ba tháng biệt phái cho Vùng 1. Trời chiều Sài Gòn nóng như lửa, nhưng lòng Võ Bằng còn nôn nóng hơn. Giao mọi việc cho hạm phó, anh gọi taxi phóng vội về nhà, đẩy chiếc Vespa ra hiên, nổ máy thử. Chiếc xe vẫn nổ êm ru.
Anh vào nhà tẩy rửa mùi tàu, mùi biển, chọn bộ thường phục bảnh bao nhất, chờ gần giờ tan học là đến cổng trường Gia Long.
Những hàng cây dầu cao vút, cành lá lao xao trong nắng vàng. Ánh nắng xuyên qua từng kẽ lá, rơi xuống mặt đường thành những đốm vàng nhỏ. Thỉnh thoảng, một cánh hoa dầu tà tà xoay, hạ thấp dần trong tiếng leng keng từ xe cà rem. Một chiếc xích lô máy chạy chậm, tiếng máy nổ bình bịch. Âm thanh ấy gợi anh nhớ tiếng máy tàu. Tiếng máy quen thuộc đó từ nay sẽ tạm im trong suốt bốn mươi lăm ngày…
Võ Bằng đưa mắt nhìn ngôi trường rợp bóng cây với lối kiến trúc cổ kính, trang nghiêm, thanh lịch: mái ngói đỏ, tường vàng, dãy trụ hàng rào thẳng tắp.
Chuông tan học vừa reo. Chiếc đồng hồ gắn trên mặt tiền của trường chỉ đúng năm giờ. Các nữ sinh đồng phục áo quần trắng lẫn với xe đạp túa ra cổng. Một khung cảnh thanh bình, nên thơ, đáng yêu. Đầu óc Võ Bằng không còn tiếng còi báo động, tiếng sóng gào và tiếng súng giao tranh ngoài biển. Chỉ còn nghe tiếng cười giòn vọng đến.
Và rồi Võ Bằng thấy Như Oanh. Nàng bước ra cùng toán giáo sư, tay ôm chồng tập vở, áo dài xanh nhạt giản dị, tóc xõa vai. Mắt nàng hướng về nơi Võ Bằng chờ nàng ba tháng trước. Nàng sựng người bắt gặp bóng dáng anh. Rồi nở nụ cười tươi đẹp như hoa biển.
Nàng băng qua đường đến bên anh, giọng vui mừng:
– Em đợi anh cả tháng nay.
Võ Bằng cười:
– Lúc đi, anh nói là ba tháng.
– Biết vậy mà em cứ ngóng trông.
– Anh cũng đâu thua em. Tàu cập cầu là anh đến đây ngay.
Cả hai nhìn nhau thiết tha. Võ Bằng âu yếm:
– Ngồi lên xe đi, anh chở em ra Đồng Quê quán, hay nơi nào khác, tùy em.
Như Oanh cười, ánh mắt long lanh:
– Em thích Đồng Quê quán. Nhưng trước tiên ghé nhà báo cho ba mẹ hay, kẻo ông bà lo.
– Đồng ý. Anh cũng vào xin phép cho phải lễ.
Nhưng ông bà chưa về. Anh nhìn quanh phòng khách. Mọi thứ như cũ, đều sang trọng. Anh thấy mình thật may mắn. Dù bao trắc trở, ông bà vẫn mở rộng cửa cho anh vào…
Mười lăm phút sau Như Oanh hiện ra trong dáng trẻ trung: quần Jeans áo tím. Nàng ghi mấy dòng để lại cho ba mẹ.
***
Hai người ngồi vào đúng chiếc bàn trước kia.
Nàng ngắm nghía Võ Bằng, khẽ nói:
– Trông anh gầy đi.
Anh cũng ngắm nàng:
– Ba tháng ở biển anh vẫn mơ hoài khuôn mặt em.
Nàng nói khẽ, như thì thầm:
– Suốt ba tháng, nghe gió thổi, em tưởng anh đang trong bão biển.
– Hãy luôn vui. Đừng quá lo lắng.
– Em tưởng tượng đủ thứ… nào là sóng gió, bão tố, đánh nhau… Có đêm em khóc vì thấy anh bị thương.
Người bồi đến, đưa thực đơn. Như Oanh chọn cá rô chiên giòn, lươn um, canh chua cá bông lau. Nàng uống nước đá lạnh. Võ Bằng bia 33.
Anh rót đầy ly, uống cạn, rồi lại rót đầy. Như Oanh thong thả uống từng ngụm. Hai người lại nhìn nhau say đắm. Nàng nói:
– Kể em nghe chuyến công tác…
Anh không muốn nàng thêm lo, lắc đầu:
– Vẫn như mọi công tác. Hiện tại chúng ta bên nhau, hãy nói về chúng ta.
Ba mẹ em có… chê anh gì không? Có khuyên em… chê anh không?
Như Oanh cười tươi:
– Có lần ba nói: “Thằng đó hiền, cũng được.”
– Còn em, thấy sao?
– Được quá đi chứ!
Võ Bằng kéo túi giấy nhỏ ở góc bàn lại gần:
– Anh có quà tặng em.
Anh chậm rãi lấy ra một hộp nhỏ được bọc trong giấy hoa, trao cho nàng.
Như Oanh ngạc nhiên nhìn anh, nín thở mở hộp giấy. Bên trong là một cặp chim hải âu xinh xắn gắn kết bằng vỏ ốc. Nàng nâng niu cặp chim khỏi hộp, đặt lên bàn, say mê ngắm nghía. Đôi chim xếp cánh, đầu chúi về nhau, mỏ kề, đứng trên một mảng san hô trắng. Từng đường cong mảnh mai, từng lớp vỏ xếp chồng tạo thành bộ lông trông mềm mại như thật.
Một lúc lâu, nàng cất tiếng, giọng khẽ đến nỗi gần như lẫn vào tiếng nhạc êm dịu:
– Đẹp quá, anh. Chắc mắc tiền lắm.
– Anh tự làm.
Nàng kêu lên kinh ngạc:
– Anh tự làm?
Võ Bằng gật đầu:
– Trong một chuyến tuần tiễu bảo vệ Cù Lao Ré, anh vào viếng thăm thiện chí ông chúa đảo. Rồi lần mò ra bãi dạo chơi. Không ngờ bãi hoang có nhiều vỏ sò nhỏ, đủ màu sắc. Anh nghĩ nếu tặng em, em sẽ rất thích. Thế là anh nhặt đầy hai túi quần và hai túi áo.
– Rồi sao lại thành cặp chim âu yếm?
– Cũng tình cờ. Một hôm, trời lặng biển êm, nhìn đôi chim hải âu bay lượn săn mồi, anh chợt nghĩ tại sao không thử gắn kết các vỏ sò thành đôi chim. Thế là khi về Đà Nẵng, anh tìm mua keo dán. Rồi mày mò khi rảnh rỗi, ghép lại các vỏ sò.
Thấy Như Oanh trố mắt tỏ vẻ không tin, anh tiếp:
– Con chim mái, anh dùng vỏ ốc xà cừ màu óng ánh, màu áo em mặc đêm dạ tiệc gặp lần đầu. Con chim trống thì anh dùng vỏ sò màu trắng. Anh muốn khi nhìn vào đôi chim, em thấy… đôi ta.
Đôi mắt nàng bỗng long lanh. Nàng ôm mặt, che giấu xúc động.
Không gian như lắng lại, chỉ còn tiếng nhạc êm đềm từ chiếc máy hát nơi góc quán. Như Oanh đưa tay, nhẹ nhàng chạm vào con chim trống. Đầu ngón tay nàng vuốt nhẹ lên thân chim, miệng mỉm cười:
– Anh khéo tay thật. Biết bao công phu. Biết bao thì giờ…
Võ Bằng lắc đầu:
– Thật ra nhờ một động lực thúc đẩy: anh làm để đỡ nhớ em.
Nàng lại ôm mặt:
– Thôi đừng nói nữa. Em khóc bây giờ.
– Vậy mà, khi tạo đôi chim, anh cứ sợ em… chê!
Như Oanh nắm tay anh, rơi nước mắt:
– Cặp chim này em giữ để tình mình sẽ mãi keo sơn.
Võ Bằng bóp chặt bàn tay mềm mại của nàng, giọng trịnh trọng:
– Như Oanh. Em có một tuần để xét lại lòng mình. Sau một tuần, nếu em vẫn một lòng với anh, anh sẽ xin ba mẹ anh tiến hành lễ hỏi.
Như Oanh cũng bóp chặt tay anh, giọng thiết tha:
– Em không cần một tuần. Một ngày cũng không. Ba tháng qua em đã biết em muốn gì. Em muốn luôn luôn cạnh kề đời anh.
Võ Bằng hân hoan:
– Vậy thì em về quê ra mắt ba mẹ anh nghe.
– Em sẵn sàng, nhưng chừng nào?
– Tuần tới. Anh sẽ xin phép vắng mặt ba ngày, thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật.
– Em cũng sẽ xin phép nhà trường.
– Tối mai anh sẽ đến xin phép ba mẹ em.
– Tối mai em sẽ nấu cơm đãi anh.
Thức ăn Đồng Quê quán cũng vừa dọn ra. Cả hai chưa bao giờ ăn bữa cơm ngon như lần này.
***
Khi Như Oanh xuống xe, anh nắm tay nàng, âu yếm nói:
– Ngủ ngon. Nói ba mẹ anh cáo lỗi, phải về tàu ngay vì sắp đến giờ giới nghiêm.
Nàng bước nhanh qua chiếc xe đang đậu. Cánh cửa mở. Ánh sáng ùa ra. Dáng nàng bước vào. Anh rồ ga phóng đi.
Sáng hôm sau, nhân viên truyền tin trình Võ Bằng một công điện khẩn từ Hạm Đội. Nội dung thông báo Tư lệnh Hạm Đội sẽ chủ tọa buổi lễ ân thưởng huy chương cho sĩ quan và nhân viên hữu công vào sáng thứ năm 21 tháng 5. Anh mừng là không trùng ngày định nghỉ phép.
Anh cho họp thủy thủ đoàn thông báo tin vui và họp sĩ quan phân công chuẩn bị buổi lễ. Mọi chuyện phải hoàn tất trong ba ngày.
Buổi sáng thứ năm trời Sài Gòn trong trẻo lạ thường như chào đón ngày trọng đại. Gió sông thổi nhẹ, man mát.
Hạm trưởng Võ Bằng chỉnh lại cầu vai lần cuối trước gương. Anh đứng thẳng, gương mặt trầm tĩnh, nhưng đôi mắt linh hoạt, không phải kiêu hãnh, không phải tự mãn, mà là ký ức chưa kịp lắng xuống. Hình ảnh những ngày đêm hoạt động ở Bắc Đảo, Nam Du, Hòn Chuối, biển Bắc, cửa Tư Hiền còn chập chùng cùng hình ảnh Như Oanh, cặp chim hải âu.
Anh rời phòng riêng, bước lên nơi hành lễ.
Chiếc trợ chiến hạm HQ 266 Rạch Gầm rộn ràng cờ xí đủ màu. Trên đỉnh cao, lá cờ vàng ba sọc đỏ bay phất phới. Sàn tàu sơn mới láng bóng. Các khẩu pháo 76 ly và 40 ly, đại liên được bao bọc gọn gàng. Một không khí vừa trang nghiêm vừa đẹp mắt.
Từ rất sớm, thủy thủ đoàn đã vào vị trí ở boong sau. Tất cả trong quân phục tiểu lễ trắng. Hàng quân danh dự đứng dọc hàng đầu. Thiếu úy Dương Công Đức tươi cười dù vai vẫn còn băng bó vết thương chưa lành hẳn.
Đối diện là một bục thuyết trình, cạnh bên là chiếc bàn nhỏ đựng khay huy chương.
Lúc chín giờ, một chiếc Jeep quẹo vào cầu tàu, dừng trước hạm kiều. Đại tá Tư lệnh Hạm đội, người chỉ huy toàn bộ chiến hạm, mặc tiểu lễ với ba hàng huy chương trên ngực, dáng vẻ uy nghi, ánh mắt sắc sảo, nhẹ nhàng bước khỏi xe. Một sĩ quan và một nữ quân nhân theo sau.
Kèn nghi lễ vang lên. Hạm trưởng Võ Bằng thẳng người, nghiêm trang chào đón.
Đại tá đứng sau bục thuyết trình, nhìn hàng quân, cất giọng vang to:
– Thủy thủ đoàn Rạch Gầm HQ 266. Hôm nay tôi đại diện Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ghi nhận chiến công các anh em lập được trong thời gian công tác ở Vùng 4 và Vùng 1. Với lòng quả cảm, kỹ năng thuần thục và tinh thần chiến đấu không lùi bước, các anh đã phát hiện, truy kích và đánh chìm ba tàu tiếp tế vũ khí của địch, bắt sống hai chiếc với nhiều tù binh, súng đạn. Một số đạt thành tích xuất sắc được đặc biệt tưởng thưởng.
Ông quay sang Võ Bằng:
– Đại úy Võ Bằng, với tư cách hạm trưởng, đã thể hiện sự điềm tĩnh, quyết đoán và tài trí, dẫn dắt chiến hạm từ thành công này đến thành công khác. Thừa lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tôi tuyên dương và trao tặng Hạm trưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao Vàng.
Tiếng vỗ tay vang lên dồn dập. Võ Bằng bước đến chào Tư lệnh. Cô nữ quân nhân nâng khay huy chương. Tư lệnh Hạm đội gắn lên ngực áo Võ Bằng, bên trên hàng huy chương có sẵn.
Ông nồng nhiệt:
– Anh rất xứng đáng. Chia vui.
Ông chìa tay. Võ Bằng nghiêm trang bắt lấy:
– Xin cám ơn Tư lệnh.
Anh trở về chỗ đứng.
Giọng sĩ quan tháp tùng vang lên:
– Trung úy Phạm Lê Tiến, hạm phó, người trực tiếp cung cấp thông tin chiến thuật chính xác, tích cực trong nhiệm vụ, tạo điều kiện cho chiến thắng vẻ vang. Hạm phó Tiến được tuyên dương Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao Bạc. Kính mời Tư lênh gắn huy chương cho Trung úy Tiến.
Hạm phó Tiến bước lên, nghiêm chào. Ánh nắng chiếu nghiêng soi rõ vẻ mặt gầy gò cương nghị. Trong anh dâng lên một cảm xúc lạ lùng – không hẳn là tự hào, mà là nỗi vui mừng của người được ghi nhận công lao.
Tiếp theo là Thượng sĩ Lâm Văn Minh, quản nội trưởng, được tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao Đồng. Thiếu úy Dương Công Đức cùng sáu nhân viên bị thương, được ân thưởng Chiến thương Bội tinh.
Đại tá nhìn hàng quân, nghiêm giọng:
– Tôi cũng thông báo cùng thủy thủ đoàn Rạch Gầm: cách nay gần ba tháng, tôi đã đại diện Hải quân dự lễ an táng chiến hữu Giám lộ Trịnh Cương, tử thương trên biển Bắc. Anh được truy thăng cấp Hạ sĩ và được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.
Đại tá ngước nhìn lá quốc kỳ:
– Tất cả hãy dành một phút mặc niệm cho Hạ sĩ Trịnh Cương và những chiến hữu đã mãi mãi ra đi.
Tiếng kèn mặc niệm vang lên buồn thảm.
Buổi lễ chính thức kết thúc vào lúc chín giờ bốn mươi lăm phút. Võ Bằng mời Tư lệnh Hạm đội dùng giải khát ở boong trước.
Trên chiếc bàn dài trải khăn trắng, Tư lệnh và thủy thủ đoàn quây quần bên những ly bia, nước xá xị từ quân tiếp vụ. Bánh ngọt và các đĩa trái cây được bày biện đơn giản nhưng ngon lành.
Trung úy Tiến nâng hai ly bia:
– Tưởng nhớ Hạ sĩ Trịnh Cương.
Tất cả nâng ly. Mọi người im lặng. Rồi cùng uống. Ly dành cho Tạo đặt lên bàn.
Không còn nghi thức, Tư lệnh thân mật kể những chuyện vui hải nghiệp. Nhiều tiếng cười giòn giã vang lên…
Nửa giờ sau, Đại tá ra về. Kèn tiễn vang lên – một âm điệu khác, không phải bắt đầu mà là khép lại.
Tại hạm kiều, Tư lệnh Hạm Đội bắt tay Võ Bằng:
– Hãy tiếp tục tạo thành tích. Tôi sẽ đích thân gắn cấp bậc Thiếu tá cho anh tại mặt trận.
Võ Bằng nghĩ đến đám cưới sáu tháng tới. Biết đâu vừa được tiểu đăng khoa lẫn đại đăng khoa. Anh cao giọng:
– Rõ, thưa Đại tá.
***
Chương 39
Ra mắt
Chuyến xe đò Hữu Phước bốn mươi chỗ rời bến xe miền Tây lúc chín giờ sáng, hướng thẳng Tân Châu.
Võ Bằng và Như Oanh ngồi khoảng giữa, dãy ghế bên phải. Vì đi lần đầu, Như Oanh chọn ngồi phía ngoài, nép sát cửa kính để nhìn quang cảnh. Xe vừa qua khỏi Phú Lâm, đường trống, bánh xe lăn nhanh, gió đập phần phật vào thân xe.
Cánh đồng mở ra, trơ những luống cày. Thỉnh thoảng mới có một mái nhà thấp, tường vàng, ngói đỏ, nằm lặng như một chấm nhỏ giữa bãi trời mênh mông.
Như Oanh ngạc nhiên thấy ruộng hoàn toàn bỏ hoang, đinh hỏi, nhưng kịp nhớ bài ca dao: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi… Tháng Tư đi tậu trâu bò. Để ta sắm sửa làm mùa tháng Năm.”
Nàng im lặng khá lâu, cố quên nỗi lo, rồi cũng buộc miệng nói khẽ với Võ Bằng:
– Ba mẹ anh có khó như ba mẹ em không?
Võ Bằng lắc đầu. Anh định nói: “Ba má anh dễ tính, không hắc búa như ba má em” nhưng kịp dừng lại. Một thoáng ngắn. Rồi anh đổi giọng:
– Bình dị lắm. Em gặp sẽ thấy thương mến liền.
– Anh bảo đảm?
– Một trăm phần trăm.
Nàng nhìn anh như muốn tin. Nhưng tâm vẫn còn một chút gì bất an:
– Thú thiệt… đây là lần đầu em về miền Tây.
Một chút ngập ngừng. Rồi như một đứa trẻ vòi vĩnh:
– Nói cho em nghe… những gì anh biết đi.
Võ Bằng không nhìn nàng. Anh nhìn ra ngoài, giọng thấp:
– Miền Tây… mênh mông lắm. Chuyện cũng mênh mông. Anh chỉ biết những gì mắt thấy tai nghe thôi…
Anh nói tổng quát về Long An, về Mỹ Tho nhưng kể chi tiết các trận Rach Gầm, Nhật Tảo hai chiến hạm mang tên. Nàng có cảm tưởng anh đang dẫn nàng đi từng bước, vào một vùng đất mà anh mang theo như một kinh nghiệm chiến đấu.
Rồi như quá mòn mõi sau ba ngày chuẩn bị lễ tưởng thưởng, anh tựa đầu, lim dim.
***
Xe dừng ở Trung Lương. Người lên, kẻ xuống. Những sạp trái cây bày sát lề đường: vú sữa, xoài, nhãn, bưởi, chuối, cam, quýt… Mận đỏ, mận hồng, mận trắng, căng bóng dưới nắng.
Một tiếng rao vang lên, ngọt và mềm:
– Ai ăn mía ghim…
Như Oanh nghiêng đầu nhìn. Mâm mía ghim đặt trên đầu một cô gái đứng ngay cửa sổ. Những khúc mía nhỏ, thon, ghim thành chùm trên thanh trúc chẻ.
Nàng mua một chùm. Thấy Võ Bằng đã tỉnh thức, nàng đưa mời. Anh nhai ngon lành:
– Mía ngọt.
Nàng nhai chậm, rồi nói nhỏ nhẹ:
– Anh kể chuyện nghe mê quá. Khi nào có thể anh tiếp tục nghen.
Như đươc dịp khoe tài hoạt bát, anh nói về Cai Lậy, Nha Mân, Cái Bè.
Như Oanh lại mê mẩn lắng nghe.
Đúng ngọ, xe dừng lại ở bắc Mỹ Thuận.
Tất cả hành khách xuống xe. Võ Bằng dẫn nàng vào một quán quen. Anh gọi cho cả hai: cơm tấm, tôm rim, trứng chiên.
Như Oanh ăn chậm, gật gù, đôi mắt sáng lên một cách rất thật:
– Ngon quá…
Sau bữa ăn, họ đứng trên bắc. Dòng nước chảy xuôi, chậm.
Những dề lục bình trôi qua, lá xanh mướt, hoa trắng, tím, hồng tươi mơn mởn. Nàng hỏi:
– Hoa gì vậy anh? Trôi lênh đênh mà đẹp dữ!
Võ Bằng nhìn theo dòng nước. Một thoáng lặng.
– Lục bình…
Anh nói chậm hơn:
– Người miền Tây… thích lắm. Dù trôi đi đâu, hoa vẫn nở, màu hoa vẫn sắt son. Biểu tượng của lòng thủy chung.
Như Oanh trầm ngâm. Một ý nghĩ thoáng qua: Có phải… mình cũng đang trôi như vậy? Nàng hỏi:
– Sao gọi là lục bình?
Võ Bằng cười:
– Em làm như anh là cuốn tự điển…
Nàng cũng cười. Nhưng lần này, tiếng cười đã dịu hơn.
Xe chạy tiếp.
– Còn phải qua bắc nào nữa không anh?
– Qua Vàm Cống. Rồi qua một chuyến phà.
Như đụng chạm nghề nghiệp, nàng nhăn mặt:
– Bắc với phà khác nhau ra sao?
– Bắc là đọc từ tiếng Tây le bac, dùng chở xe và người qua sông. Bắc khá lớn, chở nhiều xe. Loại nhỏ gọi là phà.
Như Oanh reo khẽ:
– Em hiểu rồi. Thì ra dân Sài Gòn gọi phà Thủ Thiêm là vậy.
Võ Bằng mỉm cười:
– Nhưng dân gian cũng dùng lẫn lộn. Như dân Mỹ Tho không gọi phà mà gọi bắc Rạch Miễu. Còn Châu Đốc, cùng ngang qua dòng sông Hậu mà nơi thì gọi bắc Năng Gù nơi thì phà Châu Giang.
– Năng Gù, nghe lạ quá!
– Vùng này xưa dân Miên ở, tên Năng Gô, mình đọc trại thành Năng Gù. Cũng như Svay Ton thành Tri Tôn.
– Nhiều điều thú vị thật. Đúng là đi cho biết đó biết đây.
– Trước khi tới Năng Gù, mình còn qua các địa danh lạ khác: Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng, Bằng Lăng. Anh cũng chỉ nghe tên. Để sưu tầm nguồn gốc rồi kể sau.
Như Oanh trầm ngâm nhìn dòng sông một lúc, rồi nghiêng mặt hỏi nhỏ:
– Chừng nào thì mình ngang qua mấy chỗ đó?
– Khoảng nửa tiếng, sau khi qua bắc Vàm Cống.
***
Xe dừng. Anh lơ xe lại la to. Tiếng vang vang mà thân ái:
– Tới Vàm Cống rồi! Xuống Bắc qua sông bà con ơi!
Tiếp theo là tiếng rao lanh lảnh:
– Ai ăn mía ghim.
Võ Bằng âu yếm hỏi:
– Em thích ăn uống gì không?
Nàng lắc đầu:
– Em còn no quá!
Trên chiếc bắc, Như Oanh nắm bàn tay Võ Bằng trên lan can:
– Từ đâu có địa danh Vàm Cống? Anh Bằng?
– Mấy năm trước, một lần chiến hạm qua đây, ông Hạm trưởng có giải nghĩa: vàm là con sông nhỏ chảy ra Hậu giang. Tại vàm, người ta xây một cái cống để điều tiết lưu lượng nước. Người dân kết hợp thành địa danh Vàm Cống. Có nhiều vàm lắm: Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Láng, Vàm Xáng…
– Chắc vì nhiều vàm nên lục bình sông Hậu nhiều hơn sông Tiền?
– Không phải đâu! Vì sông Hậu nước rề rề chảy, ít sóng to gió lớn, nên lục bình dễ sinh sôi.
Cả hai lặng thinh nhìn từng dề lục bình trôi hàng hàng như đang tách nguồn về biển.
Như Oanh chợt reo nhẹ:
– Em vừa nhớ bài thơ ‘Ðêm Qua Bắc Vàm Cống’ của Tô Thùy Yên. Bài thơ đẹp mà buồn. Nàng đọc khẽ:
Đêm qua bắc Vàm Cống
Mối sầu như nước sông…
Chiếc bắc xa dần bến
Đời xa dần tuổi xanh…
Nước tách nguồn về biển
Sầu lại chảy vào hồn.
Một lúc, Như Oanh hỏi khẽ:
– Chừng nào mới tới nhà, anh Bằng?
Anh liếc đồng hồ:
– Nếu không kẹt phà, khoảng năm giờ chiều!
– Gì mà lâu dữ vậy?
– Còn phải qua một chuyến đò nữa.
– Qua đò?
Võ Bằng nghe nhưng không trả lời. Anh có phần hồi hộp: “Không biết… ba má sẽ nghĩ gì về Như Oanh?”
Anh chưa từng lo điều này trước đây. Nhưng kinh nghiệm hôn nhân của các anh chị còn đó. Anh bắt đầu thấy lo.
Như Oanh quay sang nhìn Võ Bằng. Lần đầu tiên, nàng hình dung rõ ràng: con đường về nhà anh không phải là một con đường thẳng, trơn tru.
– Anh đi đi về về… vất vả quá hả?
Một khoảng lặng. Giọng Võ Bằng quan tâm:
– Em muốn trở về Sài Gòn không?
Nàng lắc đầu, không suy nghĩ:
– Không. Anh đến đâu, em đến đó.
Võ Bằng nắm lấy bàn tay nàng, bóp nhẹ.
***
Xe lên bắc Vàm Cống hướng về Long Xuyên. Một bảng hiệu nền xanh chữ trắng hiện ra. Nàng đọc:
– Thốt Nốt
Võ Bằng nhìn nàng mỉm cười:
– Đọc lại lần nữa xem.
– Thốt Nốt.
– Người ở đây đọc ‘Thóc Nóc’.
– Sao kỳ vậy?
– Anh cũng không biết…
Như Oanh cười. Nhưng rồi lại im.
Một nỗi lo mới, nhỏ thôi, nhưng rõ: “Giọng nói của mình… có lạc lõng không? Giọng nói của ba mẹ Võ Bằng có dễ nghe không? Lời lẽ có khắt khe lắm không!
Nàng hỏi, để xua đuổi:
– Quê anh có gì đặc biệt, anh Bằng?
– Tân An là xã nghèo, bên bờ sông Tiền, cách chợ Tân Châu bốn cây số, cách biên giới Miên chừng mười một. Dân số trên mười ngàn, đa số làm ruộng, trồng cây ăn trái, nuôi cá, nuôi tằm, ươm tơ. Ba má anh chị của anh được may mắn làm công chức, giáo viên. Ba anh cũng có chút tiếng tăm. Người lạ đến Tân Châu hỏi ông Võ Hảo là ai cũng biết.
Giọng Như Oanh bất an:
– Em lại lo. Ba mẹ anh mà chê em thì mắc cỡ lắm.
– Anh nghĩ ngược lại. Ba má anh sẽ nức nở khen thằng con khéo chọn vợ.
Như Oanh đập vai anh:
– Hy vọng được vậy. Giờ kể tiếp về Tân An đi.
– Tân An có hàng xóm là xã Vĩnh Xương sát biên giới, đất phù sa rất tốt, dân số chừng ngàn người chuyện ruộng rẫy. Gần đó có Núi Nổi, cao chưa tới mười thước mà mùa nước lên, bất kể bao nhiêu, núi cứ nổi bồng bềnh giữa biển nước. Nhất định anh sẽ đưa em đến viếng.
– Nghe hấp dẫn quá. Mà Núi Nổi thuộc quận nào?
– Cũng thuộc Tân Châu.
Mắt Như Oanh sáng lên:
– Em nhớ tới câu ca dao “Gái nào thảo bằng gái Tân Châu. Tháng ngày dệt lụa trồng dâu. Thờ cha kính mẹ quản đâu nhọc nhằn”. Em thắc mắc sao anh không chọn vợ Tân Châu mà lại chịu vất vả chọn em?
Võ Bằng lắc đầu:
– Ba má anh cũng đã giới thiệu vài cô nhưng không duyên nợ.
– Lại có câu: “Chuối non giú ép chát ngầm. Trai tơ đòi vợ khóc thầm cả đêm”. Anh có vậy không?
Võ Bằng gật đầu:
– Có. Từ khi gặp em.
Như Oanh kề tai anh, thì thầm:
– Nghe thương quá! Tặng anh đây: “Phải chi em vác nổi cây súng đồng. Hải Quân đi thế, cho chồng nghỉ ngơi.”
Võ Bằng choàng tay qua vai nàng, hôn phớt lên má:
– Cám ơn em nhiều…
Nàng hăng hái hỏi tiếp:
– Em có nghe loại vải nổi tiếng lãnh Mỹ A ở Tân Châu. Việc trồng dâu nuôi tằm hẳn dính dáng đến loại vải này?
– Không chỉ dính dáng mà chính là nguồn cội của lãnh Mỹ A. Người ta thành lập nhiều cơ sở chuyên trồng dâu nuôi tằm, Rồi xây dựng các lò ươm tơ, các xưởng dệt, nhà nhuộm vải. Nếu em thích, anh đưa em đi xem trọn chu trình từ tằm đến vải.
– Em thích lắm.
– Nhắc nuôi tằm, anh ao ước sống qua thời xa xưa: “Sáng trăng trải chiếu hai hàng. Bên em đọc sách, bên chàng quay tơ.”
Như Oanh bụm miệng cười đến đỏ mặt. Võ Bằng cố nhịn:
– Ngày xưa khác, bây giờ phải như thế cho hợp thời. Em tiếp tục sách đèn, còn anh giải ngũ thất nghiệp, về quay tơ dệt vải.
Như Oanh rút khăn tay lau nước mắt, lòng nghe hạnh phúc tràn trề. Bên Võ Bằng lúc nào cũng thoải mái, vui tươi.
***
Tới Châu Đốc, xe qua phà Châu Giang. Một cổng vòm thật đẹp hiện ra, tiếp sau là một thánh đường nhỏ hai màu xanh và trắng, thanh khiết, trang trọng.
Võ Bằng nói:
– Người Chàm ở đây, Thánh đường Hồi giáo Mubarak.
Như Oanh nhìn, nghĩ đến một vùng đất xa lạ. Một nền văn hóa khác. Một dòng người khác. Và mình… sắp bước vào một thế giới khác nữa.
Nàng kêu khẽ:
– Người Chàm sao ở đây? Em tưởng họ ở miền Trung.
– Họ chính là hậu duệ từ vương quốc Chàm, thủ đô Đồ Bàn ở Bình Định. Sau thời Chế Bồng Nga, vương quốc suy yếu rồi tan rã, dân Chàm tản cư sang Miên, rồi từ Miên họ sang Châu Đốc. Họ dệt sà rông, khăn choàng, nón. Đánh bắt cá tôm, buôn bán…
Xe đò chạy đến hàng rào Thánh đường, quẹo trái. Con đường từ Châu Giang sang Tân Châu nhỏ hẹp, nhà cửa thưa thớt. Bên trái là con kinh đào. Bên phải ruộng đồng đang phơi đất.
***
Từ bến xe Tân Châu, họ đi xe lôi máy thêm bốn cây số hướng về biên giới Miên.
Con đường đất, nhiều ổ gà. Hai bên là nhà dưới rừng dừa, giữa cây ăn trái.
Tiếng máy nổ đều đều. Gió mang theo mùi nước, mùi đất, mùi nắng.
Như Oanh lặng thinh, chỉnh lại áo, vuốt nhẹ tóc.
Tim đập nhanh.
Rồi qua một chuyến đò nhỏ, mới đến nơi.
Ngôi nhà năm gian nằm gần cuối con kinh. Mái ngói âm dương phủ rêu. Hàng cau trước sân. Các cánh cửa màu xanh thẫm. Hai con chó đá đứng canh hai bên.
Không gian tĩnh lặng đến mức nghe rõ cả tiếng tim thình thịch.
Một người đàn bà mặc áo bà ba trắng đang ngồi ở gian cuối bán tạp hóa vụt đứng lên, bước vội đến.
Bà reo to:
– Bằng! Con về đó hả?
Tiếng gọi bật tiếp như đã chờ từ lâu:
– Ông ơi! Thằng Bằng về!
Từ gian giữa, ông Võ Hảo bước ra. Áo sơ mi cũ. Quần tây xám. Dép nhựa mòn gót.
– Về sao không báo?
Giọng ông trách nhẹ. Nhưng ấm.
Rồi ông nhìn sang Như Oanh.
– Ai đây?
Nàng cúi đầu:
– Con kính chào hai bác.
Võ Bằng cười, giọng bình thản mà chắc:
– Thưa ba má… con dâu tương lai của ba má đây.
Ông bà lặng nhìn. Một khoảnh khắc. Rất ngắn. Nhưng dài như cả quãng đường vừa đi. Rồi người mẹ bật lên:
– Vậy sao… Bất ngờ quá!
Giọng chân tình.
Nhưng trong lòng Như Oanh vẫn gợn lên làn sóng ngỡ ngàng pha lẫn bối rối. Nàng ngước lên. Cố nở một nụ cười thật tươi.
***
Chương 40
Ra mắt (tiếp theo)
Ông Hảo đổi giọng thân tình:
– Vô nhà đi cháu.
Bà Hảo nhìn người khách lạ. Nàng mặc quần jeans, áo sơ mi thiên thanh. Tóc buông xõa ngang vai, gọn gàng, tự nhiên. Đôi bông tai kim cương nhỏ nhắn lấp loáng làm nổi nét thanh nhã lên khuôn mặt trái xoan không son phấn.
Bà nắm lấy tay Như Oanh, giọng vui mừng:
– Đi cháu.
Cái nắm tay ấy, lời nhẹ êm, khiến Như Oanh cảm thấy tim đập bớt nhanh.
Bên trong căn nhà đơn sơ mà khoảng khoát. Năm gian, nhưng chỉ ba gian thông nhau. Gian giữa đặt bàn thờ gia tiên trang nghiêm. Các cây nhang đang thoảng tỏa mùi trầm. Phía trước là phòng khách với bộ bàn ghế bằng gỗ nâu có vân, sang trọng, cổ kính.
Gian bên trái là phòng ngủ. Ngoài phòng kê bộ ngựa gỗ – nơi Võ Bằng từng nằm suốt những năm tuổi trẻ.
Gian bên phải, ngoài phòng ngủ là bộ trường kỷ chạm trổ công phu. Trên vách treo ảnh gia đình, bằng khen của ông Hảo, kỷ niệm ba mươi năm công tác tại Ty Điền Địa. Phía dưới là chiếc tivi.
Ông Hảo bảo cô bé mười lăm tuổi đứng gần mang vali vào buồng cho Như Oanh. Rồi ông nói bằng giọng ra lệnh Võ Bằng như thời xa xưa:
– Con thì vẫn ngủ ngoài bộ ngựa gỗ.
Bà Hảo chỉ ghế cho Như Oanh:
– Cháu ngồi đây. Nhà quê đơn sơ, đừng ngại.
Như Oanh mỉm cười, giọng chân thành:
– Nhà thật ấm cúng. Cháu rất thích.
Võ Bằng ngồi bên nàng. Ông bà Hảo ngồi đối diện. Không khí như một bữa gặp mặt gia đình. Như Oanh ngồi ngay ngắn, trang trọng nói:
– Thưa hai bác, ba má cháu kính gửi hai bác chút quà.
Nàng lấy từ túi xách, trao gói trà Ô long cho ông, chiếc khăn quàng cho bà.
Ông Hảo kêu khẽ:
– Ba má cháu bày đặt quá! Nhớ về nói lại hai bác cám ơn.
Võ Bằng cũng đưa quà của mình: chai XO cho ba, chai nước mắm Phú Quốc, tiêu Hà Tiên cho má.
Ông bà nhìn nhau, cười.
Ông Hảo quay sang Như Oanh:
– Cháu còn đi học hay làm gì rồi?
– Dạ, cháu đi dạy.
Bà Hảo kêu lên thích thú:
– Đi dạy hả? Bác cũng từng đi dạy. Cháu dạy lớp mấy?
– Dạ, đệ nhất cấp.
Ông Hảo gật gù:
– Giỏi! Nghề giáo cao quý. Dạy trường nào?
– Dạ, trường Gia Long.
– Ái dà… còn giỏi nữa. Trường nổi tiếng nhất nước.
Như Oanh cúi mặt. Cái tên Vinh thoáng qua như một mũi kim châm. Không đau, nhưng vẫn biết. Nỗi ray rứt cũng tan nhanh.
Cô bé giúp việc đang châm trà thì tiếng gọi từ cửa chen vào:
– Chị Ba ơi, cho em mua một chai Nhị Thiên Đường, ông chồng em khi không nhức đầu như búa bổ!
Mọi người nhìn ra. Một người đàn bà trạc tuổi bà Hảo mắt sáng lên:
– Có khách Sài Gòn à? Đẹp mà sang quá!
Bà Hảo không giấu được vẻ hãnh diện:
– Bạn gái thằng con tôi đó.
Người đàn bà mua hàng chăm chăm nhìn Như Oanh khiến nàng buộc phải cúi chào.
Bà ta oang oang:
– Con chị khéo chọn. Chúc mừng nghen!
Bà Hảo đi lấy chai dầu. Khi trở lại, ông Hảo nhắc:
– Chắc tụi nó chưa cơm nước gì!
– Ừ phải. Tôi quên mất.
Bà quay lưng. Như Oanh đứng lên bước theo. Ra sau hè, qua vườn rau xanh um, bà Hảo chỉ căn nhà nhỏ:
– Nhà tắm đó. Cơm nước để bác lo.
Như Oanh nài nỉ xin phụ, nhưng bà xua tay.
Lần đầu tiên Như Oanh tắm gáo. Nước trong, mát lạnh. Từng gáo nước giội xuống vai, chảy dọc theo lưng, như rửa đi một lớp đời quen cũ mà nàng không nhận ra mình đang mang theo.
Nàng bật cười một mình. Lạ – mà thích.
***
Trong phòng khách, ông Hảo hỏi:
– Con được nghỉ phép mấy ngày?
– Dạ, ba ngày.
– Ngày đi, ngày ở, ngày về? Sao ngắn vậy? Đâu đủ thì giờ tin cho anh chị con về gặp con và bạn con.
– Dạ, Sài Gòn biểu tình, lộn xộn. Quân nhân bị cấm trại.
Ông im một lúc, rồi hỏi:
– Con nhỏ đó… con nhà ai vậy?
– Dạ, ba má là thương gia ở Sài Gòn.
– Thương gia… chắc giàu?
– Dạ.
– Người ta… khác mình!
– Dạ.
– Ở Tân Châu đâu có thiếu người để con cưới…
Võ Bằng lặng thinh, bất an. Ông Hảo lại tiếp:
– Con tính tiến tới thật sao?
– Dạ, nên con mới dẫn cô ấy gặp ba má.
Ông nhìn chăm chăm:
– Con có nghĩ, một tiểu thư… chịu sống ở nhà quê, với cá kho cơm trắng?
Võ Bằng không trả lời.
– Quen bao lâu rồi? Mấy lần con về sao không nghe nói tới?
– Dạ, sáu tháng, từ ngày con lên chức hạm trưởng.
Ông Hảo giật mình:
– Hả? Con là … hạm trưởng? Ba mừng. Ở đây, giỏi lắm cũng chỉ làm tài công tàu đò.
Nước mắt Võ Bằng ứa ra. Ông hỏi tiếp:
– Ba má nó có biết chuyện chưa?
– Dạ biết.
– Nói sao?
– Dạ… đồng ý.
Ông Hảo nhìn con, nửa ngờ, nửa tin:
– Đồng ý thiệt?
Võ Bằng rành mạch kể nỗi đoạn trường mình đã trải qua. Ông Hảo lắng nghe rồi lắc đầu cười:
– Ba hồi đó cũng khổ sở vì má con. Nhưng con lỳ hơn ba!
Hai cha con bật cười. Tiếng cười xua tan bầu không khí căng thẳng.
***
Bữa cơm dọn ra. Cá kết chiên. Canh chua bông súng.
Bà Hảo nói:
– Không chuẩn bị nên đạm bạc.
Như Oanh khẽ lắc đầu:
– Hai món này cháu chưa từng ăn.
Ông Hảo nâng chai rươu trong veo:
– Hôm nay vui, uống chút ba xị đế. Chai XO để cúng kiếng.
Ông rót vào ly rồi đưa về phía Như Oanh:
– Cháu thử?
Như Oanh lắc đầu:
– Dạ, cháu không dám.
Ông cười, quay sang Võ Bằng:
– Cha con mình dô!
Ly chạm nhẹ.
Bà Hảo gắp cho nàng miếng cá ngon nhất.
– Cháu ăn đi. Cá… giòn lắm,
Như Oanh ăn chậm, nhớ lời mẹ dặn dò … ăn coi nồi ngồi coi hướng.
***
Đêm xuống.
Như Oanh nằm trên sạp giường, trải chiếu.
Tiếng dế, tiếng côn trùng, tiếng gió luồn qua mái ngói, tiếng sóng vỗ bờ hòa thành một hòa tấu không có ở Sài Gòn.
Căn phòng nóng, không máy lạnh.
Nàng đứng dậy, mở cửa sổ. Bầu trời đen, sâu thẳm. Ánh trăng sáng hơn cả đèn đường.
Ngôi làng im lìm như say ngủ. Khác hẳn Sài Gòn giờ này còn náo nhiệt.
Nàng chợt nghĩ: một ngày nào đó, nếu phải về đây sống, liệu nàng có quên tiếng còi xe hơi, tiếng nổ xích lô máy?
Nàng trở lại giường. Mùi gỗ thông thoảng dịu, như một thứ hương lâu bền và thấm sâu.
Nàng thấy lưng hơi đau. Nhưng rồi cũng thiếp đi…
***
Sáng hôm sau, đi chợ nổi. Chiếc xuồng ba lá không đủ sức chở thêm ông Hảo. Như Oanh bước xuống, xuồng đong đưa, suýt ngã. Võ Bằng kịp nắm tay giữ lại.
Chiếc xuồng nhẹ nhàng rẽ đám lục bình, lướt chậm.
Bình minh trên sông chẳng kém gì bình minh An Thới. Mặt trời lên nhuộm đỏ vùng trời. Mặt nước lấp lánh như dát vàng.
Từ khắp ngả, xuồng ghe đổ về tấp nập, tiếng người gọi nhau í ới, tiếng máy nổ giòn tan, tiếng chèo khua nước.
Chợ nổi hiện ra.
Mỗi ghe một sản phẩm: chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, bắp cải, su hào, cà rốt, các loại khô, cá, mắm. Họ vừa bán vừa trao đổi lẫn nhau.
Một vài ghe bán đồ ăn sáng: hủ tiếu, bún riêu, cháo lòng.
Như Oanh mê mẩn nhìn ngắm. Nàng chưa từng thấy khu chợ nào kỳ lạ và độc đáo như vậy. Mỗi chiếc ghe một món hàng, mỗi người một cuộc đời – nhưng tất cả trôi cùng dòng nước.
Như đôi vợ chồng, hai cá thể nhưng chung dòng đời…
Bà Hảo chèo xuồng len lỏi qua những chiếc ghe. Thỉnh thoảng bà ghé lại xem hàng, trả giá, rồi mua.
Cuối cùng bà chỉ vào một ghe neo đậu gần đó:
– Ghé ăn sáng. Hủ tiếu Nam Vang ghe này nổi tiếng. Nước lèo ngọt, bánh dai ngon.
Bà nhẹ nhàng cập vào. Người bán hàng – một cô gái trẻ – tươi cười niềm nở. Bà Hảo gọi ba tô đặc biệt. Như Oanh ăn thử. Đúng như bà nói – nàng cảm thấy đây là tô hủ tiếu ngon nhất từng được ăn.
Bà hỏi Như Oanh:
– Cháu thấy chợ nổi thế nào?
– Dạ, cháu thích lắm! Nhất là thấy ai cũng vui vẻ, thật thà.
– Nghe cháu thích, bác mừng. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng êm đềm đẹp đẽ như vậy. Có những mùa nước nổi, nước lênh láng khắp nơi, cả tháng trời không ai bước ra khỏi cửa. Rồi những mùa hạn hán, nắng cháy da, đồng ruộng cằn cỗi, nứt nẻ.
Bà ngưng một chốc, rồi nói tiếp, giọng nhẹ nhàng:
– Cháu biết không, thương nhau thì dễ nhưng sống đời mới khó.
Như Oanh lặng người. Chiếc xuồng chao đảo, rất nhẹ, nhưng đủ làm nàng nhận ra rõ câu nói ấy thấm thía đến mức nào.
Nàng nói, sau một lúc trầm ngâm:
– Cháu hiểu. Cháu hiểu đạo vợ chồng là đồng cam cộng khổ.
Bà Hảo cảm thấy hài lòng, thư thả chèo xuồng trở về.
Trên đường, Võ Bằng nói với bà muốn đưa Như Oanh đi thăm vài thắng cảnh, sẽ không ăn cơm trưa.
Bà đổ họ lên bờ. Võ Bằng bao luôn chiếc xe lôi máy đi Thánh địa Hòa Hảo, chùa Giồng Thành, Phù Sơn Tự (Chùa Núi Nổi). Mỗi nơi họ sẽ cầu xin mối lương duyên được xuôi chèo mát mái, đời đời bên nhau.
***
Buổi tối.
Mâm cơm sum họp. Cá lóc kho, canh cua đồng, rau muống xào tỏi, dưa cải chua.
Như Oanh ăn ngon lành. Bà Hảo vừa ăn vừa chỉ cách xào nấu. Nàng cố nhập tâm để về nhà trổ tài.
Sau bữa cơm, Như Oanh định tiếp dọn dẹp nhưng bà Hảo ngăn cản. Bà bảo có đứa giúp việc lo rồi.
Võ Bằng nhìn ba. Rồi nhìn má.
Anh biết — nếu không nói lúc này, sẽ không bao giờ nói được nữa.
— Thưa ba má…
Giọng anh chậm nhưng rõ:
— Con xin phép ba má cho chúng con tiến tới hôn nhân.
Ông Hảo nhìn vợ. Bà gật đầu. Ông nghiêm giọng:
– Nếu thật ba má cháu Oanh đồng ý thì ba má không có lý do gì không đồng ý.
Như Oanh run run:
– Con… biết ơn nhiều…
Võ Bằng tiếp lời:
– Hai tháng nữa con phải đi công tác. Xin ba má cho làm đám hỏi tháng tới.
Ông Hảo nói:
– Phải coi ngày tốt.
Võ Bằng kêu khổ thầm: “Thì giờ eo hẹp mà còn coi ngày tốt xấu!’’ Nhưng biết tính ông, Võ Bằng nói xuôi:
– Dạ.
Bà Hảo khích lệ:
– Chọn ngày xong ba má điện tín ngay cho con. Rồi con trình ba má của cháu Oanh quyết định.
– Dạ.
Ông Hảo tiếp:
– Vợ chồng các anh chị con sẽ tham dự. Vậy con liệu chỗ ăn ở.
– Con cũng sẽ chuẩn bị xe và các mâm lễ vật. Ba má đừng mang gì theo…
Ông Hảo nắm hai vai Võ Bằng, mỉm cười:
– Hạm trưởng có khác, lo liệu được lắm. Ba má thật hãnh diện.
Ông quay sang Như Oanh:
– Còn với con, hãy tin là con sẽ được thương yêu như con ruột.
Như Oanh có cảm giác như hồn mình hòa vào cây cỏ miền quê Tân An.
***
Sáng hôm sau, Võ Bằng và Như Oanh lên đường trở lại Sài Gòn. Quà quê gói đầy.
Ông Hảo cười nói với Như Oanh:
– Còn quà cho cháu, hẹn ngày đám hỏi nghen.
Ông bà tiễn tận bến xe.
Xe lăn bánh, Như Oanh ngoái lại. Hai người vẫn đứng đó, vẫy tay.
Khi khuất hẳn, nàng gọi nhỏ:
– Anh Bằng!
– Hử?
– Em rất vui.
Nàng im lặng một lát, rồi nói khẽ:
– Cám ơn anh.
– Vì?
– Vì cho em thấy một cuộc sống khác, êm ấm, an bình.
Võ Bằng choàng tay qua vai nàng, thì thầm:
– Anh mới là người phải cảm ơn em. Cảm ơn em đã yêu anh.
Nàng tựa đầu vào vai anh, nhắm mắt. Nàng không ngủ, mà ôn lại từng chi tiết của chuyến đi. Và mỉm cười…
Vũ Thất
(Còn tiếp)
bài đã đăng của Vũ Thất
- đời thủy thủ 3 (kỳ 9) - 26.05.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 7) - 12.05.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 6) - 05.05.2026
- đời thủy thủ 3 (Kỳ 5) - 28.04.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 4) - 21.04.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 3) - 13.04.2026
- Đời Thủy Thủ 3 - (Chương 5 đến Chương 10) - 25.03.2026
- đời thủy thủ 3 (Kỳ 1) - 18.03.2026
- bóng người cùng thôn - 16.02.2025
- đời thủy thủ 2 (chương 16 & 17) - 19.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 14 & 15) - 17.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 12 & 13) - 14.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 10 & 11) - 12.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 8 & 9) - 09.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 6 & 7) - 05.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 4 & 5) - 03.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 2 & 3) - 01.08.2023
- đời thủy thủ (2) - (chương 1) - 29.07.2023
- đời thủy thủ (chương kết) - 29.05.2012
- đời thủy thủ (chương 15) - 25.05.2012
- đời thủy thủ (chương 14) - 17.05.2012
- đời thủy thủ (chương 13) - 03.05.2012
- đời thủy thủ (chương 12) - 26.04.2012
- đời thủy thủ (chương 11) - 06.04.2012
- đời thủy thủ (chương 10) - 30.03.2012
- đời thủy thủ (chương 9) - 24.02.2012
- đời thủy thủ (chương 8) - 16.02.2012
- Đời Thủy Thủ (Chương 7) - 20.01.2012
- Đời Thủy Thủ (Chương 6) - 29.12.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 5) - 05.12.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 4) - 11.11.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 3) - 04.11.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 2) - 19.10.2011
- Đời Thủy Thủ (chương 1) - 03.10.2011
- Sao Hôm - 02.11.2010