- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

đời thủy thủ 3 (kỳ 7)

Stormy sea

Chương 31

Hợp tan là lẽ vô thường

Mười giờ sáng chủ nhật, Như Oanh đang chăm chú chấm luận văn thì chuông cửa reo vang. Thường ngày mẹ nàng mở cửa, nhưng hôm nay ông bà đã đi lễ chùa từ sớm. Nàng gác bút, ngạc nhiên. Ai lại đến vào giờ này. Vinh ư? Không. Nàng không tin người cũ còn trở lại. Có lẽ là khách của ba mẹ.

Nàng vừa xuống cầu thang vừa băn khoăn. Khi cánh cửa hé mở, tim nàng đập thùm thụp. Tay đưa lên bụm miệng, nhưng tiếng vẫn bật ra:

– Anh Bằng!

Nàng mở rộng cửa, giọng run nhẹ:

– Mời anh vào.

Võ Bằng bước qua ngưỡng cửa, mỉm cười:

– Rất vui Như Oanh còn nhớ tên.

Nàng dẫn anh đến phòng khách. Trong lúc đi, anh nhìn bộ pyjama xanh nhạt điểm hoa mai trắng, dáng người thon gọn, mái tóc mềm mại ôm nhẹ bờ vai. Vẫn là nàng, dịu dàng như sóng nước.

Giọng nàng thật êm:

– Anh ngồi đây, cho em xin phép một chút.

Nàng lên lầu.

Võ Bằng ngồi xuống, nhìn quanh. Căn biệt thự hai tầng rộng và tĩnh lặng. Bộ sô-pha da màu ngà. Một cây đàn piano lớn để mở, gỗ nâu sậm nổi vân. Hàng chữ Yamaha ánh vàng vắt ngang bên trên bàn phím đen trắng. Tranh sơn dầu treo dọc tường, toàn là hoa trang nhã. Cuối phòng là chiếc TV màn ảnh rộng, phía dưới là dàn âm thanh hiện đại.

Anh hơi ngỡ ngàng. Không phải vì choáng ngợp, mà vì có cảm tưởng như lạc vào một thế giới khác. Một đời sống khác.

Như Oanh trở xuống, áo dài màu ngà. Môi cười, mắt sáng.

Võ Bằng đứng lên trao món quà mang theo.

Nàng mở ngay: quyển Gone With The Wind và gói trà Đỗ Hữu. Nàng cười, nụ cười rạng rỡ:

– Em vừa xem phim Cuốn Theo Chiều Gió. Đang muốn đọc sách thì được tặng. Cả trà nữa… để đọc suốt đêm. Cám ơn anh.

– Thay vì cảm ơn, Như Oanh xem lại phim đó. Cho anh đi cùng.

Nàng nghiêng mặt, mỉm cười:

– Em muốn xem lại.

Nói xong, má nàng ửng hồng, giọng bẽn lẽn:

– Anh dùng bia hay cà phê?

– Tùy Như Oanh. Gì cũng thích.

Như Oanh vào bếp, cố ý pha chậm cà phê và trà. Nàng cần vài phút cho cảm xúc lắng xuống. Khi đặt ly cà phê trước mặt Võ Bằng, nàng mỉm cười:

– Hy vọng hương vị giống quán Sóng. Còn nước dừa… tạm thay bằng trà.

Võ Bằng nghe tim se lại. Tưởng nàng đã quên, không ngờ nàng nhớ đến từng chi tiết.

– Nhận được thư Như Oanh, anh mừng quá nên đến ngay.

– Chị em có nhắn gì không?

– Không. Anh không gặp chị. Từ vùng công tác đi thẳng về đây.

– Vậy sao anh nhận được thư?

Anh mỉm cười, đọc lại đúng câu chữ nàng viết:

Hy vọng lá thư này tìm đến anh, bất kể anh đang ở nơi nào, giữa biển khơi hay vùng đảo xa xôi.

Nàng làm bộ mặt giận:

– Chọc quê. Không nói chuyện nữa.

– Chị em chuyển tiếp thư qua khu bưu chính. Hai ngày trước, vừa cập cầu là anh nhận được. Muốn đến liền, nhưng còn bận vài việc quan trọng.

– Anh bận sao? Em tưởng về bến là anh được nghỉ ngơi.

– Anh cần giải quyết các “dư âm” của chuyến công tác. Nhất là thăm một sĩ quan và một anh lính bị thương. Hôm nay dành trọn cho em.

Như Oanh thè lưỡi:

– Có bị thương à? Nặng hay nhẹ? Hôm qua, em chỉ mới đọc bài tường trình chuyến hải hành từ An Thới đến Thổ Châu. Hôm nay báo mới đăng trận hải chiến… nhưng chưa có báo.

Võ Bằng uống vài ngụm cà phê, nghĩ tới lời hứa của Lan Như: khi đăng bài sẽ mang báo đến tặng. Anh tin là Lan Như có đến nhưng Hải Quân Công Xưởng không cho vào! Cũng mừng. Gặp chỉ gây phiền cho cả hai. Anh đặt ly xuống, đúng lúc Như Oanh cất giọng nhẹ êm nhưng lại như tiếng còi tàu báo động:

– Hôm qua… em gặp chị Lan Như.

Võ Bằng trân mắt nhìn nàng:

– Gặp Lan Như? Em biết cô ấy?

Nàng bình thản đáp:

– Bài tường thuật cho biết chị ấy đi trên tàu anh.

Võ Bằng thầm kêu khổ. Anh hiểu ngay sự nhạy cảm của khoảnh khắc. Cần tránh một lời không khéo gây hiểu lầm khó gỡ.

Như Oanh tiếp tục:

– Chị ấy dễ thương ghê.

Võ Bằng mỉm cười:

– Anh chỉ thấy cô ấy gan lỳ và chuyên nghiệp.

Nàng nhìn anh, giọng dịu dàng nhưng thẳng thắn:

– Chỉ vậy thôi?

Võ Bằng đáp chậm rãi:

– Anh quý trọng tài năng và tư cách của cô ấy. Điềm tĩnh, lịch lãm, và yêu nghề.

Như Oanh gật đầu:

– Em cũng cảm nhận như vậy.

Một khoảng lặng. Rồi nàng nói rất nhỏ:

– Em tìm chị ấy vì nôn nóng muốn biết tin tức về anh. Khi gặp, em lại muốn biết mình đang đứng ở đâu… trong lòng anh.

Võ Bằng mỉm cười, âu yếm nhìn nàng:

– Em đứng trong đời anh. Trọn đời.

Nàng không cười, chỉ cúi mặt. Khi ngẩng lên, khóe mắt long lanh:

– Khó tin quá. Có một câu vè em mới được nghe: tượng nào cao bằng tượng Trần Hưng Đạo, lính nào xạo bằng lính hải quân.

Võ Bằng vờ thở dài:

– Nhưng câu này không xạo: tưởng rằng mọi cảm xúc đã bế quan tỏa cảng, nào ngờ em đến như một trận cuồng phong.

Oanh nhìn anh, dịu giọng:

– Vậy câu vè là… xạo!

Võ Bằng nâng ly cà phê nhâm nhi. Một lúc, anh nói chậm:

– Em biết không, anh sợ nhất là khi gặp lại, em xem anh như người lạ.

– Em cũng sợ. Sợ anh… thiếu thành thật.

Võ Bằng mỉm cười:

– Từ nhỏ, thành thật đã là đức tính của anh.

Như Oanh lặng thinh. Anh nghiêm nét mặt:

– Để anh chứng tỏ. Trong những ngày xa em, biết anh ao ước điều gì không?

Như Oanh hồi hộp chờ. Anh tiếp:

– Rất thành thật, nghĩ sao nói vậy: ao ước được nắm tay em.

Lời nói như có sức mạnh kéo bàn tay nàng về phía anh. Anh ân cần nắm lấy bàn tay thon thả, mềm mại. Trong khoảnh khắc, mọi mệt nhọc tan biến. Nàng thấy ấm áp, an toàn.

Khi anh buông tay, nàng chợt băn khoăn: nếu anh đòi hỏi một chiếc hôn? Điều đó thì… lạm dụng thành thật. Nàng quyết sẽ từ chối…

Nhưng anh vẫn ngồi yên, mắt nhìn quanh phòng:

– Nhà em đẹp quá.

Như Oanh dè dặt:

– Không phải nhà của em. Em không ham nhà đẹp. Chỉ thích một nơi ấm cúng.

Võ Bằng lặng đi. Rồi nói chậm rãi:

– Anh từng nghĩ đến lập gia đình, nhưng cứ e ngại. Đời anh lấy biển làm nhà, Lúc ở, lúc đi. Chỉ khổ người chờ đợi.

Nàng nhìn sâu vào mắt anh:

– Đức Phật nói đời là bể khổ, trong đó có khổ vì thương mà phải xa. Nhưng bên nhau cũng đâu hẳn hạnh phúc, có khi lại căm ghét nhau như kẻ thù. Cho nên lúc đi, lúc ở… chỉ là lẽ vô thường.

Võ Bằng chăm chú nhìn nàng, tim đập mạnh. Nàng khuyến khích hay chỉ vô tình? Anh tin là khuyến khích nhưng vội vàng tỏ tình lại có thể là biểu lộ thiếu chân thành.

Ngoài cửa sổ, gió lay nhẹ hàng cây. Tiếng còi xe vọng đến mơ hồ, như thuộc về một thế giới khác.

Võ Bằng uống thêm ngụm cà phê. Anh thấy đời anh đi đi, về về. Đi thì lâu mà về thì quá ngắn. Thời gian không nhiều để chần chừ. Không thổ lộ bây giờ thì bao giờ! Anh nghiêm giọng:

– Hôm nay anh đến, như trong thư em nói, là để tiếp tục chuyện tình duyên hải cho đến hồi kết.

Nàng nghiêng mặt, mỉm cười:

– Cho dù kết cuộc có thế nào?

– Hy vọng một kết cuộc có hậu.

Nàng uống vài ngụm trà rồi nói chầm chậm:

– Em hiểu cuộc đời anh gắn liền với biển. Em không khuyên anh rời biển. Em chỉ mong… khi anh trở về, anh biết mình chỉ có một bến đỗ.

Võ Bằng hớn hở, định chính thức mở lời cầu hôn thì cánh cửa bật mở. Không khí ấm áp trong phòng như đóng băng lại.

Ba nàng bước vào trước. Dáng cao, gầy. Áo sơ mi trắng cài nút kín cổ. Gương mặt nghiêm nghị đến lạnh lùng. Mẹ nàng theo sau, dáng người phúc hậu, ánh mắt bình lặng.

Giọng ông vang vang:

– Có khách à?

Như Oanh và Võ Bằng cùng đứng lên. Nàng nhanh nhảu:

– Thưa ba, đây là anh Võ Bằng.

Võ Bằng cúi chào. Ông đưa mắt soi xét bộ đồ dân sự giản dị của anh, không đưa tay bắt:

– Mời Hạm trưởng ngồi.

Như Oanh nghe lạnh người.

Ông bà ngồi đối diện, cùng ngắm nghía Võ Bằng. Một lúc ông lên tiếng, giọng khô khốc:

– Cậu quê quán ở đâu?

– Dạ, Tân An.

– Long An?

– Thưa không. Tân An Châu Đốc.

– Ba má làm gì?

Võ Bằng nhìn thẳng, không né ánh mắt sắc bén của ông:

– Dạ, ba cháu làm công chức, còn má cháu buôn bán tạp hóa.

Căn phòng im phăng phắc, như thu hẹp lại. Mẹ nàng rót thêm trà:

– Bán tạp hóa thì vất vả mà thu nhập có được bao nhiêu.

Võ Bằng dè dặt đáp:

– Dạ.

Ba nàng tiếp tục hỏi:

– Cả thảy mấy anh chị em?

– Dạ, một anh, một chị, đều đã có gia đình.

– Còn cậu?

– Dạ chưa.

– Làm hạm trưởng thì thiếu gì cô để ý!

– Thưa bác, thực tế… ngược lại.

– Tôi có rể cũng hải quân. Cấp bậc cao hơn cậu.

– Dạ, cháu biết. Cao hơn nhiều.

Không khí không phải thăm hỏi. Đó là cuộc thẩm định. Anh mong kết quả tốt đẹp.

Ông nhấp trà, rồi đặt tách xuống tạo thành tiếng khua lớn:

– Tôi nêu sự việc có phần quá sớm nhưng sớm còn hơn muộn. Tôi giả sử cậu làm quen con gái tôi với ý định tốt. Nhưng…

Ông lại nâng tách trà nhấp vài hớp:

– Khi gả con gái đầu lòng cho hải quân, chúng tôi dứt khoát không muốn chuyện ấy tái diễn cho con gái út. Hải quân nay bến này mai bến nọ, muốn đi thăm là cả vấn đề. Lại thêm đời sống không được sung túc.

Võ Bằng cúi đầu, lặng thinh. Ông tiếp:

– Như Oanh lớn lên trong môi trường hoàn toàn khác với gia đình cậu.

Mẹ nàng tiếp lời, giọng nhỏ nhẹ:

– Không phải chúng tôi chê bai gì cậu. Chỉ sợ con mình… không quen với lối sống không thuộc về nó.

Như Oanh tái mặt, kêu khẽ:

– Mẹ…

Bà giơ tay ngăn lại:

– Thà mất lòng trước…

Như Oanh lại kêu lên tha thiết:

– Mẹ…

Bà làm lơ, quay sang Võ Bằng:

– Tôi nói vậy, chắc đủ để cậu hiểu.

Anh nhủ lòng giữ bình tĩnh. Nhưng trả lời thế nào đây?

Ba Như Oanh lạnh lùng tiếp:

– Tốt hơn hết, mọi chuyện nên dừng lại.

Như Oanh ngẩn ngơ quay sang Võ Bằng. Anh nhìn nàng, mỉm cười trấn an. Anh thấy nên rút lui như một thiện chí rồi tìm cách tiến tới. Anh đứng lên, giọng chững chạc, chậm rãi:

– Thưa hai bác, hôm nay cháu đến trong tư cách một người bạn mới quen Như Oanh. Cháu không nghĩ việc đó là thất lễ với hai bác.

Ông gật đầu:

– Cậu không sai. Và tôi cũng chỉ nói nên dừng lại, không có gì nặng lời.

Như Oanh đứng lên, giọng nghẹn lại:

– Ba mẹ sao nỡ…

Ba nàng nghiêm khắc chặn lời:

– Hiểu cho ba mẹ. Cậu ấy đàng hoàng, nhưng không phải là người đi cùng con suốt đời.

Như Oanh cắn môi:

– Nhưng đó là đời con, như đời của chị con.

Ông bỏ vào phòng đọc sách. Mẹ nàng ôm nàng:

– Chỉ vì ba mẹ thương con.

Nàng gỡ tay mẹ:

– Để con đưa anh Bằng ra cửa.

Mẹ nàng nhìn theo, lắc đầu thở dài.

Ngoài ngưỡng cửa, anh ngoái lại vẫy tay. Nàng nói rất khẽ trước khi khép cửa:

– Năm giờ chiều mai. Đợi em ở cổng trường.


Chương 32

Hồn Vẫn Mơ Hoài…

Đúng ba giờ, Võ Bằng rời tàu, gọi taxi, nói địa chỉ về căn nhà ở Phú Nhuận. Bầu trời Sài Gòn về chiều bớt oi ả. Bước xuống xe, ánh mắt anh chạm phải cảnh tượng quen thuộc mà mỗi lần trông thấy, lòng lại chùng xuống: những chậu hoa trên bao lơn đã héo khô, những cánh hồng nhung rũ xuống buồn thảm. Dù giữ giùm chìa khóa nhà, bà hàng xóm vẫn chỉ giữ nhà chứ không giữ hoa.

Anh gõ cửa nhà bà. Cửa mở, khuôn mặt nhăn nheo bỗng bừng sáng:
– Dữ hôn! Lần đầu mới thấy cậu về sớm thế này.
Bà đưa chìa khóa. Anh rối rít cảm ơn, rồi lấy từ xách tay một chai nước mắm Phú Quốc đặc biệt tặng làm quà. Bà cười, nếp nhăn quanh đuôi mắt tỏ vẻ hài lòng.

Anh mở cửa nhà mình. Hơi nóng hầm hập ùa ra nhưng không mang mùi ẩm mốc như những lần trước. Có lẽ nhờ anh vắng mặt không lâu. Mọi thứ vẫn y nguyên như ngày Tuyết ra đi năm năm trước. Từ chiếc gối tựa trên ghế sofa, đến những bức tranh cảnh biển Nha Trang trên vách. Tất cả im lìm như buồn phiền bị bỏ quên.

Anh lên lầu, nằm vật ra giường, để hơi thở xóa tan những ngày sóng gió. Một tiếng sau, anh bước vào phòng tắm, dòng nước mát lạnh xối lên người gột đi cơn uể oải thiếu ngủ. Anh lau người, đứng trước tủ quần áo. Anh chọn chiếc quần tây màu sô-cô-la và áo sơ mi kẻ xanh lạt mà anh đoán sẽ hợp với bộ đồ của Như Oanh hay ít nhất cũng đúng ý nàng: không chải chuốt, không cầu kỳ.

Anh đẩy chiếc Vespa ra đường. Chiếc xe cũ kỹ, mua lại từ người bạn từng cùng tàu, khó nhọc nổ máy sau vài lần đạp cần. Tiếng máy bình bịch vang lên trong con hẻm nhỏ. Anh hướng về trường Gia Long với một cảm giác bồi hồi khác lạ, như khi con tàu không định hướng tìm thấy hải đăng.

Anh đến đúng giờ, dựng xe bên kia đường, mắt dán vào cổng trường. Các áo dài trắng ùa ra như những cánh bướm, rồi bay xa. Đúng năm giờ mười lăm, bóng dáng Như Oanh xuất hiện. Nàng bước ra, ánh mắt tìm kiếm rồi bắt gặp anh. Một nụ cười nở trên môi, tươi như đóa hoa hồng. Nàng băng qua đường, dáng uyển chuyển trong tà áo dài màu thiên thanh.

Thấy nàng lúng túng, anh chỉ nàng cách ngồi:

– Em ngồi một bên, vòng tay qua ngực anh. Như vậy vững hơn.
Hơi ấm từ vòng tay e ấp của nàng lan qua lớp vải áo. Chiếc xe chao đảo nhẹ rồi từ từ tiến. Gió chiều lất phất tóc nàng.

Anh ngoái lại:

– Em muốn đi đâu?

Giọng nàng nhỏ nhẹ, gần như chìm vào tiếng ồn:

– Ra ngoại ô, đến một nơi nào đó yên tĩnh.

Anh gật đầu, hướng về phía Phú Lâm. Như Oanh khẽ tựa má vào lưng anh. Tiếng máy xe đều đều hòa với nhịp tim của nàng. Nàng nghĩ đến phim Roman Holiday. Nàng công chúa Audrey Hepburn trốn khỏi cung điện gặp chàng ký giả nghèo Gregory Peck. Chàng chở nàng trên chiếc Vespa chạy quanh phố, đi khiêu vũ… Mối tình của họ thật đẹp…

Ra đến quốc lộ 4, chiếc xe rẽ vào một con đường nhỏ, hai bên là những luống hoa đồng nội đủ sắc màu mùa đông: cúc vàng, trạng nguyên, hướng dương, hoa hồng… Bên kia đường là một khu vườn rau thơm xanh mướt: húng quế, tía tô, kinh giới, ngò gai. Một làn hương thơm mộc mạc, dịu nhẹ thoảng qua.

“Đồng Quê Quán” hiện ra như một bức tranh thủy mặc. Đó là một ngôi nhà rộng, sàn và vách bằng gỗ, bao quanh là một vành tròn toàn hoa sen trắng, hồng, chen nhau nở rộ.

Chủ quán, một người đàn ông trung niên phúc hậu, niềm nở dẫn họ tới chiếc bàn nhỏ sát lan can. Ánh nắng chiều chuyển sắc trên hồ sen: từ màu cam rực rỡ sang xanh biếc rồi tím nhạt. Quán đã khá đông khách, nhưng không khí vẫn tĩnh lặng. Chỉ có tiếng thì thầm trò chuyện và những giai điệu nhạc xưa êm ái vẳng đưa.

Vừa an vị, Như Oanh nhìn quanh rồi đưa mắt về phía anh, ánh mắt tò mò lấp lánh: – Anh chọn đúng chỗ em thích. Mà sao anh biết quán này?
– Đi ngang qua nhiều lần, trên đường về thăm ba mẹ anh.
– Em không đoán được quê anh ở đâu. Chỉ biết… giọng anh không phải người Trung, cũng không phải Bắc.

Võ Bằng khẽ cười:

– Em đoán đúng. Anh người miền Nam.

Nàng làm mặt bất bình:

– Vô duyên!

Anh cười:

– Quê Châu Đốc.

Nàng dịu dàng nói:

– Em nghe danh nhiều mà chưa từng đến. Ở trường, có vài giáo sư cũng quê Châu Đốc. Họ đều hiền… như anh.

Người bồi bàn mang bản thực đơn đến. Nàng cầm lấy rồi để lên bàn. Anh nói:

– Em chọn đi. Cho hợp khẩu vị.
Như Oanh cúi xuống, mái tóc dài đen mượt buông xuống, che một phần gò má trắng ngần. Nàng ngẩng lên, tia nhìn ấm áp:

– Không, anh chọn. Anh biết ở đây món nào ngon mà!

Câu nói nhẹ nhưng mang ý dò xét tinh tế. Võ Bằng cười thầm, lắc đầu:

– Anh cũng mới đến lần đầu.

Anh quay sang người bồi:

– Món gì trứ danh của quán?

– Dạ, nếu hai người dùng cơm gia đình, ở đây nổi tiếng canh chua cá lóc, cá kho tộ, tôm nướng, rau muống luộc chấm mắm nêm.

Như Oanh hào hứng xen vào:

– Canh chua cá lóc nấu với bông điên điển. Tôi mê món này.

– Dạ, xin cáo lỗi, bông điên điển vừa hết mùa. Canh chua với bạc hà, me và đậu bắp, ngon không thua.

– Ồ, tiếc quá. Thôi, cũng được.

– Quý khách dùng thức uống gì ạ?

Võ Bằng đáp:

– Một lon Budweiser, một ly nước dừa,

Khi người bồi đi khuất, một giai điệu quen thuộc vang lên. Như Oanh khẽ reo:

– Ôi! Bài hát này… Ca sĩ này… Chủ quán như đọc được ý thích của em.

Võ Bằng gật đầu, ánh mắt ấm áp:

Hương Xưa, Duy Trác. Anh cũng thích bài này.

Giọng nàng chợt trầm ấm:

– Em thích nhất hai câu này: “Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi. Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ.”

Nàng dừng lại, đổi giọng âu yếm:

– Mỗi lần nghe, em lại nghĩ… đến anh.

Họ cùng lặng im lắng nghe. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng nhạc như một nhịp cầu vô hình, kết nối hai tâm hồn cô đơn. Khi bản nhạc kết thúc, Như Oanh nhìn anh chăm chú. Khuôn mặt với những đường nét góc cạnh, không điển trai nhưng toát lên vẻ cương nghị, đáng tin cậy. Chiếc cằm vuông vức như nói lên tính cách kiên định. Trong giây phút ấy, anh mang dáng hình Đại tá Lương Đình Thám, người mà chị nàng từng kiên trì thương yêu bất chấp can ngăn của cha mẹ, và đã bên nhau năm năm hạnh phúc. Nàng bỗng muốn giơ tay lên, xoa gò má rám nắng của Võ Bằng, nhưng hai má chợt nóng bừng ngăn cản.

Thức uống được mang ra. Tiếng “xèo” nhẹ khi anh mở lon bia xóa tan bầu không khí ngập cảm xúc. Anh nhẹ giọng:

– Dạy học ra sao, em?

Nàng đáp, chút do dự:

– Êm xuôi. Nhưng em vẫn muốn xin chuyển đi nơi khác…

– Tại sao?

Nàng vừa lỡ lời, đôi mắt thoáng nét khó xử. Đâu cần phải kể việc Vinh chạy chọt giúp nàng dạy trường Gia Long. Nàng nhìn mặt trời còn nằm trên cánh đồng, nói một câu bất chợt hiện ra:

– Gió đồng nội thơm và mát quá. Nhờ có anh, em mới biết đến một nơi bình yên thế này. Lòng em thấy vô cùng thanh thản.

Võ Bằng cười nhẹ, nói đùa:

– Vậy là anh có chút công lao với em rồi.

Tiếng cười trong trẻo của nàng khẽ vang lên, như một làn suối mát chảy qua tâm hồn anh. Nàng bình thản hỏi:

– Vậy anh muốn em trả công thế nào?

Anh hỏi ngược lại, giọng trầm ấm:

– Em muốn trả thế nào?

Nàng không đáp, chỉ nghiêng đầu, ánh mắt đắm chìm vào mặt hồ sen, nơi những tia nắng cuối ngày đang đùa giỡn trên những chiếc lá. Ý nghĩ chợt lóe lên khiến tim nàng đập nhanh hơn: “Không lẽ lại nói thẳng ra rằng em muốn được làm vợ anh? Không… không thể. Tự anh phải biết”.

Võ Bằng xoay xoay lon bia trong tay, mắt vô tình nhìn lên những chai rượu đủ màu trên các kệ ở quầy. Hình ảnh quầy rượu “Hollywood Snackbar” ở đường Tự Do hiện về, với cô chủ quán người Việt tên Mỹ Linda. Rồi hình ảnh Tuyết, mối tình đầu, ùa đến. Năm năm rồi, nàng không một lần trở lại. Giờ chắc con đùm con đề nơi quê người…

Anh quay lại, say đắm ngắm khuôn mặt tuyệt vời của Như Oanh. Một cảm xúc ấm áp trào dâng. “Quá khứ đã là quá khứ. Hãy dành trọn tình cho Như Oanh”. Anh tự nhủ. Nàng đã can đảm vượt qua lệnh cấm của gia đình để đến với anh. Đó không phải là bồng bột. Đó là niềm tin nàng đặt vào anh.

Nàng cũng đang ngắm anh, nói nhỏ:

– Trông anh gầy hơn ngày em gặp.

– Còn em thì đẹp thêm nhiều.

Nàng cười, e thẹn:

– Đừng có nịnh!

Thức ăn được bưng ra, mang theo một hương thơm quyến rũ. Tô canh chua bốc khói nghi ngút, nước trong veo lộ rõ những miếng cá lóc trắng ngần, tô điểm với sắc đỏ của ớt, sắc xanh của đậu bắp và bạc hà. Đĩa cá kho tộ vàng ươm, thơm lừng.

Võ Bằng gắp cho nàng miếng cá ngon nhất. Như Oanh nếm thử, đôi mắt khép hờ, nở nụ cười hạnh phúc. Nàng nhận xét, giọng đầy thích thú:

– Vị ngọt thanh từ nước dừa, vị mặn đậm đà từ nước mắm, thơm nồng từ tiêu và tỏi. Tất cả hòa quyện thật hoàn hảo.

Họ ăn trong im lặng một lúc, hương vị món ăn như xóa tan mọi khoảng cách. Rồi câu chuyện tự nhiên quay về chủ đề chính của cuộc gặp này.

Như Oanh lên tiếng, giọng trầm xuống:

– Anh biết không, đêm qua em buồn quá, thức trắng. Em nhớ lại bộ phim A Time to Love and a Time to Die xem mấy tháng trước. Câu chuyện tình lãng mạn mà kết thúc buồn đến nao lòng. Anh có xem phim đó không?
– Có xem thời còn đi học, chỉ thấy buồn, chứ không muốn khóc. Bây giờ, sau bao trận chiến, nghĩ lại, thời chiến mà. Khoác áo lính là chấp nhận cái chết…

Nàng cắt ngang, giọng nghẹn ngào:

– Nhưng… người ở lại thì sao?

Anh cười buồn:

– Lấy chồng lính, đồng nghĩa với chấp nhận.

Nàng ngập ngừng:

– Nếu… nếu em chấp nhận số phận ấy, cùng anh…

Võ Bằng đặt đũa xuống, nhai chậm miếng cơm cuối cùng. Uống nửa lon bia, anh nói chậm rãi, nghiêm túc:

– Đêm qua, anh cũng thao thức gần như suốt đêm. Vấn đề quan trọng không phải từ anh, mà từ em. Em phải xét thật kỹ lòng mình.

Nàng nói, giọng kiên định:

– Em đã xét kỹ rồi. Em yêu anh.

Nàng cúi mặt, đổi giọng băn khoăn:

– Chỉ còn một điều thắc mắc. Anh… Anh thật sự chưa … có vợ?

Anh lắc đầu:
– Nói chưa, em cũng khó lòng tin. Anh sẽ chứng minh bằng thực tế. Khi nào ba mẹ em đồng ý, anh sẽ đưa em thăm ba mẹ nuôi của anh ở Sài Gòn, rồi về Châu Đốc ra mắt ba mẹ ruột.

Như Oanh thở dài, vẻ lo lắng hiện rõ:

– Thật sự, em không biết làm thế nào cho ba mẹ em bằng lòng. Hồi đó, chị em cũng trầy da tróc vẩy…

– Thì cứ làm giống như chị em.

Nàng lắc đầu, vẻ bất lực:

– Hồi đó chị em dọa tự tử. Nhưng chị là tình đầu. Còn em, em đã từng bốn năm với Vinh. Dọa tự tử thì chắc cũng chỉ nhận được câu nói: cho đáng đời!

Chàng suy tư rồi gợi ý:

– Theo anh nhận xét, ba em nghiêm khắc, nhưng mẹ em thì tình cảm hơn. Thử cách này xem sao. Em vẫn giữ lễ phép như mọi ngày, nhưng tỏ ra buồn rầu, đôi khi bỏ ăn, ít nói và xa lánh. Cần nhất, chỉ trả lời khi được hỏi. Anh tin, trong vòng một hai tuần, mẹ em chắc chắn sẽ để ý và hỏi han, an ủi em. Lúc đó, em hãy khóc. Hãy năn nỉ, giải bày với mẹ. Chắc chắn là mẹ sẽ mủi lòng, sẽ năn nỉ ba em…

Nàng mỉm cười, gật đầu:

– Anh nói như chuyên gia tư vấn tình cảm. Cách đó… hay đấy. Để em thử.

Ngẫm nghĩ một lúc, nàng lại nói:

– Nhưng nếu… ba mẹ đều phớt lờ… thì sao?

– Thì em cứ tiếp tục… thi gan.

Nàng buồn bã lắc đầu:

– Anh biết không, sau khi nhượng bộ cho chị em lấy hải quân, ông hay than phiền với mẹ: “Tôi đã bảo bà, gả cho hải quân là nó đi biền biệt”. Chắc chắn ông sẽ… rút kinh nghiệm.

Giọng anh trầm xuống:

– Thật ra, anh bày kế mà cũng không tin ăn chắc. Chỉ biết một điều: nếu không thử, thì càng ăn chắc mất em!

Giọng nàng như muốn khóc:

– Mà thử cho đến bao giờ?

– Hãy đặt niềm tin vào thành công. Dù sóng gió thế nào, chúng ta sẽ cùng vượt qua.

Nàng buồn rầu:

– Chẳng lẽ như chị em, kiên trì tranh đấu đến hai năm?

Giọng anh quyết đoán:

– Không. Phải gấp rút. Anh cũng đã hai mươi bảy, già rồi. Cho nên thời hạn thử tối đa là một tháng. Sau một tháng, anh sẽ trực tiếp đến gặp ba mẹ em. Anh sẽ ca bài… con cá sống nhờ nước!

Như Oanh bật cười, khuôn mặt bừng sáng:

– Nghe được đấy!

– Trong khi chờ đợi, chiều chiều mình ra quán này ăn cơm.

Nàng cười, cắt ngang:

– Không được đâu. Ba mẹ sẽ… giết em!

Anh nắm tay nàng, khích lệ:

– Em lớn rồi, đã là giáo sư rồi, không còn là công chúa nhỏ bị nhốt trong tháp ngà. Hãy cho ba mẹ thấy em cần có cuộc sống độc lập. Và tập cho ông bà quen dần với việc… ít thấy em ở nhà.

Nàng bất chợt nhìn đồng hồ, giật mình:

– Trời, trễ quá rồi! Đã tám giờ. Em phải về gấp.

Thấy nàng hốt hoảng, anh biết là khó rứt nàng ra khỏi nỗi sợ quen thuộc. Phải cần thời gian:

– Ừ, thì về. Nhưng ngày mai, mấy giờ gặp?

– Đúng sau một tuần. Tức năm giờ chiều thứ hai tuần tới, trước cổng trường.

Anh kêu khẽ, giọng đau khổ:

– Một tuần? Anh sẽ chết vì nhớ em.

– Không nên chọc ba giận. Hơn nữa, em cũng không muốn nói dối mãi. Như hôm nay, em phải nói là đi chơi phố với Ngọc Lan.

Anh cố vớt vát:

– Vậy thì… chiều mốt?

– Không. Cần nhũn nhặn để ba em… cảm thông.

Họ cùng cười, tiếng cười xóa tan chút căng thẳng. Anh gọi tính tiền, rồi hai người rời quán trong ánh đèn vàng hắt ra từ những chiếc đèn lồng màu.

Trên đường về, Như Oanh miên man nghĩ đến kế hoạch của Võ Bằng. Ít nhất nó chứng minh được tình yêu anh dành cho nàng. Không chỉ là lời nói, mà bằng hành động cụ thể và ý thức trách nhiệm. Nàng tin, rốt cuộc mình sẽ được hạnh phúc như chị.

Võ Bằng dừng xe ngay trước nhà.  Nàng xuống xe, bóp nhẹ cánh tay anh, rồi bước nhanh trên lối đi, băng qua chiếc Renault, lên các bậc tam cấp. Khi đứng trên thềm nhà, nàng quay lại. Anh còn đứng đó nhìn theo. Nàng vẫy tay, nghe lòng bình yên. Nàng đã tìm được người như ý và một kế hoạch khả thi.

Võ Bằng ngồi lên xe, rồ ga. Chiếc Vespa vọt đi, mang theo một niềm vui sâu đậm. Sau nhiều năm, anh biết mình đang yêu và được yêu…


Chương 33

Thách cưới

Một tuần sau ngày yêu cầu Võ Bằng chấm dứt liên lạc với Như Oanh, ông bà Huỳnh Quang Đạo bắt đầu thấy căn biệt thự chìm vào bầu không khí lạnh lẽo. Như Oanh vẫn đều đặn đến trường dạy học nhưng khi về đến nhà nàng ẩn mình trong phòng riêng. Nụ cười tươi tắn thường ngày biến mất, thay vào đó là vẻ mặt trầm tư, u buồn.

Nàng vẫn chào hỏi lễ phép, ăn cơm chung nhưng không còn quẩn quanh trong bếp cùng mẹ như trước. Nàng gần như câm nín, không còn ríu rít kể về bạn bè, về lớp học, về những bài văn hay của học trò. Sự vắng bóng của những âm thanh ấy khiến phòng ăn rộng thêm ra, lạnh thêm đi.

Có hôm lại bỏ cơm, cáo lỗi rằng mệt. Như hôm nay, bà Đạo mang cháo lên tận phòng, thấy con gái nằm co quắp quay mặt vào tường. Bà ngồi xuống giường, đặt tay nhẹ lên vai con:

– Con ăn chút đi, kẻo hại sức.

Như Oanh chỉ lắc đầu, giọng khàn đặc:

– Con không đói, mẹ ạ. Cảm ơn mẹ.

Hai ông bà quen hình ảnh cô con gái như điểm sáng lung linh, như niềm vui bất tận trong ngôi nhà, nhất là sau khi chị nàng lấy chồng. Sự vắng lặng này khiến ông khó chịu, như một bản nhạc ưa thích bỗng tắt đi giai điệu nhịp nhàng. Tất nhiên hai ông bà đều để ý và biết lý do thay đổi thái độ của con gái. Nhưng đều tin thời gian sẽ làm nàng nguôi ngoai.

Một tuần nữa trôi qua. Căn biệt thự trở nên lạnh lẽo hơn khi vắng đi tiếng đàn piano nàng thường chơi mỗi chiều, vắng đi mùi bánh ngọt thơm lừng mỗi khi nàng trổ tài làm bánh. Sự im lặng của Như Oanh như trở thành lời than thở, trách móc. Nó như dòng nước chảy âm ỉ đủ làm xói mòn niềm tin của ông bà.

Một buổi tối, thấy con ngồi đọc sách ở salon, ông bà ngồi xuống bên nàng. Bà cất giọng có phần gượng gạo:

– Dạo này con có chuyện gì buồn ở trường mà trông ủ rũ quá vậy?

Nàng im lặng thật lâu. Rồi nước mắt trào ra, không kìm được. Nàng không thốt lên tiếng nức nở, chỉ khóc trong im lặng, nhưng chính sự im lặng ấy lại càng làm cho ông bà thấy nỗi khổ đau tột cùng của con.

Giọng nàng run rẩy:

– Con… con không thiết sống nữa.

Bà giật mình kéo con vào lòng, vuốt tóc, giọng âu yếm:

– Con đừng nói vậy. Nhưng con ạ, đời người dài lắm, đừng vì một chút tình cảm nhất thời mà…

Nàng òa khóc, nức nở, bật tiếng:

– Không phải nhất thời!

Bà ôm siết con, vỗ về:

– Ba con không có ác ý. Ông ấy chỉ lo lắng cho tương lai của con thôi.

Ông Đạo nhìn cảnh tượng ấy, khuôn mặt lạnh lùng của ông dịu đi. Ông đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, nhìn ra màn đêm Sài Gòn với những ánh đèn vàng. Trong lòng ông, một cuộc chiến âm thầm diễn ra. Hình ảnh đứa con gái đầu lòng, hình ảnh người con rể đại tá, hình ảnh chàng đại úy Hải quân, hình ảnh đứa con út cưng chiều… Tất cả ẩn hiện, lúc tỏ lúc mờ.

Ông quay lại, giọng trầm hẳn xuống, nhưng vẫn giữ vẻ uy nghiêm:

– Như Oanh, ba luôn muốn điều tốt nhất cho con. Có lẽ… có lẽ lần này ba đã sai. Có lẽ ba mẹ quá ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình mà quên mất con thực sự muốn gì.

Như Oanh ngẩng mặt lên, đôi mắt đẫm nước mắt mở to, tia hy vọng mong manh lóe như ánh lửa tàn. Tim nàng đập thình thịch. Phải chăng bức tường thành kiên cố đang rạn nứt?

Ông Đạo thở một hơi dài, như buông bỏ một gánh nặng:

– Theo ba mẹ biết, con đem lòng thương yêu Võ Bằng chỉ sau gặp gỡ vài lần. Mẹ con nói đúng: tình cảm nhất thời. Ba mẹ gặp Võ Bằng còn ít hơn. Hãy cho ba mẹ thêm thời gian tìm hiểu thằng rể tương lai. Nếu xét thấy nó xứng đáng, ba mẹ không còn cấm cản.

Như Oanh chăm chăm nhìn ông, không hy vọng có tia sáng cuối đường hầm. Nàng nhớ chị nàng đã phải làm mình làm mẩy cả năm trời, rồi phải qua cả năm cho ông bà tìm hiểu. Sao bỗng dưng với nàng ông đổi ý nhanh quá! Nàng còn băn khoăn thì ông tiếp:

– Con hãy mời Võ Bằng đến nhà cho ba mẹ hỏi chuyện.

Bốn từ “mời Võ Bằng đến nhà” vang lên trong căn phòng yên tĩnh, như đoạn mở đầu êm ái của bản nhạc tình. Niềm vui bất ngờ khiến giọng nàng nghẹn ngào:

– Con cảm ơn ba mẹ.

***

Cùng thời gian đó, Võ Bằng cũng trải qua những ngày dài bồn chồn, lo lắng, dù công việc cần làm cũng đã chiếm nhiều thì giờ. Anh xin phép nghỉ vài ngày về thăm ba mẹ nuôi và ba mẹ ruột. Món quà anh mang về – hai chai rượu XO cho hai ba, hai chai nước mắm Phú Quốc cho hai mẹ được hân hoan tiếp nhận. Rồi tiếp theo là những nụ cười rạng rỡ khi nghe tin anh được thăng chức hạm trưởng, Nhưng sau những lời chúc mừng, là những câu hỏi khiến anh day dứt:

– Bao giờ thì có cháu bồng hả con? Làm hạm trưởng rồi, phải lo lập gia đình đi chứ?

Mỗi lần nghe là mỗi lần nhớ Như Oanh da diết. Rồi nhớ đến gương mặt buồn bã của nàng trong lần gặp cuối, đến vở kịch nàng đang đóng vai chính. Liệu nó có đủ sức thuyết phục ba mẹ nàng hay không? Nỗi lo ấy cứ bám riết lấy anh, ngay cả trong giấc ngủ.

Khi trở về Sài Gòn, việc chiến hạm vào nằm ụ sửa chữa không đòi hỏi hạm trưởng thường xuyên hiện diện khiến Võ Bằng thấy ngày càng dài hơn.

Rồi cũng đến chiều thứ bảy. Gặp Như Oanh, anh vừa mừng vừa lo. Nàng báo tin ba mẹ nàng cần gặp anh gấp. Kế hoạch của anh đã có kết quả nhưng không rõ sẽ về đâu! Nhưng triệu hồi đến gặp, đồng nghĩa nhiều hy vọng.

Chín giờ sáng chủ nhật, Như Oanh là người mở cửa khi anh nhận chuông. Chiếc áo dài màu tím càng tô thêm vẻ u buồn trên gương mặt nàng. Nàng thoáng ngạc nhiên lần đầu thấy Võ Bằng trong bộ quân phục.

Thật ra, anh đã định mặc thường phục, nhưng nghĩ lại, mặc quân phục trông tề chỉnh hơn, tỏ rõ một Võ Bằng trọn vẹn hơn. Đây là con người thật của anh – một sĩ quan Hải quân. Tuy nhiên khi nhớ đến khuôn mặt sắt lạnh của ông Đạo, tim anh đập mạnh. Đối diện với ông như đối diện một cuộc chiến. Nhưng là một cuộc chiến không dùng súng đạn mà dùng lời lẽ để giành lấy hạnh phúc. Đó là trận địa anh chưa từng trải qua…

Sau khi nhận bó hoa hồng, nàng đưa anh đến bộ salon nơi ba mẹ nàng chờ sẵn.

Khi anh cúi chào, bà Đạo tỏ vui tươi nhưng ông Đạo vẫn vẻ mặt lạnh lùng buông lời khách sáo:

– Mời đại úy hạm trưởng ngồi.

Anh ngồi xuống chiếc ghế đơn, gần đó là Như Oanh. Tim nàng đập loạn nhịp như đánh lô tô. Ông Đạo nhìn thẳng vào bộ quân phục, giọng điềm tĩnh:

– Trông cậu khác hẳn lần trước. Bộ quân phục gợi tôi nhớ đến thằng rể đại tá…

Câu nói như một quả đạn pháo đầu tiên bắn thăm dò. Võ Bằng cảm nhận rõ ý đồ so sánh và hạ thấp. Anh giữ vững tư thế, đáp lại bằng giọng điềm tĩnh và tôn trọng:

– Thưa bác, Đại tá Thám là bậc đàn anh đáng kính, trước cháu sáu khóa.

Bà Đạo lên tiếng, giọng dịu dàng:

– Dù là cấp bậc cao, nhưng công việc vẫn là đối mặt với biển cả mênh mông, sóng gió bất trắc. Là cha mẹ, ngày nào chúng tôi cũng không khỏi lo lắng…

Võ Bằng gật đầu, lấy thế chủ động:

– Thưa hai bác, cháu xin thất lễ để trình bày thẳng thắn suy nghĩ của cháu. Người ta thường nói sống chết có số. Sự an nguy của một người không hoàn toàn phụ thuộc vào nghề nghiệp. Ở đâu cũng có những cái chết bất ngờ. Trong thành phố vẫn có những tai nạn, dịch bệnh… Cháu quan niệm: điều quan trọng không phải là tránh né mọi hiểm nguy, mà là sống thật trọn vẹn với lựa chọn của mình.

Anh hít một hơi thật sâu, hướng sang Như Oanh. Nàng đang nhìn anh chăm chú, đôi mắt như nguyện cầu. Sức mạnh từ ánh mắt ấy truyền sang anh. Không thể chần chừ thêm nữa. Anh quay lại, nhìn thẳng vào mắt ông Đạo, giọng nói trang trọng, chậm rãi và đầy xúc động:

– Thưa hai bác, cháu hiểu hôm nay có thể vẫn còn quá sớm. Nhưng thời gian của một người lính biển chúng cháu thường không được dài và đầy đủ. Cháu đã suy xét rất kỹ lòng mình. Tình cảm cháu dành cho Như Oanh là chân thật và nồng đậm. Vì vậy, cháu mạn phép được trân trọng ngỏ lời: xin hai bác cho phép cháu được cưới Như Oanh. Lấy tư cách một sĩ quan Hải quân, cháu hứa sẽ chăm sóc, bảo vệ và thương yêu Như Oanh suốt đời.

Một khoảng lặng nặng nề bao trùm căn phòng. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc trên tường bỗng trở nên vang dội. Ông Đạo không ngờ chàng trai trẻ lại trực ngôn và dũng cảm đến vậy. Gặp lần đầu, bị đuổi khỏi nhà. Gặp lần hai, lại đặt thẳng vấn đề hôn nhân, điều mà ngay cả người con rể đại tá trước kia cũng phải qua hai năm mới dám đề cập.

Ông Đạo nghiêm mặt lại, giọng lạnh như tiền:

– Cậu có phần bộp chộp. Chúng tôi hầu như chưa biết cậu là ai, và cậu cũng chưa thể hiểu cuộc sống của con gái chúng tôi. Nhưng cậu đã nói thẳng, tôi cũng nói thẳng.

Ông ngừng lại, như cố tình để Võ Bằng thấm thía lời ông:

– Như Oanh được nuôi dưỡng để trở thành một quý cô, có một cuộc sống an bình, đầy đủ và thanh lịch.

Võ Bằng cảm thấy máu dồn lên mặt, nhưng cố kìm nén, giữ giọng điệu lễ độ:

– Thưa bác, chúng cháu thương yêu nhau, không quan tâm giàu nghèo, sang hèn. Người xưa có câu: yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua. Cháu quan niệm, hạnh phúc thật sự không nằm ở biệt thự rộng hay trương mục dày, mà nằm ở sự chân thành, thấu hiểu và gắn bó giữa hai tâm hồn.

Ông Đạo lắc đầu, vẻ khó chịu lộ rõ:

– Sự lãng mạn ấy chỉ dành cho tuổi trẻ chưa va chạm cuộc đời. Đại úy phải hiểu: Hôn nhân không chỉ là hai người, mà là dựng xây một gia đình. Phải nghĩ đến con cái, đến tương lai của chúng. Đứa trẻ sẽ lớn lên ra sao khi người cha thường xuyên vắng nhà, thậm chí… có ngày không trở về?

Giọng ông chùng xuống:

– Chúng tôi có hai đứa con gái. Một đứa đã lấy chồng lính. Tôi nghĩ thế là đủ. Đứa thứ hai phải được sống một cuộc đời bình yên, được hưởng những gì nó xứng đáng.

Võ Bằng cảm thấy mồ hôi lạnh thấm trên sống lưng. Những lý lẽ của ông Đạo quá thực tế, đánh trúng vào những điểm yếu lớn nhất của anh. Anh nắm chặt hai bàn tay như để nâng cao tinh thần. Anh từ tốn nói:

– Thưa hai bác, cháu biết mình không có địa vị cao và một tài sản lớn. Nhưng cháu có nghị lực xây dựng cuộc sống tốt đẹp. Và cháu biết chắc Như Oanh cũng mang nghị lực mạnh mẽ của hai bác…

Ông nhìn con gái nước mắt rưng rưng ngồi bất động. Ông dịu giọng, lời nhẹ nhàng hơn:

– Như Oanh là con cưng của chúng tôi. Nó mỏng manh như cánh hoa. Tôi không tin nó có thể chịu đựng được sự nhọc nhằn khi một mình chăm lo cho con cái cũng như gánh vác gia đình trong những tháng ngày dài cậu không có nhà.

Như Oanh đứng bật dậy, đôi mắt đỏ hoe, giọng cương quyết:

– Thưa ba mẹ, con có thể! Con đã nghĩ rất nhiều về tương lai, về những khó khăn. Con biết là con vượt qua được hết. Cũng như chị con đã vượt qua được hết. Chính cuộc sống của con thiếu anh ấy mới không thể chịu đựng.

Nước mắt nàng tuôn trào. Bà Đạo vội kéo con gái ngồi xuống, ôm vào lòng. Lòng bà cũng rối bời.

Ông Đạo nhìn con gái khóc, nhìn vợ đau lòng, và nhìn chàng trai trẻ đang ngồi thẳng lưng dù bị dồn vào thế khó. Ông công nhận anh ăn nói khảng khái, quyết đoán. Anh không hề nao núng, không hề xin xỏ, đầy bản lĩnh. Nhưng tất cả vẫn chưa đủ.

Ông thong thả nói, như một người thầy giảng giải:

– Bao giờ bậc mẹ cha cũng muốn điều tốt đẹp nhất cho con mình. Chừng nào cậu có con, cậu mới hiểu hết được lòng cha mẹ. Không có gì vui hơn thấy con mình có cuộc sống sang giàu.

Võ Bằng hơi cúi đầu, tỏ sự tôn trọng tình phụ tử, nhưng giọng nói vẫn vững vàng:

– Thưa bác, cháu tin rằng điều tốt đẹp nhất của đời người, chính là được sống trọn vẹn với người mình yêu.

Ông Đạo nhếch môi, một nụ cười lạt:

– Đó chỉ là sáo ngữ. Tình cảm ban đầu có thể nồng nàn, nhưng ai dám đảm bảo nó sẽ không phai nhạt theo năm tháng? Cậu có dám đoan chắc rằng, mười năm, hai mươi năm nữa, cậu vẫn yêu con gái tôi như bây giờ? Và con bé có chắc sẽ không hối hận vì đã chọn cuộc sống bấp bênh với cậu?

Những câu hỏi như búa tạ giáng xuống. Võ Bằng biết mình không thể đưa ra lời thề suông. Như Oanh không im tiếng được nữa, nàng kêu khẽ:

– Ba. Con xin ba….

Cuộc đối thoại đi vào bế tắc. Ông Đạo nhận ra, dùng lý lẽ thuần túy khó có thể khuất phục được ý chí sắt đá của hai trái tim trẻ. Ông thấy không còn cách nào hơn là dùng đến phương thức cuối cùng ông nghĩ đến tuần rồi: vừa có thể khiến Võ Bằng tự rút lui, và quan trọng nhất, không để con gái oán hận mình.

Ông từ từ đặt tách trà xuống, hai tay chắp lại đặt lên đùi, tư thế của một vị thẩm phán sắp tuyên án. Giọng ông đột ngột trở nên ôn hòa:

– Được rồi. Vì tình yêu tha thiết của con gái tôi dành cho cậu, và vì sự chân thành mà tôi nhìn thấy ở cậu hôm nay… tôi đồng ý cho hai đứa kết hôn.

Mọi người sửng sốt, ngỡ ngàng. Như Oanh nín thở, mắt mở to không tin. Bà Đạo nhìn chồng đầy nghi hoặc. Ngay cả Võ Bằng cũng cảm thấy tim mình đập sai nhịp. Nhưng bản năng của người lính mách bảo anh, đằng sau sự thuận tình đột ngột ấy, ắt phải kèm điều kiện.

Và quả thực, ông Đạo mỉm cười, một nụ cười đầy thách thức:

– Tuy nhiên, Như Oanh là con cưng của chúng tôi. Chúng tôi muốn đám cưới của nó phải thật đặc biệt, xứng tầm và… linh đình hơn cả đám cưới của chị nó.

Ánh mắt ông chuyển sang Võ Bằng, sắc lạnh trở lại:

– Vì vậy, tôi đặt ra ba điều kiện. Thứ nhất: Buổi sáng, phải có một lễ cưới đầy đủ theo gia lễ truyền thống, tổ chức tại tư gia của chúng tôi ở Sài Gòn này.

Điều này hợp lý và trong tầm với. Võ Bằng gật đầu:

– Xin bác điều thứ hai.

– Thứ hai: Buổi tối, phải có một tiệc cưới theo nghi thức hải quân, tổ chức tại Câu Lạc Bộ Hải Quân, để chứng tỏ danh phận và chức vụ của chú rể.

Võ Bằng không thấy khó khăn. Một năm ở Trung tâm Hành quân, anh có dịp quen biết các nơi liên hệ, sẽ nhờ giúp nghi thức lễ cưới và ban nhạc. Chàng đáp:

– Thưa bác, cháu sẽ chuẩn bị kỹ lưỡng theo đúng nghi thức.

Ông Đạo hít sâu, giọng nói nặng trịch:

– Và điều kiện cuối cùng: Buổi tiệc cưới Hải Quân đó… phải được chính Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân đích thân chủ hôn.

Điều kiện cuối cùng vừa buông ra như một quả bom nổ. Không khí trong phòng đông cứng lại. Tâm não Võ Bằng cũng đông cứng. Anh hiểu ý đồ của ông Đạo. Đời nào anh mời được vị tư lệnh Hải quân, một nhân vật cấp tướng, đứng ra chủ hôn cho đám cưới của một sĩ quan trung cấp, dù là hạm trưởng. Đó là chuyện gần như không tưởng. Đây không còn là điều kiện nữa, mà là một thách thức bất khả thi, một cách từ chối khéo léo và tàn nhẫn.

Như Oanh mặt trắng bệch, nàng hiểu ngay ba mình đang làm gì. Nàng muốn kêu lên, nhưng cổ họng nghẹn đắng. Nàng nhìn sang Võ Bằng, trong mắt là nỗi tuyệt vọng và áy náy.

Võ Bằng ngồi đó, đầu óc trống rỗng trong giây lát. Sáu tiếng “Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân” vang vọng trong tai anh. Anh càng biết rõ hơn, cấp trên trực tiếp của anh là Chỉ huy trưởng Hải Đội, cao hơn là Tư Lệnh Hạm Đội, rồi mới đến Tư Lệnh Hải Quân. Khoảng cách giữa anh và vị Tư lệnh ấy là một hố sâu về cấp bậc và địa vị. Mời được ông Tư lệnh Hạm Đội đã khó, làm sao chạm tới Tư lệnh Hải Quân. Lại còn đòi hỏi phải đứng chủ hôn? Rõ ràng một nhiệm vụ bất khả thi.

Anh ngẩng lên. Đôi mắt đẫm lệ đầy lo lắng của Như Oanh. Ánh nhìn thách thức và chờ đợi sự đầu hàng của ông Đạo. Một làn sóng quyết tâm cuồn cuộn trong lòng anh. Không. Không được lùi bước. Đây là cửa ải cuối cùng dẫn đến Như Oanh, dù chỉ có một phần vạn cơ hội, cũng phải thử.

Võ Bằng từ từ đứng dậy. Bộ quân phục xanh trên người anh như đại dương tỏa ra hào quang của hy vọng. Anh đứng thẳng, vai ngang, tư thế của một biệt kích sẵn sàng nhận nhiệm vụ bất khả thi. Giọng anh trầm ấm, chậm rãi, rõ ràng từng chữ, vang lên trong căn phòng tĩnh lặng:

– Thưa hai bác, hai bác đã đưa ra một thách thức… nằm ngoài tầm với của một sĩ quan trung cấp như cháu. Nhưng nhờ khích lệ được hai bác cho phép cưới Như Oanh, cháu không còn chọn lựa nào khác hơn là… liều mạng xin gặp Tư lệnh.

Lời nói của Võ Bằng như một tiếng sét giữa trời quang. Ông Đạo hoàn toàn kinh ngạc. Ông đã dự tính là anh sẽ bối rối, sẽ từ chối, hoặc ít nhất là van xin bỏ điều kiện cuối cùng. Nhưng không, chàng trai này lại mạnh dạn chấp nhận thử thách. Trong giây phút, ông không khỏi dấy lên một cảm giác e ngại. Ông ngờ rằng ông đã đánh giá thấp chàng trai này. Không chừng… chính ông đang tự đào hố cho mình.

Như Oanh nhìn Võ Bằng, nước mắt lại ứa ra, nhưng lần này là vì cảm động và tự hào. Trái tim nàng tràn ngập một niềm tin mới. Niềm tin chắc chắn được mãi mãi bên anh.

Ông Đạo đành nói buông xuôi:

– Chúc cậu thành công.

Võ Bằng nghiêm trang cúi chào ông bà Đạo. Rồi anh nhìn sang Như Oanh, mỉm cười. Một nụ cười đầy an ủi và hứa hẹn. Anh quay người, bước những bước chậm rãi rời phòng khách.

Như Oanh đứng dậy, tiễn anh ra cổng. Dưới tán cây phượng, họ đứng đối diện nhau. Anh nắm lấy đôi bàn tay lạnh ngắt của nàng:

– Con đường tương lai của chúng ta đã hé mở. Anh hy vọng không bao lâu, chúng mình cùng bước vào.

Nàng siết chặt tay anh, trái tim không còn mang nỗi tuyệt vọng. Họ âu yếm nhìn nhau, ánh mắt trao nhau tất cả niềm tin và sức mạnh.


Chương 34

Vượt qua sóng gió

Đêm qua, Võ Bằng trằn trọc. Điều kiện của ông Huỳnh Quang Đạo không chỉ là một lời thách cưới. Nó như một cơn cuồng phong ập xuống, quật ngã tất cả những dự định anh đã âm thầm xây dựng. Ánh mắt nghi ngờ của ông, giọng nói lạnh và tỉnh, nụ cười buồn của Như Oanh… cứ xoay vòng trong tâm trí anh như những đợt sóng không dứt.

Phải gặp ngay Tư lệnh, không thể chần chừ. Được hay không dứt khoát sớm cho khỏe.

Anh mở tủ, chọn bộ quân phục đẹp nhất, đôi giày đen bóng lộn. Anh gắn cặp lon vào cầu vai; bảng tên, hàng huy chương, huy hiệu hạm trưởng được đặt trên hai túi áo.

Anh ngắm nghía mình trong gương và thấy hài lòng. Tư lệnh rất để ý đến quân phục các cấp, cần gây cảm tình ngay phút đầu. Anh chậm rãi vuốt lại từng nếp gấp trên quân phục, ngắm mình trong gương. Gương mặt hơi căng cứng, đôi mắt thoáng chút bất an. Anh hít một hơi thật sâu, tự nhủ: “Bình tĩnh, Võ Bằng, còn nước còn tát.”

***

Tòa nhà Bộ Tư lệnh Hải Quân cao sáu tầng, lúc nào cũng mang vẻ nguy nghi. Cổng có bảng màu nước biển mang hai mỏ neo gác chéo nằm trên hàng chữ lớn “Trại Bạch Đằng” cùng màu trắng. Anh từng phục vụ ở đây một năm, mới xa một tháng mà khi trở lại, vẫn cảm thấy lòng se thắt.

Mới tháng trước, Tư lệnh gọi anh đến giao nhiệm vụ. Lần này anh tự đến xin đặc ân.

Phòng chờ yên tĩnh. Một Trung úy tùy viên đứng lên chào hỏi:

– Đại úy có hẹn trước?

– Không, tôi cần gặp Tư lệnh có việc riêng, bất ngờ.

Trung úy tùy viên nhấc điện thoại. Sau vài phút trao đổi qua máy, người tùy viên nói:

– Đại úy lên lầu gặp Trung tá Chánh văn phòng.

Vẫn khuôn mặt gặp lần trước, vẫn ánh mắt thân thiện sau cặp kính, vẫn chiếc bàn đầy hồ sơ. Võ Bằng chào kính:

– Thưa Trung tá, tôi xin được gặp Tư lệnh.

Ông đứng dậy, gõ cửa. Vào trong ít phút rồi trở ra:

– Tư lệnh thuận tiếp.

Võ Bằng bước vào, chào đúng quân cách. Đô đốc ngồi sau bàn lớn, nhìn anh bằng ánh mắt điềm nhiên của người đã quen với những cuộc gặp bất ngờ. Ông đưa tay, Võ Bằng hơi khom mình, bắt lấy. Ông mỉm cười:

– Ngồi đi.

Anh ngồi thẳng, để nón trên gối.

Ông vui vẻ tiếp:

– Rất vui gặp lại anh. Mỗi ngày tôi vẫn theo dõi hoạt động của Rạch Gầm. Tích cực và hiệu quả. Anh không phụ lòng kỳ vọng của tôi. Thành thật ngợi khen. Các huy chương đã được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận. Khi tàu sửa chữa xong, Hạm Đội sẽ tổ chức một lễ gắn.

Ông nhồi thuốc Half and Half vào ống vố, bật lửa, hút một hơi dài rồi từ từ nhả khói. Ông sảng khoái tiếp:

– Tôi cũng đang theo dõi loạt bài phóng sự chiến trường vùng biển Tây Nam Phú Quốc của Lan Như. Các bài viết rất hấp dẫn. Nhờ đó mà Hải Quân được thêm tiếng tăm. Anh có đọc chứ?

– Dạ chưa!

– Phải đọc. Phóng sự về hải hành, hải đảo, hải chiến, cuồng phong của Rạch Gầm mà Hạm trưởng Rạch Gầm lại bỏ qua. Tệ quá. Xuống Phòng Tâm Lý Chiến lấy báo đọc đi! Tôi cũng đã chỉ thị điện thoại về tòa soạn cám ơn cô ấy.

Võ Bằng thấy vui nhưng vẫn nặng lòng. Anh nói xuôi:

– Thưa Đô đốc, tàu mới về, bận rộn nhiều việc. Tôi sẽ đọc.

Tư lệnh đổi giọng thân tình:

– Cô phóng viên còn khoe là được thủy thủ đoàn đối đãi ân cần. Riêng Hạm trưởng có… quá ân cần không?

– Thưa không.

– Báo có đăng hình cô phóng viên và hình hạm trưởng Rạch Gầm. Cô phóng viên xinh đẹp thế mà hạm trưởng độc thân không cảm mến, cũng lạ!

– Thưa, đó là lý do hôm nay tôi xin gặp Đô đốc.

Đô đốc hất hàm:

– Nào! Chuyện gì?

– Thưa Đô đốc, một việc cá nhân…

– Nói.

– Thưa, tôi dự định cưới vợ…

Tư lệnh mỉm cười, khuyến khích:

– Tốt. Anh cần gì?

Võ Bằng ngập ngừng, khoảnh khắc còn khó hơn ra lệnh tác xạ:

– Thưa Đô đốc, ông già vợ tương lai ra điều kiện quá khó: hôn lễ phải theo nghi thức Hải Quân… và người chủ hôn phải là Tư lệnh Hải Quân.

Đô đốc nhíu mày:

– Cái kiểu ra điều kiện cho thấy ông ấy đâu có muốn gả con cho anh.

– Thưa chính vì vậy, tôi mới đến cầu xin Đô đốc giúp đỡ.

Giọng ông nặng nề:

– Anh có thấy người ta lợi dụng tôi để thắng một canh bạc tình cảm?

Câu hỏi như tiếng súng bắn gần:

– Thưa Đô đốc… quả là vậy. Nhưng tôi không còn cách nào khác.

– Nếu tôi từ chối?

– Thưa, Đô đốc biết kết quả mà! Thì đành đổ thừa cho số mạng!

– Anh có cho rằng tôi là người gieo số mạng?

– Thưa, tôi không dám nghĩ vậy.

Đô đốc nhìn anh thật lâu:

– Tôi thông cảm anh, ai thông cảm tôi? Hãy tưởng tượng, nếu tôi nhận lời anh, từ nay, các sĩ quan đều mời tôi dự cưới. Thì giờ đâu tôi nhận hết! Nếu nhận người này, từ chối người kia, tôi mang tiếng thiên vị…

– Thưa chính Đô đốc dự đám cưới Đại tá Thám.

– Tôi dự với tư cách bà con chớ không phải tư cách hải quân.

Võ Bằng lặng người, hết đường thuyết phục. Anh thấy lưng ghế lạnh đi, tay bấu nhẹ vào cạnh bàn. Như vậy có nghĩa Như Oanh sẽ mãi rời khỏi đời anh, như Hiền, như Hồng, như Tuyết. Anh có cảm tưởng cả bầu trời sụp đổ. Chỉ một lời từ chối, và tình yêu của anh chìm nghỉm nơi đáy biển.

Đô đốc đứng dậy, bước đến cửa sổ. Lá cờ vàng ba sọc đỏ phần phật trước gió. Một chiến hạm lặng lờ hướng ra khơi. Một đôi nhân tình thong dong ngang qua hai ổ súng thần công dưới chân kỳ đài. Ông chợt nhớ về thuở trai trẻ, cũng từng liều vì tình yêu. Cũng từng bị thử thách.

Ông quay lại, nói lớn:

– Cả hai còn trẻ mà. Rồi mỗi người lại tìm thấy người khác.

– Nếu dễ dàng như vậy… tôi đã không mong cầu ở Đô đốc.

Im lặng rất lâu. Cuối cùng, Đô đốc trở về ghế ngồi:

– Tôi không hứa gì hôm nay. Nhưng tôi cho anh một cơ hội. Trước tiên, hãy làm đúng thủ tục xin cưới vợ. Qua điều tra an ninh, nếu kết quả tốt… anh trở lại gặp tôi.

Ánh mắt ông sắc bén:

– Anh từng suýt để mất tàu vì một cô gái. Hy vọng lần này anh… may mắn hơn.

Võ Bằng đứng dậy chào:

– Xin đa tạ Đô đốc.

Khi bước ra khỏi Bộ Tư Lệnh, anh thấy lá cờ bay thư thả như cảm thông niềm hy vọng mong manh của anh. Tuy không thắng, nhưng cũng chưa thua.

***

Hai tháng không trôi êm. Đó là hai tháng của những đêm lo âu, mất ngủ. Chiến hạm đã sửa chữa xong, đã ra ụ, chờ lệnh công tác. Khi được báo hồ sơ điều tra an ninh kết quả tốt đẹp, không bỏ mất phút giây, anh đến ngay nhà ba mẹ Như Oanh.

Cửa mở, bà Huỳnh Quang Đạo nhìn anh, ánh mắt pha chút ngạc nhiên:

– Cậu lại đến?

Không chút bối rối, ngại ngùng, Võ Bằng lễ phép đáp:

– Thưa bác, cháu xin được gặp hai bác.

Bà Đạo mở rộng cửa:

– Vào nhà đi.

Ông Đạo từ thư phòng bước ra. Ánh mắt vẫn sắc:

– Có việc gì?

– Thưa… cháu đến báo tin.

– Tin gì?

– Cháu đã gặp Tư lệnh Hải quân.

Ông Đạo khựng lại:

– Ông ấy tiếp cậu?

– Dạ.

– Rồi sao?

Võ Bằng hân hoan nhìn ông rồi bà:

– Tư lệnh đã nhận lời đứng chủ hôn.

Cả ba ngồi vào bộ salon. Căn biệt thự lặng ngắt như tờ. Ông Đạo sững người. Bà Đạo vào trong pha trà. Thời gian cứ trôi cho tới khi bà trở ra rót trà vào tách. Ông Đạo run tay nâng tách trà lên miệng, vừa thổi vừa uống. Mắt ông mở to, nhìn Võ Bằng như thể không tin nổi. Một thoáng thất thế hiện lên trên gương mặt vốn luôn lạnh lùng. Sau phút im lặng nặng nề. Ông Đạo đặt tách trà xuống, lắc đầu:

– Tôi không tin.

– Chuyện hệ trọng, cháu đâu dám nói dối.

Ông nghiêm giọng:

– Cậu nghĩ, chỉ vì Tư lệnh hứa làm chủ hôn mà cậu thành rể nhà này?

– Thưa, chính bác nói vậy.

Không khí đông đặc. Ông Đạo chuyển hướng:

– Cưới rồi, anh cho vợ ở đâu? Mướn nhà à?

Như Oanh nghe tiếng ồn, đi xuống lầu. Nàng ngồi ghế cạnh Võ Bằng. Anh nhìn nàng, rồi nói nhỏ nhẹ với ông Đạo:

– Dạ, cháu có nhà.

Tia nhìn của ông như muốn đốt cháy Võ Bằng:

– Thật không đó? Gia đình không dư dả, cậu thì lương lính…

Võ Bằng ngập ngừng. Anh chưa từng nói dối. Mà nói thật thì mất vợ:

– Thưa… nhà do hải quân cấp.

Câu nói thốt ra, anh thấy mặt mình nóng lên. Hải quân không cấp nhà cho sĩ quan độc thân. Hy vọng ông không hỏi lại con rể Đại tá Thám.

Giọng ông Đạo lạnh lùng:

– Dù vậy, tôi vẫn không muốn gả con cho cậu.

Như Oanh ngẩng cao đầu, đôi mắt sáng rực nhìn thẳng vào cha:

– Ba. Ba đã thách, anh ấy đã nhận, và Tư lệnh Hải Quân đã nhận lời…

Ông Đạo chòng chọc nhìn con:

– Con ngồi yên. Đừng chen vào.

– Nhưng con là người sống với kết quả.

Ông to tiếng:

– Nhưng ba không nhận kết quả đó.

Nàng siết chặt tay, kềm giọng bình thường:

– Nếu ba không giữ lời, con sẽ không bao giờ lấy chồng nữa.

Võ Bằng quyết liệt:

– Thưa bác, nếu hủy hôn nhân, danh dự của hai bác không còn nguyên vẹn. Một là với người con rể. Hai là với Tư lệnh Hải Quân.

– Có ăn nhằm gì với con rể của tôi?

– Thưa có, ông Tư lệnh từng dự đám cưới trưởng nữ của hai bác.

Ông Đạo ngạc nhiên:

– Do đâu cậu biết Tư Lệnh Hải Quân có dự đám cưới?

– Thưa bác, do chính Tư lệnh nói. Ông ấy coi hồ sơ xin cưới vợ của cháu, thấy người cháu cưới là em vợ đại tá Lương Đình Thám, vì vậy ông miễn cưỡng nhận lời.

Ông Đạo nghe lòng chùng lại. Ván bài do ông giăng ra, giờ khép lại chính ông. Ông cứ tưởng Tư lệnh Hải Quân không đời nào dự đám cưới sĩ quan trung cấp, nhất là đứng chủ hôn. Đúng là… tận số. Ông thở dài, giọng trầm hẳn xuống:

– Thôi được. Coi như cậu đáp ứng các điều kiện. Nhưng còn vài yêu cầu cần phải tuân theo.

Anh vội nói:

– Dạ, cháu xin nghe.

– Sau sáu tháng mới có lễ hỏi. Sau một năm mới có lễ cưới.

Võ Bằng không kềm được ý nghĩ:

– Thưa bác, một năm… lâu quá!

Ông nghiêm giọng:

– Hôn nhân không chỉ là ngày cưới. Sáu tháng để thử lòng, để hiểu nhau. Một năm là để tránh tiếng đời dị nghị. Với thằng rể Lê Đình Thám hay thằng rể hụt Tạ Quang Vinh cũng vậy.

Võ Bằng nhìn Như Oanh. Nàng nhìn anh, không biểu lộ ý kiến. Anh nói:

– Thưa hai bác, cháu đã khá lớn tuổi, lại thêm thường công tác lâu ngày, xin bác rút ngắn thời hạn…

Ông Đạo nhìn bà. Bà gật đầu. Ông nói:

– Thôi được. Chúng tôi đồng ý giảm một nửa. Nghĩa là sau ba tháng làm đám hỏi, sau sáu tháng đám cưới.

– Dạ, cháu sẽ theo đúng.

– Yêu cầu thứ hai, chúng tôi bắt rể. Nghĩa là cậu và vợ cậu phải ở đây với chúng tôi.

Võ Bằng mừng thầm. Tưởng gì chớ điều kiện này… vượt mong ước của anh:

– Dạ, cháu sẽ tuân lời.

Ông đứng dậy, đưa tay:

– Chúc mừng cậu.

Võ Bằng đứng lên cúi đầu, cung kính. Hai bàn tay siết nhau.

– Xin cảm tạ hai bác.

Như Oanh chắp tay:

– Con cám ơn ba mẹ.

Võ Bằng trịnh trọng thưa:

– Thưa hai bác, con kính mời hai bác dùng bữa cơm trưa.

Ông Đạo lắc đầu:

– Trưa tôi bận. Cảm ơn.

– Vậy xin hai bác vào buổi tối.

Bà Đạo xua tay:

– Cảm ơn nhiều. Để bữa khác.

– Vậy xin phép hai bác cho cháu mời Như Oanh.

Bà Đạo mỉm cười:

– Cháu hỏi nó.

Võ Bằng và Như Oanh bước ra cổng. Nàng nói khẽ:

– Anh tài thật. Em gần đứng tim.

Anh âu yếm nhìn nàng:

– Thật ra, do em đóng kịch quá hay.

Hai người lên Vespa. Tiếng máy nổ giòn và nhỏ dần.

Bên trong nhà, bà Đạo khẽ nói:

– Ông à, tôi thấy thằng đó cũng tốt.

Ông Đạo âu yếm nhìn bà. Ông nhớ lại tuổi trẻ của mình. Cũng từng có nhưng tháng ngày long đong với bên nhà vợ. Ông nắm tay bà:

– Ừ. Cũng tốt… như tui vậy. Nhưng đừng quên. Nó với thằng Vinh gắn bó nhau bốn năm còn đổ vỡ, huống hồ hai đứa này chỉ vài tháng quen nhau…


Chương 35

Đêm biển bắc

Rạch Gầm rời bến Sài Gòn lúc tám giờ sáng ngày mồng Bảy Tết năm Canh Tuất – ngày 12 tháng 2 năm 1970. Võ Bằng não lòng nhưng an ủi là trong những ngày Tết vừa qua, anh và Như Oanh được bên nhau trọn vẹn.

Đúng bốn mươi tám giờ sau khi khởi hành, con tàu cập cầu Căn cứ Hải quân Tiên Sa, Đà Nẵng, mang theo mối tình nồng nàn của người hạm trưởng vừa lên hai mươi tám tuổi. Như Oanh đã muốn tổ chức sinh nhật sớm nhưng anh không đồng ý. Nàng đành tặng vài chiếc hôn môi…

Võ Bằng trình diện Tư lệnh Hải quân Vùng 1 và nhận được quyết định: từ ngày mai, Rạch Gầm tạm thời biệt phái cho Sở Phòng Vệ Duyên Hải.

Chỉ nghe tên gọi, anh đã thấy một nỗi e dè lạ lùng len lỏi tâm hồn. Cái cảm giác ấy đến từ bốn năm trước, năm 1966, khi tình cờ đọc được một văn thư của Sở này kêu gọi hải quân các cấp tình nguyện gia nhập hai lực lượng mới thành lập: Biệt Hải và Hải Tuần.

Với Lực lượng Biệt Hải, những dòng chữ trên trang giấy ngày ấy vẫn còn in đậm trong trí nhớ: thể chất cường tráng; tinh thần can đảm; phản ứng bén nhạy trong mọi tình huống. Rồi phải qua hai mươi bốn tuần huấn luyện như một điệp viên chiến tranh: nhảy dù, nhảy trực thăng; sử dụng mọi loại vũ khí, mọi loại chất nổ của ta và địch; chịu đựng những khắc nghiệt của độ nóng, độ lạnh, độ sâu và độ cao. Võ Bằng đọc xong, thấy rõ là mình không hội đủ điều kiện gia nhập Biệt Hải.

Còn với Lực lượng Hải Tuần, điều kiện thật dễ dàng, chỉ cần là quân nhân Hải quân. Nhiều người đã hăng hái gia nhập lực lượng này. Anh đã định ghi danh nhưng khi dò hỏi về nhiệm vụ, anh đành rút lui.

Vậy mà giờ đây, số phận đưa đẩy anh đến thẳng với Sở Phòng Vệ. Công tác ra sao chưa rõ, nhưng xem ra lành ít dữ nhiều. Để chuẩn bị tinh thần, Võ Bằng dành trọn ngày ngủ bù cho suốt hai ngày đêm đã vất vả hải hành ngược sóng mùa gió chướng.

Đúng tám giờ sáng hôm sau, Võ Bằng có mặt ở phòng họp kín của Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Căn phòng nhỏ đầy người, rèm che kín cửa sổ, chỉ có ánh đèn neon trắng nhợt chiếu lên từng khuôn mặt đang chuyện trò râm ran. Võ Bằng chào kính các vị đàn anh. Hai người bạn cùng khóa mừng rỡ ôm lấy Võ Bằng.

Anh ngồi vào ghế, nhìn quanh. Tấm bản đồ tác chiến chiếm trọn một vách tường. Vĩ tuyến 17 được kẻ bằng một vạch đỏ đậm, chạy dọc theo dòng sông Bến Hải đến cửa Tùng, rồi tiếp tục cắt ngang vùng biển, chia lãnh hải đất nước thành hai miền. Nhìn vào vết cắt đỏ chói, Võ Bằng bỗng nghĩ đến một vết thương lâu ngày không lành trên thân thể quê hương.

Trên vách bên kia là sơ đồ tổ chức Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Bên dưới các khung ghi Phòng Nhân Viên, Tình Báo, Hành Quân, Tiếp Liệu là hai khung lớn: Lực lượng Hải Tuần và Lực lượng Biệt Hải.

Hải quân Đại tá Trịnh Văn Gia, Chánh Sở Phòng Vệ Duyên Hải, bước vào. Đôi mắt ông sáng quắc, nhanh chóng quét một vòng căn phòng. Không khí đặc quánh, nặng như chì, phảng phất mùi thuốc lá và mồ hôi lẫn vào nhau.

Ông chào mừng và giới thiệu một số nhân vật trách nhiệm:

– Người chỉ huy công tác hôm nay: Hải quân Trung tá Tôn Thất Đạt, chỉ huy trưởng Hải Tuần.

Vị sĩ quan có cấp bậc cao thứ nhì đứng lên. Thân hình ông tráng kiện, khuôn mặt khắc khổ, nước da rám nắng gió biển khơi. Võ Bằng nghe tên khá quen qua những câu chuyện ở hạm đội, nhưng đây là lần đầu gặp mặt. Hơn anh năm khóa, ông xứng đáng nhận được sự kính nể.

Đại tá Gia giới thiệu những người kế tiếp, gồm Hải Quân Thiếu tá Đinh Quang Thân, Chỉ huy trưởng Biệt Hải cùng hai Trung úy trưởng toán. Các Hạm trưởng HQ 817, HQ 818 và HQ 266 mà rất tình cờ, cả ba đều là bạn cùng khóa.

Đại tá Gia cao giọng:

– Như thường lệ, chúng ta tiếp tục… vượt biên. Cũng như thường lệ, nhiệm vụ của hai khinh tốc đỉnh là đổ bộ Biệt Hải và rải truyền đơn. Riêng ba chiến hạm, sau khi đổ bộ, tiếp tục di chuyển ba hải lý dọc theo bờ hướng về thành phố Vinh, cho đến giờ trở lại đón hai toán Biệt Hải.

Võ Bằng ngồi nghe, bất giác nhếch môi tỏ nụ cười chua chát. Số mệnh chăng? Lệnh công tác của Hạm đội ghi rõ Rạch Gầm được biệt phái cho Vùng 1 để tuần tiễu bảo vệ an ninh hải phận Vùng 1. Nhưng Vùng 1 lại đẩy anh… vượt Vùng 1, để đâm đầu vào hai đơn vị anh cố tránh. Một vòng lắt léo của chiến tranh.

Đại tá Gia nhìn thẳng vào Võ Bằng:

– Thành tích của Rạch Gầm ở vùng Phú Quốc qua tường thuật trên báo chí là lý do chiến hạm có mặt trong chuyến công tác đặc biệt này. Hy vọng nhờ khẩu 76,2 ly với tầm bắn hiệu quả 15 cây số, Rạch Gầm sẽ làm tắt tiếng các khẩu đại bác của địch và đánh chìm vài chiếc Kronstadt.

Ông uống vài ngụm cà phê, tiếp lời:

– Sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, tức là qua cửa Tùng sông Bến Hải, các chiến hạm đi cách xa Hòn Cọp để tránh bị phát giác, cho đến ngang thành phố Đồng Hới thì đâm vào bờ, đổ bộ hai toán Biệt Hải. Hai toán Biệt Hải đi hai hướng, triệt hạ các đài radar, phá hủy các ổ pháo phòng không-phòng duyên, phá hoại cầu đường và thu thập tin tức.

Ông dừng lại cho mọi người nhận hiểu rồi tiếp:

– Sau đó ba chiến hạm hải hành cách bờ ba hải lý, cho đến thành phố Vinh. Trong lúc di chuyển, khi bị pháo kích từ bờ, Rạch Gầm toàn quyền phản pháo.

Ông lại nhìn từng người, giọng trầm xuống:

– Hãy dự phòng chạm súng với các tàu tuần của Bắc cộng. Các tàu này có hỏa lực tương đối mạnh, vận tốc nhanh. Lại còn phải trông chừng các phản lực cơ MIG 21. Trong trường hợp xảy ra hải chiến hay tai nạn, các chiến hạm phải tương trợ lẫn nhau. Nghĩa là bằng mọi giá, không được phép bỏ rơi đồng bạn. Các anh đều biết, bị cộng sản bắt thì coi như… từ chết tới bị thương. Nếu phải bỏ tàu, chiếc tàu phải được phá hủy đến không còn tàn tích.

Đại úy Graham, cố vấn của Võ Bằng, hít một hơi sâu, cất tiếng hỏi bằng tiếng Mỹ:

– Thưa Trung tá Jones, tôi có được phép đi cùng với chiến hạm?

Trung tá Cố vấn trưởng ngồi bên tay trái Đại tá Gia gật đầu, trả lời bằng giọng tiếng Anh trầm trầm:

– Phải đi. Anh ghi các tọa độ ổ súng của địch bắn ra tàu để Hàng Không Mẫu Hạm cho phi pháo tiêu diệt, dọn đường cho phản lực cơ vào sâu nội địa dội bom.

Võ Bằng nhíu mày:

– Nhưng Đại tá vừa nói hải pháo 76,2 ly của Rạch Gầm có toàn quyền tác xạ các ổ súng duyên phòng, đâu cần thêm phi pháo?

Đại tá Gia mỉm cười, nụ cười của người đã từng trải:

– Rạch Gầm sử dụng 76,2 ly hiệu quả, nhưng với tầm xa ba hải lý, rất có thể trượt mục tiêu hoặc chỉ gây hư hại. Phải có phi pháo để bảo đảm.

Võ Bằng nghe ớn lạnh sống lưng. Thả Biệt Hải, rải truyền đơn trên đất địch đã là một nhiệm vụ bất an, giờ lại thêm việc đem chiến hạm làm mồi nhử để khám phá các ổ súng của địch – thì khác nào giỡn với tử thần. Anh nhìn về phía tấm bản đồ, nhìn dọc từ Đồng Hới đến Vinh dài hàng trăm cây số mà mồ hôi tay rịn ướt thành ghế.

Ngay sau buổi họp, Rạch Gầm lặng lẽ rời bến. Chỉ còn tiếng ì ầm dưới hầm máy và tiếng sóng vỗ vào mạn tàu thay lời tiễn đưa. Hai khinh tốc đỉnh lầm lũi theo sau, mũi tàu chẻ sóng tạo thành những cánh bướm trắng xóa. Các nhân viên trực phiên căng mắt nhìn về vùng biển phía Bắc, nơi những điều chưa biết đang chờ.

Trên đài chỉ huy của Rạch Gầm, Trung tá Đạt đứng bên cạnh Võ Bằng, bình thản hỏi chuyện đời thường – về sinh hoạt ở thủ đô Sài Gòn, về những quán cà phê nhạc, về vũ trường Mỹ Phụng thơ mộng bến Bạch Đằng. Ông đã quá quen với những chuyến ra Bắc, với cảm giác chai lỳ trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Trong khi đó, Võ Bằng trả lời với nét mặt đượm vẻ ưu tư vì công tác phía trước, và thỉnh thoảng, ánh mắt xa xăm hướng về Như Oanh.

Bảy giờ tối, ba chiến hạm ngang qua cửa Tùng của sông Bến Hải. Không khí trên tàu bỗng trở nên căng thẳng như dây đàn sắp đứt. Từ đây là vào vùng biển địch. Mỗi ngọn sóng trườn qua mạn tàu, mỗi đám mây trôi lờ lững trên bầu trời đều có thể là nơi ẩn nấp của hiểm nguy.

Võ Bằng cảm nhận rõ ràng sự thay đổi trong nhịp thở của những người chung quanh – họ nói ít hơn, động tác nhanh và dứt khoát hơn, ánh mắt hướng triền miên về biển bắc mờ sương. Trung tá Đạt xuống phòng Chiến báo quan sát các mục tiêu nổi trên mặt radar.

Gió đông-bắc khô và lạnh, thổi từ biển vào đất liền, tập hợp sức mạnh dòng hải lưu cố gắng đẩy chiếc trợ chiến hạm lệch khỏi đường đi. Đôi lúc, gió trở mạnh và xoay chuyển thất thường, làm rối loạn mọi ước tính của Võ Bằng về độ trôi giạt. Anh yêu cầu Trung tâm Chiến báo xác định vị trí. Giọng nói của anh vang lên trong ống nói, bình tĩnh nhưng đủ để mọi người nhận ra sự tập trung cao độ của người chỉ huy. Lịch sử hải chiến Thái Bình Dương cho biết, dọc ngoài khơi tỉnh Quảng Bình, có khá nhiều thương thuyền bị đánh đắm. Một khinh tốc đỉnh đã từng va vào và phải tự phá hủy.

Như để tăng thêm không khí thù địch, bầu trời càng tối hơn, sóng gió mạnh hơn. Bỗng nhiên, mũi Rạch Gầm đột ngột xoay chín mươi độ. Con tàu nghiêng hẳn về mạn trái. Chiếc ghế của anh thủy thủ ngồi quay bánh lái trượt tuột theo độ nghiêng. Anh bám chặt bánh lái, gượng đứng thẳng, mặt tái nhợt. Chiếc ghế đổ nhào, vang lên tiếng động khô khốc. Anh rên rỉ, nhăn nhó vì cú va đập. Hạ sĩ quan trực vội vàng chạy đến dựng lại chiếc ghế. Võ Bằng nhanh chóng ban các lệnh cần thiết để đưa con tàu trở về hải trình.

Võ Bằng nhấc điện thoại nội bộ gọi phòng máy, nói với Thiếu úy Ngô Quang:

– Sóng to, gió lớn. Hãy theo dõi cẩn thận các đèn báo động để sửa chữa kịp thời. Chỉ thị nhân viên thi hành tức khắc và chính xác mọi lệnh của đài chỉ huy.

– Nhận rõ, thưa Hạm trưởng.

Ngay lúc đó, sĩ quan trực và hai nhân viên bỗng nhiên tranh nhau ói mửa, không kịp bước đến cái xô để sẵn. Đài chỉ huy thoáng chốc tràn ngập mùi hôi khó chịu. Võ Bằng cố nén cảm giác buồn nôn đang dâng lên nơi cổ họng, hít thật sâu. Không được phép tỏ ra yếu đuối, anh tự nhủ. Không được phép. Cố vấn Mỹ mặt nhăn nhó nghiêng người ra ngoài.

Phiên trực vẫn tiếp diễn trong yên lặng, chỉ thỉnh thoảng bị cắt ngang bởi tiếng báo cáo ngắn gọn từ các nhân viên quan sát. Biển đêm chỉ xạc xào tiếng sóng nhưng đủ để buộc người đi biển luôn luôn tỉnh táo.

Bỗng có tiếng báo cáo từ phòng CIC vọng lên:

– Đài chỉ huy. Radar phát hiện nhiều mục tiêu nhỏ cách bờ từ một đến hai hải lý. Tín hiệu yếu, có thể là tàu đánh cá.

Ba chiến hạm lặng lẽ đi qua. Tín hiệu của những chiếc tàu đánh cá mờ dần, rồi mất hẳn. Càng lên phía bắc, mật độ tàu thuyền càng thưa, như thể họ đang đi trên con đường dẫn vào một cạm bẫy khổng lồ, nơi kẻ thù đã dọn sạch tất cả để chờ đợi.

Nửa đêm, ba chiến hạm ngang qua Đồng Hới. Từ xa, ánh đèn thành phố sáng tỏa thành một vùng vàng nhạt trên nền trời đen thẫm.

Hai mươi phút sau, Trung tá Đạt ban lệnh tiến vào bờ. Theo kế hoạch, khi còn cách năm trăm thước, trong thời gian Chỉ huy trưởng Biệt Hải điều động việc đổ bộ bằng xuồng cao su, Rạch Gầm yểm trợ hải pháo khi cần.

Võ Bằng nâng kính hồng ngoại tuyến. Bờ biển hiện ra như một dải lụa vàng, một số nơi leo lét ánh đèn lẻ loi như những đốm lửa ma trơi trên một nghĩa địa khổng lồ.

Nửa tiếng sau, giọng Thiếu tá Thân vang lên từ máy vô tuyến:

– Trình thẩm quyền, Biệt Hải hoàn tất đổ bộ.

Trung tá Đạt đáp, giọng vẫn bình thản:

– Chúc may mắn. Gặp lại bạn như đã hẹn.

Ông ra lệnh HQ 817, HQ 818 thả truyền đơn. Hàng trăm bọc nylon chứa truyền đơn được thả xuống biển, nhờ sóng đưa vào bờ. Trên sân sau, các nhân viên nhanh chóng bơm khí heli vào những quả bong bóng mang bọc truyền đơn, kết thành chùm lần lượt bay lên.

Võ Bằng lại nâng ống nhòm quan sát. Những bọc truyền đơn trôi lềnh bềnh trên sóng, đong đưa như những chiếc chai đựng thư cầu cứu của những người đi biển tuyệt vọng. Còn trên không, chúng tựa những cụm mây lơ lửng, chầm chậm di chuyển vào vùng ánh sáng vàng vọt của thành phố Đồng Hới. Cảnh tượng thật đẹp, một vẻ đẹp lặng lẽ và thiêng liêng đến nao lòng. Mỗi quả bóng là một sứ giả, mang theo hy vọng mong manh về sự thống nhất, về một tiếng nói tự do và niềm hy vọng cho những người dân đang sống trong màn tăm tối.

Nhưng vẻ đẹp ấy không kéo dài được bao lâu. Từ bờ, những tiếng nổ trầm đục vang lên, xé tan màn đêm yên tĩnh. Không phải đại bác, mà là tiếng súng máy phòng không hạng nặng. Những loạt đạn 14,5 ly và 37 ly từ các đồn bót ven biển bắt đầu phóng lên dồn dập, vẽ nên những sợi chỉ lửa đỏ rực bầu trời, đuổi theo những quả bóng mỏng manh. Nhiều quả trúng đạn, vỡ tung, những tờ truyền đơn rơi xuống lả tả như những cánh bướm trắng bị vùi dập trong cơn mưa lửa.

Những chùm đạn cũng lao vút về phía biển khơi, nơi họ nghi ngờ có tàu xâm nhập.

Tiếng nói từ HQ 817 và kế tiếp từ HQ 818:

– Trình thẩm quyền, công tác hoàn tất.

Giọng Trung tá Đạt bình tĩnh lạ thường:

– Chúng ta bắt đầu di chuyển dọc theo duyên hải từ đây đến thành phố Vinh. Nếu địch bắn, Rạch Gầm vừa phản pháo vừa tiếp tục di hành. Nơi nào có nhiều ánh đèn, hai khinh tốc đỉnh tiếp tục thả truyền đơn cả trên không lẫn dưới biển.

Gió không quá mạnh, chỉ dưới cấp 2 từ hướng đông-bắc. Nhưng những con sóng lớn vẫn cuộn trào, tuy không vỡ thành bọt trắng nhưng đủ nâng Rạch Gầm lên cao rồi hạ xuống, khiến vài người lại tiếp tục ói mửa. Võ Bằng cảm thấy bụng dạ cồn cào, nhưng anh cố nén, tập trung vào màn đêm trước mặt.

Khi đi ngang đảo Yến, phòng CIC báo cáo:

– Phát hiện hai mục tiêu nhỏ từ phía Bắc đang tiến nhanh về phía ta. Khoảng cách 15 hải lý.

Trung tá Đạt ra lệnh:

– Chuẩn bị tác chiến.

Tim Võ Bằng bỗng đập nhanh hơn. Anh nhìn về phía bắc, nơi bóng đêm vẫn bao trùm tất cả. Anh nói với sĩ quan đương phiên:

– Nhận còi nhiệm sở tác chiến.

Tiếng còi dồn dập vang lên. Tiếng rầm rập chạy đến các ụ súng. Mọi người khoác áo giáp, đội nón sắt.

Đúng lúc ấy, những ánh lửa nháng lên từ phía bờ. Bốn quả pháo rơi xuống gần các chiến hạm, tạo nên những cột nước trắng xóa cao vút. Trung tá Đạt nhìn thấy sự an toàn của ba chiến hạm bị đe dọa nghiêm trọng. Kẻ thù vừa từ bờ, vừa trước mặt. Ông hạ lệnh:

– Tất cả tăng tốc, vượt ra khơi, tránh tầm pháo bờ biển.

Ba chiến hạm lập tức thi hành. Hai chiếc tàu địch phía bắc cũng tăng tốc đuổi theo. Khi đã ra đến vùng nước sâu, cách bờ đủ xa, ba chiến hạm giảm tốc, dàn thành hàng ngang chờ địch.

Những loạt đạn cối từ tàu địch bắt đầu rót xuống. Từng quả đạn gào rít trong không trung, xé toạc mặt biển yên tĩnh. Những cột nước tung cao những đóa hoa tử thần nở rộ, ngày một gần hơn, bủa vây các chiến hạm.

Khi CIC cho biết địch còn cách năm cây số, Võ Bằng ngạc nhiên không hiểu địch trang bị loại súng cối gì mà có tầm bắn xa như vậy. Súng cối 81 ly của Rạch Gầm chỉ hiệu quả ba cây số. Bất ngờ, cả hai tàu địch tăng tốc, lao thẳng vào HQ 818 – một pha hành động liều lĩnh và nguy hiểm. Trung tá Đạt nói to từ phòng CIC:

– 76,2 ly, tác xạ.

Võ Bằng ra lệnh bắn bốn quả. Tiếng đại bác chát chúa lần lượt nổ rền, chói tai. Bốn quả vẽ thành đường lửa trước khi tạo tường nước ngay trước mũi tàu đối phương. Cả hai chiếc tàu địch ngoặt gấp, đổi hướng về Rạch Gầm.

Hai quả cối địch rơi cách lái Rạch Gầm mươi mét. Nước và mảnh đạn tóe lên boong sau. Trong đau nhức của cặp mắt vì chói chang, Võ Bằng cầu mong tàu mình được may mắn.

Trung tá Đạt vừa trở lên đài chỉ huy, đã hối thúc Võ Bằng:

– Cho 76,2 ly trực xạ!

Võ Bằng nâng ống nhòm quan sát. HQ 817 đang nằm trên đường đạn đạo đến tàu địch, nếu bắn ngay sẽ trúng đồng đội. Anh hạ lệnh tăng máy, cho tàu hướng vào bờ để tìm góc bắn an toàn. Khi đạn đạo đã quang đãng, Rạch Gầm ngưng máy, lắc lư nhẹ trên sóng.

Một phút sau, từ phía mũi, một tiếng nổ siêu thanh khô khốc vang lên. Quả đạn đầu tiên xé toạc trời đêm. Một đường lửa đỏ rực phóng thẳng vào chiếc tàu địch. Quả đạn nổ tung trên mặt biển, cách mũi tàu đối phương không xa. Sức công phá của pháo 76,2 ly tạo nên một cột nước tung cao, sáng tỏ tàu địch. Chiếc tàu rung chuyển, lắc lư dữ dội!

Võ Bằng hạ lệnh:

– Bắn trực xạ hai quả.

Lần này một quả trúng ngay tàu địch. Những tiếng nổ chát chúa, lửa bừng lên cao rồi từ từ tắt ngấm giữa màn đêm. Hai phát tiếp theo nhắm vào chiếc tàu còn lại. Đạn rơi gần, tóe hai cột nước. Tàu địch ngoắt 180 độ, lao hết tốc lực trở ngược về hướng bắc, nhanh chóng biến mất vào đêm đen.

Một sự im lặng kỳ lạ lại bao trùm lên mặt biển. Chỉ còn tiếng sóng vỗ và tiếng máy tàu rầm rập. Trung tá Đạt thở phào nhẹ nhõm, ra lệnh:

– HQ 817, 818. Tìm và cứu vớt những người còn sống sót.

– Đáp nhận hành.

Rạch Gầm tiến gần nơi tàu chìm, rọi đèn pha xuống vùng biển nhấp nhô đầy mảnh gỗ. Trong ánh đèn pha rực sáng, những cánh tay vẫy vẫy rồi cố bơi đến Rạch Gầm. Năm người được kéo lên, bị thương nhẹ, được y tá tận tụy săn sóc. Họ cho biết bảy người khác đã chìm theo tàu, không kịp thoát ra.

Võ Bằng nhìn những tù binh với ánh mắt u buồn. Cũng như anh, họ còn trẻ, cũng mặc quân phục, cũng có gia đình ở đâu đó ngoài kia. Chừng nào họ mới được đoàn tụ? Nếu anh bị bắt, chừng nào anh mới gặp lại Như Oanh?

Ba chiến hạm tiếp tục rẽ sóng tiến về thành phố Vinh. Thỉnh thoảng bị pháo kích nhưng không bị chận đường.

Một tiếng sau, Trung tá Đạt ra lệnh quay về đón hai toán Biệt Hải.

***

Năm giờ sáng, công tác hoàn tất, tất cả khởi hành xuôi nam. Phía sau họ, bầu trời Đồng Hới vẫn còn lốm đốm chùm bong bóng bay và những tia lửa đạn vô vọng túa lên trời. Rồi một lúc nào đó, những lời kêu gọi tự do sẽ rơi vào tay người dân, thắp lên trong họ ít nhiều hy vọng đổi đời.

Mười giờ sáng, trên đường về gần đến cửa Tùng, Trung tá Đạt bỗng trầm giọng:

– Phía trước có ba tàu địch.

Võ Bằng nhìn theo hướng tay ông chỉ. Xa xa, ba tàu sơn đen đang nằm chận ngang đường, dáng vẻ đầy uy hiếp. Theo hình dạng, các chiến hạm địch là loại Kronstadt do Trung Cộng chế tạo, có vận tốc cao và hỏa lực mạnh. Trong năm qua, đã nhiều lần toán của Trung tá Đạt bị chận đánh như vậy. Có khi chúng bất ngờ xuất hiện từ Hòn Cọp, có khi từ Hòn Ngư, Hòn Én. Nhưng lần nào các khinh tốc đỉnh cũng bỏ chạy, tránh giao tranh. Cấu trúc của khinh tốc đỉnh không nhằm giao tranh mà chỉ tự vệ. Vũ khí trang bị ở sân sau chớ không sân mũi. Một lý do khác, trên đường về, bao giờ cũng bắt cóc một số ngư dân đưa về Cù Lao Chàm.

Nhưng lần này thì khác. Với ưu thế hỏa lực và tầm xa của khẩu 76,2 ly, Trung tá Đạt tin có thể đương đầu, tạo thành tích bất ngờ. Ông ra lệnh cho hai khinh tốc đỉnh bung ra hai hướng để hai tàu kia đuổi theo, Rạch Gầm một đấu một, nắm chắc phần thắng. Hạ chiếc này xong, lần lượt đuổi theo hạ hai chiếc còn lại.

Tuy nhiên địch cũng cố giành thế thượng phong. Thay vì một đấu một, chúng phớt lờ hai khinh tốc đỉnh để chia ba hướng bao vây Rạch Gầm. Ba chiến hạm đồng loạt nổ súng. Một số tia lửa vụt ngang qua Rạch Gầm. Khẩu đại pháo 76,2 ly gầm lên dữ dội, hai khẩu 40 ly và bốn khẩu 20 ly, và bốn đại liên hai bên mạn thi nhau nhả đạn như mưa. Mặt biển trở thành bãi chiến trường rực lửa.

Một tàu địch trúng 76,2 ly phát nổ, khói lửa bốc lên ngút trời. Mười phút sau, con tàu chìm hẳn, để lại những vòng xoáy nước và những mảnh vỡ trôi lềnh bềnh. Võ Bằng điều khiển Rạch Gầm tiến gần chiếc tàu địch thứ hai. Chiếc này vừa chạy zigzag vừa bắn trả dữ dội. Nhưng rốt cuộc, nó cũng chịu chung số phận như chiếc trước, chìm dần giữa những tiếng nổ long trời.

Một phát đạn từ chiếc tàu địch còn lại, rốt cuộc cũng chạm đài chỉ huy Rạch Gầm. Tiểng nổ chát chúa và dữ dội. Miểng bay rào rào. Võ Bằng cảm thấy một luồng gió nóng rát xoẹt qua tai. Khi bụi khói tan, anh nhìn thấy một thủy thủ nằm bất động trên sàn – tử thương. Trung tá Đạt ôm cánh tay tuôn máu, và hai nhân viên ôm đầu ôm mặt máu nhỏ giọt. Các y tá xuất hiện với túi cứu thương.

Trung tá Đạt nổi nóng, quát:

– Rạch Gầm! Bắn tối đa 76,2 ly! Tiêu diệt nó!

Võ Bằng chuyển lệnh vừa dứt, khẩu đại pháo đã rền những phát đạn liên tiếp.  Nhưng mới đến trái thứ tư, Trung tá Đạt lại quát, lần này to hơn:

– Ngưng! Ngưng bắn!

Mọi người nhìn ông rồi hướng về phía ông đang chăm chú. Trên đỉnh cột cờ của tàu địch một mảnh vải trắng được kéo vội lên đang phất phới.

Một sự im lặng kỳ lạ lại bao trùm.

Được lệnh vị chỉ huy, Võ Bằng cho Rạch Gầm cập sát mạn tàu đầu hàng. Mười người lính địch, trong đó có bốn người bị thương, được chuyển qua. Năm xác chết để lại, mặc cho tàu địch trôi lềnh bềnh vô chủ. Nhìn vào ánh mắt hoảng sợ của họ, Võ Bằng bỗng thấy xót xa. Anh nghĩ nếu bị bắt, mình cũng hoảng sợ. Vòng xoáy chiến tranh thật lạ lùng, bên nào cũng tự hào mang máu xương để bảo vệ đất nước. Nhưng đau đớn nhất lại là cùng một đất nước. Chánh nghĩa chỉ còn căn cứ vào cách xây dựng: bên nào giàu có, ấm no, tự do, dân chủ, bên đó có chánh nghĩa.

***

Cuộc hành trình vượt tuyến đang đến hồi kết thúc. Một chiến dịch thầm lặng, đầy nguy hiểm và hồi hộp, nhưng cuối cùng những người lính biển đã làm được điều họ cần làm: hoàn thành sứ mạng với thiệt hại tương đối nhẹ – một người chết, vài người bị thương.

Trên đường về, Võ Bằng thắc mắc nhìn Trung tá Đạt với cánh tay băng bó, máu vẫn còn thấm qua lớp vải trắng:

– Thưa Trung tá, sao phải chở binh lính địch về miền Nam làm chi cho thêm mệt? Cứ để mặc họ xoay sở trên vùng biển của họ, có phải đỡ thêm gánh nặng?

Trung tá Đạt nhìn anh, khóe môi nhếch lên một nụ cười đầy ẩn ý:

– Một là để tra hỏi tổ chức địch. Hai là để huấn luyện họ trở thành nội tuyến. Sau ba tháng cho ăn uống thỏa thuê, phủ dụ chiêu hồi, chúng ta thả họ về quê quán.

Ông ngừng một chốc, nhìn ra biển khơi mênh mông, rồi bất chợt hỏi:

– Anh có nghe đài Gươm Thiêng Ái Quốc bao giờ chưa?

Võ Bằng hơi ngạc nhiên, gật nhẹ:

– Thưa, chỉ một hai lần.

– Thường thì sau công tác, trên đường về, lần nào Hải Tuần cũng chận xét ngư thuyền, bắt cóc một số ngư dân đem về giao cho Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc. Nhưng lần này bị kẹt chở tù binh và thương binh.

Trung tá Đạt đưa mắt nhìn quanh, rồi nói bằng giọng thấp hơn, như chỉ đủ cho hai người nghe:

– Đài Gươm Thiêng Ái Quốc là tiếng nói của Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc. Một tổ chức có căn cứ trên Cù Lao Chàm, gần căn cứ Hải Tuần. Cạnh căn cứ Gươm Thiêng, người ta xây dựng một ngôi làng theo đúng khuôn mẫu những làng chài dọc bờ biển Bắc Việt. Nhân viên trong làng nói giọng Bắc, sinh hoạt theo đúng tục lệ Bắc, nói chuyện về đời sống dưới chế độ cộng sản nghèo đói, rỉ tai về tổ chức Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc và hoạt động của nó nhằm đem lại đời sống ấm no không như chế độ cộng sản.

Ông dừng lại, như để những lời vừa nói thấm vào người nghe:

– Ngư dân Bắc Việt bị Hải Tuần bắt cóc, được đưa về sống trong ngôi làng ấy, phát cho họ quần áo mới, ăn uống đầy đủ, tặng một radio nghe đài Gươm Thiêng Ái Quốc. Khi họ tin đang có kháng chiến chuẩn bị lật đổ chế độ miền Bắc, họ sẽ thổ lộ những tin tức đặc biệt, những điều xấu xa của các nhân vật cộng sản mà họ biết. Tình báo miền Nam khai thác những tin đặc biệt ấy. Còn Đài Gươm Thiêng Ái Quốc – cơ quan tuyên truyền của Mặt trận – phát thanh những tin xấu xa để gây chia rẽ trong giới lãnh đạo Bắc Việt.

Võ Bằng lặng người. Trước mắt anh, cuộc chiến không chỉ là những trận hải chiến bằng súng đạn, không chỉ là những chuyến vượt tuyến đầy hiểm nguy. Nó còn là những chiến dịch tâm lý tinh vi, những toan tính thầm lặng mà anh chưa từng hình dung hết.

Năm giờ chiều, ba chiến hạm cập cầu hậu cứ Mỹ Khê. Ngay sau khi bàn giao tù binh cho Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Rạch Gầm được trả về Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1. Hạm trưởng Võ Bằng được Tư lệnh Vùng 1 tiếp kiến. Ông hỏi han, ngợi khen, cấp phương tiện chở thi hài tử sĩ và hai nhân viên bị thương về Sài Gòn. Ông cho Rạch Gầm ba ngày dưỡng sức, tu bổ máy móc, bổ sung đạn dược. Sau đó sẽ nhận công tác mới.

Võ Bằng chào từ giã.

Bước ra khỏi phòng Tư lệnh, anh ngước nhìn bầu trời Đà Nẵng chiều muộn, những áng mây hồng trôi nhẹ trên biển. Một câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu:

“Công tác gì đây? Lại vượt vĩ tuyến?”

Tự dưng anh rùng mình. Tại sợ hay tại cơn gió chiều trở lạnh?

Vũ Thất

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Vũ Thất