Chương 21
Tiền đồn biển Tây Nam
– Tôi tên Lan Như. Còn anh?
– Thủy thủ Hoàng Lâm.
Hai người men theo hành lang hẹp, rồi leo lên một chiếc thang sắt dựng đứng mười bậc dẫn lên boong trên. Gió mạnh hơn. Phía trước và phía sau sân thượng mỗi nơi một khẩu đại bác 40 ly nằm im như hai vị thần canh phòng. Lại bước lên một cầu thang nghiêng mười bậc nữa để vào đài chỉ huy sáng sủa, khoảng khoát.
Bảy người hiện diện: hạm trưởng đứng bên cánh phải cùng cố vấn; cánh trái là sĩ quan và hạ sĩ quan trực phiên; giữa đài chỉ huy, một thủy thủ ngồi trên ghế cao nắm chặt bánh lái; hai bên anh là quan sát viên và điện thoại viên. Lan Như đứng cạnh trụ la bàn thích thú mở tầm mắt lên biển mênh mông, rải rác hàng trăm ghe đánh cá im lìm phơi nắng.
Rạch Gầm đã giảm tốc độ, len lỏi theo khoảng trống giữa các dãy phao đen đánh dấu lưới cá. Sĩ quan trực phiên liên tục ra lệnh chuyển hướng trong khi vẫn quan sát tìm ngư thuyền có danh bộ lạ, những ngư thuyền không mang số mã các tỉnh miền Nam như KG tức Kiên Giang hoặc AX tức An Xuyên theo sau một dãy số. Bọn xâm nhập có thể giả danh bộ nhưng hình dáng tàu thì vẫn khác biệt.
Thấy Lan Như, Võ Bằng bước lại gần, giọng dịu êm:
– Đài chỉ huy Rạch Gầm hân hạnh tiếp đón phóng viên Lan Như. Thật hân hạnh.
Lan Như thoáng ngạc nhiên vì thái độ thân tình đột ngột. Nàng đáp bằng giọng giữ khoảng cách:
– Thưa anh. Tôi mới là người được hân hạnh.
Võ Bằng thân mật tiếp:
– Để khỏi mích lòng nhau, tôi lưu ý cô vài điểm. Thứ nhất, cô được phép tìm hiểu bất cứ nơi nào – lộ thiên hay trong lòng tàu – ngoại trừ những nơi có bảng “Khu vực giới hạn”. Thứ hai, khi sóng to hoặc về đêm, cô không nên đi một mình bên ngoài. Khi thật cần thiết, hãy gặp hạm phó để cử người tháp tùng. Chúng tôi chỉ muốn phòng ngừa tai nạn trơn trợt, rơi xuống biển.
Anh đổi giọng chậm lại, như để nhấn mạnh:
– Điều nữa, dành cho phóng viên: quần đảo Thổ Châu là nơi tụ họp hàng trăm loại phiêu sinh vật nên tập trung nhiều loại hải sản kéo theo đủ loại ngư thuyền. Đây cũng là khu vực… đấu võ tự do. Luật hàng hải có, nhưng phân định ranh giới thì không nước nào chịu nhượng nhau. Cứ thế mà tranh giành.
Anh nhìn mặt biển thẫm xanh:
– Bởi đông khách vãng lai nên khách Bắc cộng dễ trà trộn. Chúng đợi lúc ta sơ hở, liền phóng vào bờ, rồi rút lui thần tốc.
Quay sang nàng, anh bất ngờ hỏi:
– Cô mong đụng trận chứ?
Lan Như trầm ngâm. Anh chàng hỏi gì mà kỳ cục! Ai lại ước mong đụng trận! Ai lại mong thấy máu me và xác người. Nhưng nghề nghiệp là nghề nghiệp. Nàng đáp nhỏ:
– Ước mong thì không nhưng đó lại là lý do tôi xuống tàu này. Một phóng viên chiến trường phải chứng kiến và tường thuật trung thực, dù sự thật nghiệt ngã đến đâu.
– Hải quân trong sông đã đưa cô đến những chiến trường nào rồi?
– Hố Lương, sông Hàm Luông, Măng Thít.
– Chúng tôi thường công tác xa bờ nên hiếm khi được đọc báo. Sắp tới đây, chắc phải nhờ cô gửi bài báo đến địa chỉ KBC.
– Rất sẵn sàng.
– Hôm qua không tuần phát hiện hai ngư thuyền khả nghi tiến vào vịnh Thái Lan. Có thể chúng hướng về Thổ Châu. Hy vọng có diễn biến đáng tường thuật.
– Trong khi chờ đợi, tôi xin cám ơn về áo giáp và áo lạnh.
– Ở biển, cuối thu lạnh hơn Sài Gòn.
Lan Như thấy đến lúc vào thẳng nghề nghiệp:
– Thưa anh, tôi được phép tiếp xúc những ai để hiểu về chiến hạm?
Võ Bằng mỉm cười:
– Bất cứ ai.
– Còn chụp ảnh?
– Bất cứ nơi nào, trừ khu vực hạn chế.
– Còn với thủy thủ đoàn?
– Cô cần xin phép từng người.
Nàng nâng máy ảnh:
– Vậy trước tiên, xin phép… hạm trưởng.
Tiếng cười rộn lên khắp đài chỉ huy. Võ Bằng hài lòng với giọng miền Nam êm ngọt, khuôn mặt tươi vui và phong thái tự nhiên, năng động. Anh gật đầu, cợt đùa:
– Được. Nhưng nhớ chỉnh sửa cho tôi đẹp trai được chút nào hay chút nấy.
– Không cần đâu. Bộ mặt phong sương hiện tại là đủ… ăn tiền rồi!
Mọi người lại cùng cười rộ. Võ Bằng chỉ tay chếch phải hướng mũi tàu:
– Cô Lan Như! Đảo Thổ Châu trước mặt.
Nàng nâng máy lên mắt bấm hai hình. Con rùa khổng lồ nằm trên tấm thảm xanh miên man đến tận chân trời. Mai rùa là những khối đá tảng cẩm thạch trắng ngà. Võ Bằng xem hải đồ rồi giải thích:
– Quần đảo Thổ Châu có chín đảo. Chúng ta đã qua một số đảo mà vì thấp nên không thấy. Đó là các Hòn Đá Bàn, Hòn Đá Bắc, Hòn Đá Nam. Đảo Thổ Châu, lớn nhất, cao nhất, nên thấy từ xa. Gần đó là Hòn Cao và Hòn Từ. Tiếp đến là Hòn Kiến, Hòn Xanh, Hòn Nhạn.
Lan Như ghi chép nhanh. Thổ Châu: hải đăng sừng sững như hỏa tiễn trên giàn phóng. Hòn Cao: dải cát trắng như lưỡi liềm. Hòn Từ: đen, rêu phủ mượt mà. Nàng nói:
– Đẹp quá, thưa anh.
Võ Bằng gật đầu:
– Ngoài vẻ đẹp hình thức, quần đảo còn nét đẹp tâm hồn. Đó là điểm cuối cùng của lãnh hải Việt Nam.
Lan Như reo lên:
– A, tôi có tựa cho bài phóng sự rồi: “Thổ Châu, tiền đồn giữa biển Tây Nam”.
– Tựa có hồn lắm.
Nàng hỏi về lai lịch các đảo. Võ Bằng lắc đầu:
– Ngày mai chúng ta đổ bộ, cô tha hồ hỏi người già thổ địa. Tôi chỉ biết quần đảo là một xã thuộc đặc khu Phú Quốc, dân khoảng hai trăm. Một trung đội biệt hải bảo vệ an ninh.
Lan Như hỏi về tổ chức chiến hạm, về sinh hoạt, hành quân, kỹ thuật, nghề nghiệp…
Mãi một giờ sau, Rạch Gầm bắt gặp một ngư thuyền lạ, kiểu tàu và kiểu sơn đều khác. Võ Bằng truyền lệnh khám xét.
Khẩu đại liên trên đài chỉ huy sẵn sàng. Toán khám xét bốn người mang M16, hạm phó mang Colt 45. Lan Như nhảy theo qua ngư thuyền. Nàng bịt mũi khi mùi cá tanh tưởi xộc vào.
Giấy tờ cho thấy đây là tàu Thái Lan. Hạm phó dùng Anh ngữ đơn giản giải thích họ đã vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Họ lắc đầu cố cãi. Nhân viên báo cáo chỉ thấy hải sản, không thấy hàng bất hợp pháp. Hạm phó xin lệnh. Võ Bằng cho lệnh đuổi khỏi vùng kèm cảnh cáo.
Hai tiếng sau, thêm ba ngư thuyền mang danh bộ lạ xuất hiện. Một của Cam Bốt, hai của Mã Lai. Một chủ tàu Mã Lai cưỡng lệnh trục xuất, nhất quyết đây là vùng biển tự do. Giọng ông ta cứng, mắt đỏ ngầu. Rạch Gầm báo cáo Vùng 4. Một duyên tốc đỉnh được điều đến kéo ngư thuyền về An Thới.
Sau khi bàn giao, Võ Bằng cho chiến hạm hướng về mũi Cà Mau, tuần phòng trục Thổ Châu – Hòn Khoai. Máy giảm xuống 6 gút, chậm như dạo chơi mà người thì căng mắt quan sát, người thì chú tâm thi hành phần việc giao phó. Sĩ quan hải hành đo gió, tính độ giạt, tránh ghe, xét ghe…
Võ Bằng ghi nhật ký hải hành rồi chỉ thị hạm phó liên lạc mời các đơn vị trưởng dự buổi họp với hạm trưởng trên đảo Thổ Châu sáng mai lúc 10 giờ.
Lan Như có thời gian nhìn Võ Bằng kỹ hơn. Dù không cao bằng cố vấn nhưng tầm vóc gọn gàng, cử chỉ chững chạc khiến anh trông uy nghiêm. Tóc húi cua, cháy nắng. Đôi mắt đen sâu, dưới hàng mi rậm. Gương mặt khắc khổ nhưng đôi môi như lúc nào cũng mỉm cười, làm giảm đi nét xương xẩu. Ánh mắt lúc trầm ngâm thì lạnh lùng, lúc trò chuyện lại tinh nghịch. Và nàng thấy lòng thêm chút cảm tình.
***
Bữa cơm tối đầm ấm. Lan Như vui vẻ trả lời mọi câu hỏi của các sĩ quan. Nàng 26 tuổi. Tốt nghiệp Đại học Văn Khoa. Bốn năm làm phóng viên. Chưa có gia đình và cũng chưa nghĩ đến.
Cứ mỗi khi Lan Như trả lời là anh nghiêng mặt ngắm nàng. Vóc dáng không phải kiểu đẹp lộng lẫy nhưng khuôn mặt thanh tú với đôi mắt sáng toát lên vẻ thông minh và cương nghị. Cách nói chuyện có duyên, thẳng thắn, chuyên nghiệp, từng trải. Trong cuộc tuần phòng đơn độc giữa biển khơi, có được một người đồng hành như nàng thì coi như… trời ưu ái!
Trong lúc ăn tráng miệng và uống cà phê, Võ Bằng thân ái hỏi:
– Cô từng tháp tùng hành quân với nhiều đơn vị bộ binh, vậy khác với ngoài biển ra sao?
– Hoàn toàn khác lạ. Không gian lạ, nếp sống lạ. Bộ binh thì bụi đời, vất vả; hải quân thì lúc nào cũng tươm tất, nhàn hạ.
Cả bàn bật cười. Võ Bằng đấm nhẹ lên bàn, phản đối:
– Cô đưa nhận xét đó vào bài viết là thiếu công bằng. Như cô thấy đó, khi tàu rời bến, mọi người cũng đều vất vả, bụi đời.
Lan Như mỉm cười:
– Đồng ý mọi người vất vả nhưng ngoài biển… không có bụi.
Tiếng cười lại rộ lên. Võ Bằng lắc đầu:
– Tôi sợ lối ngụy biện của cô. Còn nhận xét nào… ác độc nữa không?
Lan Như cười tươi:
– Bây giờ thì vào chính đề. Thưa anh, cho biết tổng quát về lực lượng Hải Quân.
Võ Bằng nhìn quanh:
– Ai đáp lời cô Lan Như?
Thiếu úy Bùi Anh Tuấn ngồi cuối bàn:
– Theo tôi còn nhớ, năm 1955, Pháp bàn giao lực lượng Hải Quân cho chính phủ Ngô Đình Diệm. Lúc đó có 4 ngàn người và 200 tàu đủ loại. Hiện tại đã tăng lên 15 ngàn người và 900 tàu. Mười bốn năm, hải lực tăng khoảng bốn lần.
Thiếu úy Đỗ Văn Lũy giơ tay:
– Tôi từng phục vụ khối quân huấn nên có biết việc tăng trưởng của Hải Quân. Dự phóng từ nay đến ba năm tới, Hoa Kỳ sẽ lần lượt chuyển giao tất cả chiến hạm, chiến đỉnh và các căn cứ của họ đang tham chiến cho Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Do đó Khối Quân Huấn phải đào tạo 27 ngàn thủy thủ. Các sĩ quan tương lai thì theo học ở ba trường Thủ Đức, Sinh viên Sĩ quan, và OCS ở Mỹ. Các hạ sĩ quan và thủy thủ thì có Trung tâm Huấn Luyện Nha Trang, Cam Ranh và ACTOV.
Lan Như hỏi:
– OCS và ACTOV là gì?
Thiếu úy Lũy:
– Xin lỗi quen miệng. OCS là viết tắt của chữ Officer Candidate School. Còn ACTOV là Accelerated Turn Over, chương trình chuyển giao cấp tốc đơn vị Hoa Kỳ cho Việt Nam. Chương trình này đã khởi sự thực hiện từ đầu năm nay.
– Xin cho biết về chiến thuật, chiến lược của Hải Quân.
Võ Bằng đáp gọn:
– Trả lời đầy đủ thì dài dòng. Tóm tắt là thế này. Về chiến lược: bảo vệ biển đảo, kiểm soát sông ngòi. Phối hợp liên quân. Về chiến thuật: tuần tiễu, chận xét, truy kích, tiêu diệt. Mỗi chủ đề có những chi tiết thực hành. Thí dụ về tuần tiễu: xác định loại mục tiêu, tốc độ, hướng đi. Giữ khoảng cách một hải lý. Tiếp cận chéo góc tránh bị tấn công bất ngờ. Dùng 76 ly bắn đài chỉ huy địch, 40 ly kép quét triệt tiêu hỏa lực.
– Tại sao không bắn chìm?
– Đó là giải pháp cuối. Bắt sống trọn tàu có lợi hơn.
Lan Như nhìn quanh bàn, nhỏ nhẹ nói:
– Thưa quý anh, tháng rồi tôi có tham dự lễ khánh thành tượng Đức Thánh Trần ở công trường Mê Linh bến Bạch Đằng. Hôm đó tôi có thắc mắc nhưng nhiều việc nên quên. Xin cho biết hình ảnh Ngài chỉ tay xuống dòng sông mang ý nghĩa gì?
Võ Bằng hỏi:
– Ai trả lời câu hỏi này?
Trung úy Bùi Anh Tuấn đáp nhanh:
– Năm 1285, khi vua Trần Thánh Tông muốn hàng trước thế giặc mạnh, Đức Trần Hưng Đạo khẳng khái nói: “Bệ hạ chém đầu thần rồi hãy hàng”. Ba năm sau, quân Nguyên lại xâm lược. Lúc khởi binh đánh trận Bạch Đằng, Ngài chỉ tay xuống dòng sông Hóa thốt lời thề khẳng khái: “Không thắng giặc, thề không trở lại bến sông này.”
Lan Như lặng đi. Tiếng máy tàu mà nàng tưởng như tiếng sóng đang gầm đâu đó, vọng về từ Bạch Đằng xa xưa. Nàng hỏi:
– Có phải Hải Quân tôn Ngài làm Thánh Tổ vì ba chiến thắng lớn?
– Đúng. Đó là ba trận Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng. Nhưng hơn thế nữa: Ngài rất hiểu biển, hiểu dân, hiểu sức mạnh đoàn kết.
– Vua nào sắc phong Ngài là Thánh?
– Không có vua nào sắc phong hết. Toàn dân tin Ngài là linh tướng trấn giữ đất nước, độ dân bình an. Tỉnh nào cũng lập ít nhất một bàn thờ thờ Ngài.
Lan Như trầm tư một lúc rồi thở dài:
– Ngày xưa học sử, tôi học như con vẹt. Không thấy ý nghĩa sâu xa! Cám ơn các anh.
Võ Bằng mỉm cười, giọng trầm ấm:
– Còn sâu xa hơn, Đức Thánh Trần không chỉ là một tướng giỏi, mà còn là nhà tư tưởng.
Lan Như ngac nhiên:
– Nhà tư tưởng?
– Cô chưa đọc “Hịch Tướng Sĩ” và “Binh Thư Yếu Lược”?
– Tôi chỉ học “Hịch Tướng Sĩ”.
– Đó là một thiếu sót lớn với một phóng viên.
Lan Như mím môi, nhăn mặt:
– Quyển ấy quá xưa rồi, giờ còn ích gì?
– Ngược lại, đó là một binh pháp cho mọi thời đại. Chiến trường đâu chỉ là súng đạn…
– Xin anh nói rõ…
Võ Bằng đứng lên, dáng mạnh mẽ:
– Bữa cơm đã lâu, trời cũng đã tối. Tôi phải lên đài chỉ huy. Trưa mai tiếp tục.
Anh lững thững ra cửa. Đang háo hức muốn biết mà Võ Bằng tỉnh bơ bỏ đi, Lan Như ấm ức nhìn theo. Nàng lẩm bẩm: “Được rồi! Anh làm khó tôi. Ngày mai sẽ biết tay!”
Chương 22
Đổ bộ Thổ Châu
Rạch Gầm ngưng máy, thả trôi trong vịnh phía Tây đảo Thổ Châu, cách bãi Ngự hai cây số. Tiếng xích khua, tiếng ầm của chiếc neo sầm sập đổ xuống chìm sâu 18 thước. Con tàu khựng lại báo hiệu neo đã bám. Đồng hồ chỉ 10 giờ 5 phút.
Gió nhẹ nhàng như hơi thở của đại dương. Ánh nắng dát vàng lên mặt vịnh, nước trong vắt để lộ một thế giới vô cùng kỳ ảo: những rạn san hô hình nấm màu tím ngát đến những rạn như cành cây màu đỏ rực, các bụi cỏ biển mềm mại uốn lượn, các đàn cá nhỏ thong dong và những bóng cá thu nháng bạc thoắt ẩn thoắt hiện như những chiến đấu cơ tí hon đang tuần phòng lãnh hải riêng của mình.
Từ chiến thuyền áp sát, Thiếu úy Lê Trung Cang bước lên boong Rạch Gầm với dáng vẻ dứt khoát. Đúng lúc ấy, Hạm trưởng Võ Bằng cùng cố vấn Mỹ và nữ phóng viên Lan Như từ đài chỉ huy bước xuống. Thiếu úy nghiêm chào rồi mời qua chiến thuyền.
Võ Bằng căn dặn Hạm phó Tiến:
– Cẩn thận canh chừng neo trốc. Cho nhân viên không trực lên đảo nhưng giờ chót về tàu là 2 giờ chiều.
– Rõ, thưa Hạm trưởng.
Võ Bằng hỏi Thiếu úy Cang:
– Anh giúp cho ghe đưa đón được chứ?
– Dạ được.
Bãi Ngự hiện ra như một dải lụa trắng mềm mại ôm lấy triền cát hình cánh cung. Những chiếc thuyền thúng đậu san sát cùng với vài đứa bé đang chạy nhảy trên bãi cát.
Những mái nhà tranh lẩn trong rừng dừa và những cây bàng cổ thụ, tạo thành bức tranh thủy mặc an nhiên, thư thái. Phía cuối đảo, những đợt sóng không ngừng vỗ vào ghềnh đá rong rêu, vẽ nên một đường viền trắng xóa. Xa khơi, nhiều ghe câu rải rác im lìm như còn chìm sâu trong giấc ngủ.
Nơi bãi ủi, một số người đang đứng lóng ngóng. Khi phái đoàn đã lên bờ, một trung niên vạm vỡ bước đến chào:
– Xã trưởng Phan Văn Tâm xin chào Hạm trưởng và phái đoàn.
Võ Bằng bắt tay:
– Rất vui được gặp xã trưởng.
Cố vấn nồng nhiệt bắt tay. Tiếp theo là Trung úy Trương Văn Hiền, trưởng toán Duyên tốc đỉnh và Chuẩn úy Cao Thanh, trưởng toán hải kích. Một số dân đảo tò mò nhìn. Năm đứa bé bám theo Lan Như vuốt ve chữ “Báo Chí” trên áo khoác và xin chụp hình. Lan Như chụp từng đứa. Đứa nào cũng tỏ vẻ vui thích dù không thấy hình ra sao.
Xã trưởng Tâm vồn vã mời về trụ sở. Đó là một căn nhà mái tranh vách đất rộng lớn. Khói hương từ bàn thờ trầm quyện không gian tĩnh lặng. Bàn ghế kê thành hình chữ U. Mỗi chỗ ngồi để sẵn một ly nước dừa. Tấm hải đồ quần đảo Thổ Châu với chín đảo lớn nhỏ treo trang trọng trên tường thu hút mọi tia nhìn. Lan Như vội chụp vài ảnh rồi ghi tốc ký sự kiện vào sổ tay.
Khi tất cả an vị, Xã trưởng lên tiếng:
– Thưa Hạm trưởng và quý vị. Đảo Thổ Châu rất hân hạnh được đón tiếp Hạm trưởng và quý vị. Với tư cách xã trưởng, tôi xin tiếp nhận mọi câu hỏi về hành chánh và trả lời theo hiểu biết. Về quân sự, có Trung úy Hiền.
Võ Bằng hỏi về tình hình an ninh và cách thức bảo vệ dân. Xã trưởng đáp:
– Thưa dân số là 495 người, phần lớn là ngư dân. Tình trạng an ninh tốt. Chưa từng xảy ra phá hoại, khủng bố, ám sát.
– Dân số phân phối trên toàn quần đảo ra sao?
– Trong chín đảo, chỉ có đảo này là có dân.
– Lý do?
– Các đảo khác quá khô cằn, không có nước ngọt. Ngay với đảo này, chỉ có Bãi Ngự là ở được. Ở bãi Dong, phía đông, cũng chỉ vài ngư dân tạm trú.
– Gần ba trăm dân, coi như khá đông. Anh cho bảo vệ an ninh ra sao?
– Đảo may mắn được biệt phái cho một trung đội hải kích.
Võ Bằng ngạc nhiên:
– Bảo vệ dân bằng hải kích? Tôi tưởng nghĩa quân đúng hơn.
Chuẩn úy Thanh trình bày:
– Thưa Hạm trưởng, vì Thổ Châu là tiền đồn quan trọng, là đảo biên ải, có Thổ Châu là có chủ quyền phần lớn vịnh Thái Lan nên các nước đều muốn chiếm, nhất là Cao Miên. Hải kích vừa bảo vệ dân vừa bảo vệ đảo.
Võ Bằng gật đầu hài lòng. Lan Như hỏi:
– Chỉ một trung đội, làm sao canh phòng hữu hiệu cho cả chín đảo?
Chuẩn úy Thanh:
– Như anh Xã trưởng trình bày, tám đảo kia khô cằn, họ có chiếm cũng không ở được. Tuy vậy chúng tôi vẫn thỉnh thoảng tung hải kích lên các đảo lục soát.
Lan Như hỏi tiếp:
– Trường hợp phát giác tàu địch mang vũ khí chôn giấu, các anh phản ứng thế nào?
– Hải kích báo cáo Trưởng toán. Chúng tôi phối hợp tung chiến đỉnh, chiến thuyền bao vây, kêu gọi đầu hàng hoặc tiêu diệt.
– Trường hợp chúng bỏ chạy?
– Duyên tốc đỉnh với vận tốc 50 cây số giờ và với hai đại liên dư sức truy đuổi và tiêu diệt.
Lan Như xông xáo tiếp:
– Trong năm qua, kết quả ra sao?
Trung úy Hiền nhíu mày rồi đáp:
– Chúng tôi khám phá nhiều tàu, bắt được bốn, giải giao cho Đặc khu Phú Quốc.
– Bao nhiêu tàu chạy thoát?
– Cũng nhiều. Sau khi được báo, chúng tôi tiến đến thì họ đã rút đi.
– Vậy họ có nội tuyến à?
– Tôi không nghĩ vây. Có thể họ có ghe câu giả dạng canh chừng.
Lan Như hỏi tới:
– Tại sao ta không khám xét bắt ghe giả dạng?
Trung úy Hiền cười:
– Họ ma đầu lắm cô Lan Như ạ. Thấy chúng tôi chạy đến, chỉ việc ném bỏ máy truyền tin, là mọi sự hợp pháp!
Lan Như nghiêm giọng:
– Như vậy, biển là kẻ đồng lõa rồi!
Mọi người bật cười, phá vỡ bầu không khí căng thẳng. Võ Bằng bước đến trước tấm hải đồ, mắt lướt qua mọi người đang lắng nghe. Anh chầm chậm nói:
– Bây giờ chúng ta vào chủ đề buổi họp hôm nay. Tuần vừa qua Bắc cộng cho xâm nhập sáu ngư thuyền chở vũ khí. Khu vực phía đông đã đánh chìm hai chiếc và bắt sống hai. Hai chiếc còn lại chạy thoát ra khơi và không tuần cho biết đang tiến vào vịnh Thái Lan.
Trung úy Hiền hăng hái:
– Các đơn vị bờ phía đông chận được thì phía tây cũng chắc chắn làm được.
Võ Bằng lắc đầu, chỉ lên hải đồ:
– Phía tây của chúng ta không được ưu đãi như phía đông. Phía đông có tới ba đài kiểm báo. Kiểm báo hạm neo ở cửa Cửu Long, đài kiểm báo Côn Sơn và đài Hòn Khoai. Mọi di chuyển của tàu địch đều được thông báo kịp thời. Còn bờ tây, từ đảo Nam Du trở xuống mũi Cà Mau tuyệt không có đài nào. Thổ Châu cũng không.
Võ Bằng uống một hơi nửa ly nước dừa rồi tiếp, giọng dứt khoát:
– Để chận hai chiếc còn lại, chúng ta phải lập một hàng rào chắn từ Thổ Châu đến Hòn Khoai. Và tôi phân công thế này: lực lượng ta chia thành ba toán. Toán một, gồm hai chiến thuyền thuộc Duyên đoàn 42 tuần tiễu quần đảo Thổ Châu. Toán hai, gồm hai duyên tốc đỉnh trách nhiệm trục Thổ Châu – Hòn Chuối. Toán ba, gồm Rạch Gầm và hai chiến thuyền thuộc Duyên đoàn 41 tuần tiễu trục Hòn Chuối – Hòn Khoai. Chúng ta tận dụng radar cơ hữu để phát giác tàu địch. Tầm quan sát hạn chế nhưng có còn hơn không. Chiến hạm Rạch Gầm tổng chỉ huy. Hiệu lực kể từ 8 giờ tối nay. Mời các anh góp ý.
Không ai lên tiếng, anh tiếp:
– Về chiến thuật khi gặp tàu địch, tôi tin là các anh đã biết, nhưng nghe thêm cho nhập tâm.
Võ Bằng tỉ mỉ mô tả các chiến thuật cần được áp dụng. Như cách tạo góc bắn tối ưu, cách ép địch vào thế bất lợi hoặc buộc địch phải ngưng máy chịu sự khám xét và kỹ thuật tê liệt hóa tàu địch. Mỗi lời của Võ Bằng như khắc vào tâm trí những người lính biển.
Lan Như chợt hiểu Võ Bằng không chỉ trình bày cho các sĩ quan mà còn cho bài phóng sự của nàng. Nàng nhìn anh mỉm cười biết ơn. Không một biểu hiệu đáp nhận, anh nghiêm giọng tiếp:
– Trong trường hợp địch xuất hiện cùng lúc hai tàu, chúng ta cần tập trung lực lượng đối phó. Hơn nữa còn tùy địa thế và địa điểm. Lúc đó tôi sẽ xem xét áp dụng chiến thuật thích nghi. Tuyệt đối các anh không được tự tiện phản ứng.
Võ Bằng dừng lại nhìn từng người. Gian phòng vẫn lặng im. Anh tuyên bố:
– Nếu không ai có ý kiến, buổi họp chấm dứt.
Xã trưởng vội nói:
– Mấy thuở được quý vị ghé thăm, xã tôi xin được mời bữa cơm đạm bạc.
***
Bãi biển buổi trưa gió nhẹ man mát. Dưới các ngọn dừa nghiêng nghiêng, bốn bếp than hồng đang rực lửa, bốn bà nội trợ đang nướng các món ăn. Trên chiếc bàn tre dài, bữa tiệc đồ biển đã được bày biện: tôm, cá thu nướng vàng ươm, mực tươi nướng giòn, ghẹ hấp nước dừa, nhím biển và trứng nhạn.
Lan Như nghĩ thầm: “Thế này nhà giàu chưa chắc dám ăn chớ đạm bạc nỗi gì!”
Nàng hỏi một chị đang đứng gần:
– Chào chị. Thức ăn biển, món nào cũng hấp dẫn nhưng không thấy… thịt rừng?
– Dân trên đảo không ai thích thịt rừng dù đảo nhiều chim, nhiều khỉ.
– Có rắn không?
– Không chỉ rắn mà cả trăn. Nhưng chúng hiền lắm, chưa bao giờ cắn ai.
– Tuyệt nhiên không thấy.
Lan Như ăn thử trứng nhạn. Ngon không thua trứng gà.
– Thưa chị, trứng nhạn chị mua ở đâu? Sài Gòn không thấy bán.
Chị cười:
– Ở đây thiếu gì, ăn không hết. Suốt trọn nửa năm, bắt đầu từ tháng mười, hàng vạn con nhạn tụ họp về đẻ trứng trên một hòn đảo. Chính vì vậy hòn đảo mang luôn tên Hòn Nhạn, ở phía nam đảo này.
Chuẩn úy Thanh nghe được, góp lời:
– Nếu chị thích, tôi sẽ đi hốt trứng biếu chị một thùng.
Lan Như lắc đầu:
– Cám ơn anh, tôi còn công tác lâu ngày, trứng hư hết.
Ngoài trứng nhạn, Lan Như cũng chưa hề ăn nhím. Nàng bước đến bên chị đang nướng nhím. Con nhím đầy gai bao quanh, phải vất vả lắm mới có thể tách hai mà không bị lông nhím đâm đổ máu. Thịt nhím có màu hơi vàng trong chất dẻo như lòng trắng trứng. Nàng quyết định ăn thử nên múc một muỗng, nhắm mắt nuốt ực. Hóa ra hương thơm vị ngọt rất ngon. Và nàng ăn ngon lành hết sạch. Võ Bằng bước đến, cười đùa:
– Đi tàu lâu ngày mà cho ăn món này thì… ác hết biết!
Lan Như ngạc nhiên hỏi:
– Sao lại ác?
Võ Bằng nhăn mặt:
– Khó mà diễn giải.
– Lan Như rất muốn biết.
– Đông y cũng như Tây y đều công nhận thịt nhím chứa nhiều chất dinh dưỡng.
Thấy Võ Bằng ngưng lâu, nàng giục:
– Anh nói tiếp đi. Nhiều dinh dưỡng thì tốt chớ sao lại ác?
– Ác là thế này. Khi chồng ăn thì nhớ vợ, hoặc ngược lại.
Lan Như đập bàn tay vào vai Bằng:
– Quỷ sứ!
Ngay lúc đó, xã trưởng bước tới. Lan Như liền hỏi:
– Thưa anh xã trưởng, từ đâu mà có tên đảo Thổ Châu?
– Theo ông bà nói lại, thời Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ đánh nhau, Nguyễn Ánh yếu thế, bôn tẩu ra đây và đặt tên đảo Thổ Châu có nghĩa là đất quý. Còn cái bãi biển này là nơi ông thường họp bàn thế sự nên đặt là Bãi Ngự.
– Tôi đã biết lý do có tên Hòn Nhạn. Còn Hòn Xanh thì sao?
– Cũng cùng lối đặt tên. Hòn Xanh vì đảo phủ đầy cây xanh, không như các đảo còn lại phần lớn là đá tảng. Nếu cô có thì giờ tôi sẽ đưa cô đi một vòng viếng đảo, xem cột mốc chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa và lên hải đăng ngắm toàn cảnh quần đảo. Từ độ cao 140 thước, cô sẽ ngất ngây với trời mây nước, nhất là tám đảo nhỏ quanh đảo lớn, trông như đàn cá con bên cá kình mẹ. Cuối cùng xuống viếng Bãi Dong, đẹp không thua Bãi Ngự.
Lan Như mơ màng tưởng như đang chụp các phong cảnh tuyệt vời dù tiếng xã trưởng rót đều vào tai:
– Trên đường mòn xuyên rừng, nhiều loại cây lạ, bông lạ khiến say mê quên hết nhọc nhằn. Cô còn được nghe nhiều tiếng chim hòa quyện líu lo. Đó là tất cả lý do tôi không muốn rời bỏ nơi này.
Lan Như nhìn cây bàng cổ thụ cạnh nhà dân gần đó. Cây đồ sộ có dáng hình vuông, rễ thòng tận đất. Cành cong queo như trải qua bao năm tháng nhọc nhằn. Nàng thích quang cảnh ở đây. Hoang dã. Thanh bình. Man mác. Nàng nói:
– Gợi ý của anh hấp dẫn lắm. Để tôi hỏi hạm trưởng…
Nàng bước đến Võ Bằng đang nói chuyện với cố vấn. Anh nghiêng mặt tỏ dấu sẵn sàng nghe Lan Như. Nàng nhỏ nhẹ nói:
– Anh xã trưởng có nhã ý muốn đưa Lan Như viếng hải đăng và mốc chủ quyền. Liệu Lan Như đi được không?
Võ Bằng không trả lời, hỏi lại:
– Cô có biết đảo này còn có tên tiếng Mã Lai ghi trên hải đồ không?
Dù thấy anh vô duyên nhưng nàng vẫn vui vẻ trả lời:
– Thưa anh không!
– Tên là Poulo Panjang. Poulo là đảo, panjang là dài. Nghĩa là tên được đặt theo hình dạng của đảo.
Anh cười chúm chím khiến nàng đổ quạu:
– Tôi chỉ muốn anh trả lời được hay không thôi.
Võ Bằng nhởn nhơ:
– Chi tiết tôi vừa nêu cũng cần cho bài phóng sự của cô.
– Cám ơn anh.
– Còn chi tiết này là cho riêng cô: đường từ đây đến hải đăng xa 2 cây số, phải leo núi băng rừng. Cô đã từng nếm mùi băng rừng lội suối. Vậy hãy thử tính xem phải cần bao nhiêu thời gian vừa đi vừa về?
Lan Như còn đang ngẩn ngơ thì Võ Bằng lắc đầu, lạnh lùng:
– Rất tiếc là không. Chúng ta sắp về tàu. Không thể bỏ tàu lâu được!
Lan Như ngoe nguẩy bước trở lại bàn ăn, lòng ấm ức. Nàng bốc con mực đưa lên miệng cắn thật mạnh. Mực thơm ngon, ngọt ngào mà sao vẫn thấy đắng ngắt.
Chương 23
Đường qua Hòn Chuối
Vẫn mặc áo khoác xanh với hai chữ Báo Chí trắng nổi bật, Lan Như đứng tựa dây an toàn sân trước, chú tâm theo dõi toán kéo neo. Theo lệnh từ đài chỉ huy, Hạm phó Tiến cho máy kéo quay từ từ. Dây neo căng, cuộn dần vào trục, con tàu nhích tới đến khi dây neo thẳng đứng. Từng người, mỗi động tác thành thạo, phối hợp nhịp nhàng. Rồi chiếc neo đen sì trồi lên, nước chảy ròng ròng. Tiếng kim loại chạm nhau vang khô khốc.
Lan Như nghe nao nao. Lại thêm một ngày dấn thân, thêm một chương mới cho nghề nghiệp. Một chương chắc chắn nàng chưa từng trải qua.
Hạm phó báo vào điện thoại nội bộ:
– Đài chỉ huy, neo đã vào ổ.
– Giải tán!
Tiếng máy chánh khởi động, trầm và đều, thân tàu hơi rung. Nước sau lái sôi sùng sục. Rạch Gầm từ từ tiến ra khỏi vịnh Bãi Ngự, trực chỉ hướng đông-nam. Lan Như bước theo hạm phó lên đài chỉ huy nhưng anh tạt qua phòng chiến báo.
Vẫn khung cảnh quen thuộc: Võ Bằng đứng bên cánh phải, cố vấn Mỹ tựa trụ la bàn. Hai quan sát viên đứng hai bên người giữ bánh lái, mắt dán vào mặt biển phía trước.
Lan Như đến đứng bên cánh trái, cạnh sĩ quan trực phiên. Biển xanh đục, từng đợt sóng bạc đầu vỗ nhẹ mạn tàu. Rạch Gầm thỉnh thoảng nhẹ lắc khiến đầu Lan Như nghe nằng nặng. Gió đã mạnh hơn buổi sáng mang theo hơi ấm biển khơi. Lan Như lắc đầu cho mái tóc xõa tung, có cảm giác dễ chịu như đầu mới được gội.
Võ Bằng chợt liếc sang, giữ tia nhìn hơi lâu. Hiếm có một cô gái trẻ tuổi, xinh đẹp đến vậy lại ngang nhiên chọn một nghề nguy hiểm. Hẳn phải có một nguyên cớ sâu xa. Thông thường chỉ khi tuyệt vọng hay tổn thương, người ta mới dám đứng gần cái chết đến thế.
Anh nhìn kỹ hơn, như sẽ nhìn thấy nguyên nhân hiện ra đâu đó. Gương mặt trái xoan, mắt to, sáng long lanh; sống mũi thon, đôi môi đầy đặn, mái tóc mướt đen chấm vai. Nguyên nhân không thấy nhưng lại thấy những đường nét ở nàng anh từng thuộc nằm lòng nơi một người con gái khác. Hình ảnh Huỳnh Như Oanh: cũng khuôn mặt ấy, nhưng thêm một đồng tiền ở má trái, thêm một nụ cười mà mỗi lần nhớ đến, tim anh dao động.
Hai vẻ đẹp gần giống nhau, một đang bên anh, một ở tận Sài Gòn, ai đã khiến hồn anh xao xuyến?
Tiếng nói qua ống loa từ phòng chiến báo kéo anh khỏi dòng suy tư:
– Báo cáo đài chỉ huy, phong vũ biểu đang xuống thấp.
Võ Bằng hỏi:
– Hiện áp suất bao nhiêu?
– Thưa đúng 1000 hPa.
Anh ngước nhìn bầu trời. Mới đó mà mây đã kéo phủ đầy, gió mạnh hơn, sóng bạc đầu cao hơn. Mùi dầu diesel trộn vào không khí oi bức, ngột ngạt.
Lan Như bước tới cúi nhìn hải đồ, hỏi sĩ quan đương phiên:
– Chừng nào mình mới tới Hòn Khoai, trung úy?
Trung úy Bùi Anh Tuấn đo đạc nhanh, trả lời:
– Nếu không có gì xảy ra, khoảng 9 giờ tối. Nhưng mình đến Hòn Chuối trước. Đến đó độ 7 giờ.
Lan Như nhớ buổi họp ban trưa: Võ Bằng đã ấn định tám giờ tối là giờ khởi sự kế hoạch ngăn chặn. Đó là lý do anh cho tàu nhổ neo sớm, để kịp tuần tiễu trục trách nhiệm Hòn Chuối – Hòn Khoai. Quân lệnh phải nghiêm minh. Nàng không viếng được hải đăng là đúng. Nàng hướng mặt về anh, tặng một ánh nhìn cảm thông thân mến. Nhưng Võ Bằng đang dõi mắt ra khơi…
Anh hỏi mà mắt không rời đường chân trời:
– Cô Lan Như chịu được say sóng chứ?
Nàng cười:
– Hiện tại thì… chưa thấy gì.
Tiếng anh êm và ấm:
– Ở ngoài biển, kẻ thù không chỉ là súng đạn, mà còn là sóng gió.
Như tán đồng lời hạm trưởng, Rạch Gầm khẽ rùng mình, lắc lư.
Nhân viên vô tuyến trao Võ Bằng công điện khẩn. Anh đọc lướt rồi nói:
– Tin báo có bão. Cô phóng viên sắp có dịp trổ tài tường thuật trận bão ngoài khơi.
Lan Như xoa tay:
– À, hay tuyệt. Bài phóng sự sẽ thêm phần hấp dẫn: vừa hải chiến với quân địch, vừa hải chiến với bão bùng.
Anh quay nhìn nàng. Câu nói tưởng là đùa ấy lại mang một tâm trạng bình thản lạ lùng. Hai trận chiến – trận nào cũng có thể lấy mạng người – mà nàng nói như sẵn sàng đón đợi.
Trung úy Tuấn vừa xong đo đạc xác định vị trí chiến hạm, Võ Bằng bước đến xem qua rồi hỏi cố vấn:
– How about coffee?
– No, sir. Thank you.
Anh hỏi Lan Như:
– Cô uống cà phê chứ?
– Uống ghiền, sáng một trưa một.
– Vậy thì mời cô.
Võ Bằng bước đến cầu thang. Trung úy Tuấn hô “nghiêm”. Lan Như và cố vấn theo sau. Tất cả vào phòng ăn. Tiếng quân cờ domino kêu lộp cộp trên mặt bàn nỉ xanh im bặt. Hai sĩ quan ngẩng lên chào.
Cố vấn lấy ly nước đá rồi về buồng riêng. Võ Bằng rót hai ly cà phê, Lan Như cầm dĩa đựng các gói đường đem ra bàn. Cả hai im lặng khuấy đường, tiếng muỗng chạm ly vang nghe vui tai.
Võ Bằng lên tiếng:
– Tối hôm qua tôi còn nợ cô về nội dung quyển Binh Thư Yếu Lược. Bây giờ, mời cô cứ hỏi tự nhiên.
Lan Như chợt nhớ, vội xin lỗi rồi về buồng lấy máy ghi âm để lên bàn. Nàng nói khi bấm nút:
– Phải thú thật, đêm qua Lan Như mất ngủ vì Binh Thư Yếu Lược. Nhất là câu anh nói Đức Trần Hưng Đạo không chỉ là một vị tướng tài ba lỗi lạc mà còn là một nhà tư tưởng, nhà chính trị xuất sắc. Những tác phẩm chính trị, quân sự kinh điển của Ngài như Binh Thư Yếu Lược và Hịch tướng sĩ có giá trị muôn đời. Xin anh nói rõ hơn…
Võ Bằng mỉm cười, chậm rãi:
– Ở chương mở đầu, Ngài dạy: “Người làm tướng trước hết phải tu thân, giữ tín, trọng nghĩa, khiến quân như con, dân như nước. Có như vậy, thiên hạ mới yên.” Rồi tiếp: “Khoan thư sức dân làm kế bền gốc sâu rễ” và “lấy nhân nghĩa mà giữ nước”. Tóm lại, làm tướng, trước hết phải thắng mình, kế đến là chăm lo đời sống cho dân, phải biết thương và không áp bức dân, tạo sự vững mạnh từ gốc rễ thì mới mong thắng giặc. Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo cũng nói: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.
Lan Như chống cằm, mắt sáng ánh tinh nghịch:
– Những điều Ngài dạy, Hạm trưởng Võ Bằng đã làm được bao nhiêu?
Anh bật cười:
– Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ biển đảo, bảo vệ dân khỏi bị xâm hại, giữ ngư trường không bị nước khác chiếm. Làm được bao nhiêu thì không biết, chỉ biết đã làm hết sức mình.
Giọng nàng mềm hơn:
– Anh có tin vào sự linh ứng của Đức Thánh?
– Tin chứ. Nhưng không theo nghĩa siêu nhiên. Thánh không vì phép lạ. Thánh là đạo lý, là sức mạnh tinh thần. Tôi tin vào điều đó.
– Quyển Binh Thư đã hơn sáu trăm năm rồi, có còn giá trị thời nay, khi chiến tranh có hàng không mẫu hạm, phi cơ phản lực, hỏa tiễn?
– Vũ khí thay đổi, con người thì không. Ý chí – kỷ luật – lòng tự trọng – trách nhiệm với quốc gia… không bao giờ cũ.
Lan Như dường bừng tỉnh:
– Ngày xưa học Hịch Tướng Sĩ, Lan Như nhớ mãi đoạn Ngài nói về nỗi đau nỗi hận trước hiếp đáp của quân thù: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa…” Bây giờ nhắc lại còn nổi gai ốc.
– Đó là tiếng lòng của người gánh trọng trách với đất nước, dám nói với vua: “Muốn hàng, hãy chém đầu thần trước.”
– Bây giờ Lan Như đã hiểu vì sao Ngài thắng cả ba trận Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, giữ vẹn toàn đất nước. Tinh thần yêu dân yêu nước, tinh thần quyết tử mạnh hơn sức mạnh quân sự.
Võ Bằng gật đầu:
– Cô đã thấu đạt nghĩa lý.
Lan Như đăm đăm nhìn anh, khẽ gọi:
– Anh Bằng này… Phải nói Lan Như vừa có được một đề tài hẳn là hay nhất trong đời phóng viên. Lan Như vững tin đất Việt mãi là của người Việt, dù sống bên gã khổng lồ ma giáo.
– Còn Hịch Tướng Sĩ, còn Binh Thư Yếu Lược, còn Bình Ngô Đại Cáo là còn Việt Nam.
Cả hai im lặng một lúc, nhìn hai sĩ quan mải mê chơi domino.
Võ Bằng lên tiếng trước:
– Này cô Lan Như…
– Gì anh?
– Tôi vẫn thắc mắc sao cô chọn nghề nguy hiểm thế này? Lẽ ra cô nên có một gia đình êm ấm.
– Ba Lan Như làm quận trưởng, bị Việt cộng sát hại năm 60. Mẹ bệnh mất vài năm sau. Lan Như tuyệt vọng, muốn tự tử. May có đứa bạn thân khuyên lơn, đưa vào làm nghề báo. Hai năm phóng viên đô thành vẫn buồn, Lan Như xin học khóa phóng viên chiến trường. Đối diện với cái chết và chết… dễ hơn!
Võ Bằng ngạc nhiên:
– Có khóa huấn luyện thật sao? Tôi chưa từng nghe nói. Ai tổ chức?
– Nha Báo Chí, Bộ Thông Tin. Thí sinh phải tốt nghiệp Văn khoa hoặc Học viện Quốc gia Hành chánh. Lại thêm phải hội đủ điều kiện khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần.
Võ Bằng nghiêng mặt ngắm Lan Như, cách ngắm nghía khiến hai sĩ quan phì cười. Thấy nàng tỉnh bơ, Võ Bằng gật gù:
– Cô đúng là hội đủ hai điều kiện đó. Còn gì nữa?
– Khóa học một năm, rất khắt khe.
– Họ dạy những gì?
– Ba tháng đầu, học lý thuyết về an toàn sinh mạng, về cứu thương. Ba tháng kế, thực tập sức chịu đựng trong điều kiện khắc nghiệt giữa môi trường thù địch, rồi học phương thức đào thoát.
– Cô học về an toàn sinh mạng mà sao không thấy mang theo áo giáp nón sắt?
Lan Như cười:
– Ông chủ nhiệm bảo khỏi cần mang, trên tàu có sẵn.
– Vậy là phần nào… liều mạng rồi! Còn gì nữa?
– Nếu qua được sáu tháng đầu, sáu tháng sau được gửi thẳng ra sa trường.
Võ Bằng lắc đầu:
– Đến nay, theo cô nói, cô bước vào chiến trường năm thứ ba.
Lan Như hãnh diện đáp:
– Đúng.
– Chưa từng thấy cô nào… chì như cô.
Nàng mỉm cười, mắt long lanh nhìn Võ Bằng không bằng lối tò mò của phóng viên mà bằng tia trìu mến. Nàng nghiêm giọng:
– Bây giờ đến lượt Lan Như hỏi. Anh được mấy cháu rồi?
Võ Bằng cười nhạt:
– Biển mênh mông quá nên ai cũng xa rời. Cũng như cô vậy thôi, chúng ta sống bằng những chuyến đi không nghĩ ngày về.
Câu nói khiến Lan Như bất giác xúc động. Nàng tắt máy ghi âm. Từ giờ phút này nàng chỉ muốn ghi lại bằng trí nhớ và trái tim…
Tiếng điện thoại reo vang. Một sĩ quan bước vội lại nhấc máy nghe rồi trao Võ Bằng:
– Thưa Hạm trưởng, đài chỉ huy muốn gặp.
Võ Bằng áp máy:
– Tôi nghe đây.
Mọi người nhìn anh chờ đợi. Anh gác máy, giọng dứt khoát:
– Radar phát hiện hai mục tiêu di chuyển nhanh.
Anh bước vội ra cửa, nói vói lại:
– Báo cố vấn biết.
Hai sĩ quan đứng lên. Lan Như lật đật chạy theo Võ Bằng.
***
Biển tây nam Cà Mau chiều xuống rất nhanh.
Mới sáu giờ, mặt trời hướng Hòn Khoai chỉ còn dải đỏ mong manh bị nuốt dần vào đám mây đen. Gió đổi hướng, không mạnh nhưng mang theo mùi sình lầy vùng tận cùng đất nước. Sóng bạc đầu dồn dập, mặt nước sẫm dần màu mực tàu.
Ngọn hải đăng Hòn Chuối chớp đều một luồng sáng trắng, mười giây một vòng, như cảnh báo những ai đang qua vùng bất trắc…
Võ Bằng nói nhỏ với Lan Như:
– Biển động là thời điểm địch hay lợi dụng xâm nhập. Hai mục tiêu kia, rất có thể là hai ngư thuyền giả dạng. Thế nào cũng đụng độ. Cô nên chuẩn bị hành nghề…
Lan Như đi vội về phòng. Nàng mặc áo giáp, đội mũ sắt, tay cầm chiếc máy ảnh. Một cảm giác bất an nổi lên. Nếu đụng trận thật, Võ Bằng là người đứng đầu sóng ngọn gió…
Chương 24
Lại hải chiến…
Khi Lan Như trở lên đài chỉ huy, Võ Bằng không còn đó. Không ai mặc áo giáp hay đội nón sắt. Nàng ngượng ngùng, cởi cả hai treo lên móc sắt trên vách. Giọng Võ Bằng khô khốc vang lên từ ống loa:
– Sĩ quan trực. Liên lạc hai duyên tốc đỉnh, hai chiến thuyền. Hẹn gặp nhau ở Hòn Chuối trong thời hạn sớm nhất.
– Nhận rõ, thưa Hạm trưởng.
– Có phóng viên Lan Như trên đó?
– Thưa có.
– Nói cô ấy xuống phòng chiến báo.
– Rõ!
Trung úy Tuấn chỉ đường. Nàng xuống tầng kế, gõ cánh cửa mang bảng “Khu Vực Hạn Chế”. Chính Võ Bằng mở cửa. Hạm phó và ba nhân viên hiện diện chào nàng.
Vừa bước vào, Lan Như thấy choáng ngợp. Căn phòng nhỏ hẹp, máy đủ cỡ chiếm kín bốn vách. Giữa phòng đặt một chiếc bàn rộng, phủ tấm mica trong suốt. Ánh sáng xanh lục từ màn hình radar hắt ra, khiến mọi vật chìm trong không gian lạnh lẽo, kỳ bí như đáy đại dương.
Võ Bằng giới thiệu, giọng trầm ấm:
– Đây là Trung tâm chiến báo, Combat Information Center – CIC, bộ óc tác chiến của chiến hạm. Mọi dữ kiện từ radar, vị trí ta–địch, địa hình – được phân tích ở đây, trước khi tôi ra quyết định.
Anh đưa nàng lại gần màn hình radar. Cây kim phát quang đang quay vòng đều đặn, để lại các vết trắng lớn nhỏ. Anh chỉ từng mục tiêu giải thích:
– Vệt dài là bờ biển Cà Mau. Đốm sáng lớn là Hòn Chuối. Rải rác là ghe câu. Hai đốm ở rìa màn hình là hai mục tiêu di động nghi ngờ.
Anh dừng lại, chờ thắc mắc. Thấy Lan Như tỏ vẻ nhận hiểu, anh tiếp:
– Chúng ta sẽ thả trôi ở Hòn Chuối, theo dõi và chờ chúng đến gần rồi bất ngờ đánh úp.
Lan Như cau mày:
– Nhưng trên radar chỉ là hai đốm sáng. Làm sao biết hướng đi, tốc độ của chúng để… đánh úp?
– Cách tính dễ dàng. Nhưng trước hết cô cần biết qua về các hải cụ liên quan.
Võ Bằng đưa nàng trở lại giữa phòng. Anh chỉ lên mặt bàn mà mới đầu nàng tưởng chỉ là tấm mica, nói chậm:
– Tấm mica kẻ độ này là bản trận đồ, nơi ghi dấu mọi đường đi nước bước của ta và địch.
Anh kéo cần máy chia độ có gắn thước đo bên trên bản trận đồ:
– Máy này gọi là DRT – Dead Reckoning Tracer.
– Cách tính thế này. Radar cho vị trí mục tiêu. Ta đánh dấu trên trận đồ điểm thứ nhất. Vài phút sau, đánh dấu điểm thứ hai. Dùng DRT nối hai điểm đó, ta có hướng đi. Đo khoảng cách, chia cho thời gian, ra tốc độ.
Đợi Lan Như nhận diện kỹ trận đồ, anh tiếp:
– Cô thấy đó, bọn chúng đang đi về hướng bắc với tốc độ 16 gút. Khoảng một tiếng nữa, những vị khách không mời này sẽ ngang qua chúng ta nếu chúng định tiếp tế cho bọn nằm vùng Cà Mau.
Lan Như hít sâu, cố ghi nhớ nhưng hàng loạt danh từ chuyên môn lạ hoắc lạ huơ khiến nàng lại mở sổ tay ghi chép. Nàng hoàn toàn không ngờ có ngày mình đặt chân vào một nơi không giống bất cứ nơi nào. Không gian om tối, không khí lạnh lẽo, chỉ có ánh sáng xanh lục của màn hình radar quét vòng, quét vòng… Một sự tĩnh lặng đầy áp lực, đến… nghẹt thở. Nàng siết chặt cuốn sổ, bàn tay và cả cơ thể khẽ run lên. Có phải nàng đang sợ? Chắc là không. Chỉ là con tàu đang rung, đang lắc…
Con tàu lắc lư từ lúc nào, Lan Như không để ý. Bên ngoài, gió rít qua những dây cột cờ, tạo nên âm thanh ù ù não nề, như một lời dọa nạt vô hình. Nàng chợt cảm nhận thân phận mình quá mong manh giữa biển đêm bao la tăm tối.
Nửa giờ sau Rạch Gầm thả trôi phía tây Hòn Chuối. Biển êm dưới gió. Hai chiến thuyền cặp áp mạn. Chuẩn úy Bình từ Delta 5 bước vào CIC trình diện. Võ Bằng thông báo tình hình và hoạt động phối hợp: Một mục tiêu do hai duyên tốc đỉnh trách nhiệm. Mục tiêu còn lại do Rạch Gầm và hai chiến thuyền.
Anh căn dặn Chuẩn úy Bình:
– Đội hình truy kích hàng ngang: Rạch Gầm ở giữa, hai chiến thuyền hai bên, cách nhau năm mươi mét. Tuyệt đối không được tự tiện nổ súng hoặc khám xét khi chưa có lệnh.
– Nhận rõ, thưa Hạm trưởng.
– Chỉ huy trưởng Delta 5 là ai vậy?
– Thưa, Đại úy Tôn Thất Minh.
– Cùng khóa tôi. Nói với Đại úy Minh, tôi sẽ ghé Hòn Khoai nay mai.
– Tôi sẽ chuyển lời.
Chuẩn úy Bình chào rồi rời tàu.
Võ Bằng chỉ thị các nơi im lặng vô tuyến, tắt toàn bộ đèn lộ thiên. Anh khoanh tay nhìn màn ảnh. Hai đốm sáng vẫn chậm rãi nhích lên từng chút. Hai tàu xâm nhập cùng lúc. Chúng diễn trò gì đây? Một cầm chân, một xâm nhập tiếp tế? Cả hai cùng bỏ chạy hay quyết liệt chống trả? Võ Bằng nói vào loa:
– Đài chỉ huy. Hỏi hai duyên tốc đỉnh còn cách Hòn Chuối bao xa?
– Xin chờ.
Một lát, Trung úy Tuấn báo:
– Thưa Hạm trưởng, còn cách hai mươi lăm hải lý.
Võ Bằng thấy vững tâm hơn. Hai đánh một chẳng chột cũng què, huống chi bên anh năm đánh hai. Nhưng giờ phút đợi chờ vẫn trĩu nặng.
Chợt tiếng hạ sĩ quan CIC vang lên:
– Trình Hạm trưởng. Hai mục tiêu còn cách tám hải lý, đang tách ra. Một hướng ra khơi về đảo Thổ Châu, một hướng vào cửa sông Ông Đốc.
Võ Bằng nhìn nhanh bản trận đồ, rồi phát lệnh:
– Trung úy Tuấn. Báo cho Hải Dương 3: mục tiêu 1 ở tọa độ 8.8082 Bắc, 104.5330 Đông đang hướng về Thổ Châu. Yêu cầu ngăn chận.
– Hải Dương 3 nhận rõ.
Võ Bằng giao CIC cho Hạm phó rồi lên đài chỉ huy. Cố vấn và Lan Như theo sát.
Anh đưa ống dòm lên mắt. Phía nam, trời đen đặc, không một ánh đèn. Phía bờ Cà Mau, vài đốm đèn vàng của ngư thuyền chập chờn theo sóng.
– Đài chỉ huy. Radar báo cáo: mục tiêu 1 vẫn hướng về Thổ Châu. Mục tiêu 2 cách sáu hải lý, đang tiếp cận bờ.
Anh đặt loa khuếch đại ngoài thành đài:
– Delta 05, yêu cầu tách khỏi chiến hạm và áp dụng đội hình hàng ngang.
– Nhận rõ.
Anh đặt loa vào bệ, nói với sĩ quan trực:
– Cho máy tiến 1.
Con tàu rùng mình tiến tới. Khi cho máy tiến 3, Võ Bằng ban lệnh tác chiến.
Tiếng còi báo động dồn dập rền vang. Chẳng mấy chốc, các ổ súng đầy người trong áo giáp, nón sắt. Võ Bằng hỏi:
– CIC, cho biết hướng và tốc độ mục tiêu 2.
– Hướng 050, tốc độ 16 gút.
– Cho biết hướng và tốc độ cần chận đầu.
Một khoảng im lặng căng thẳng rồi tiếng nói phát lên:
– Hướng 110, tốc độ 14 gút.
Võ Bằng nói “cám ơn” rồi ra lệnh:
– Lái hướng 110. Hai máy tiến 4.
Những âm thanh quen thuộc – tiếng máy, tiếng nước rẽ – hòa vào nhịp tim mọi người.
Lan Như thắc mắc:
– Khó hiểu quá! Làm sao biết được hướng đi và tốc độ tàu mình cần có để đón đầu tàu địch?
– Nếu thật sự cô cần hiểu cặn kẽ, tôi sẽ giải thích lúc khác. Vắn tắt, cũng nhờ máy DRT, cách tính như trên.
Tiếng PRC-46 vang theo gió:
– Bắc Bình, đây Hải Dương 3. Đã thấy mục tiêu 1. Bắt đầu truy kích.
Võ Bằng nghiêm giọng:
– Hải Dương 3. Hết sức cẩn thận. Chúc may mắn. Nếu cần yểm trợ, báo tôi ngay.
– Nhận rõ, thẩm quyền.
Võ Bằng đưa ống dòm lên. Phía trước, vẫn chỉ bóng tối mịt mùng.
Lan Như bắt đầu thấy khó chịu. Nàng ôm bụng. Nước miếng ứa ra, cổ họng nhờn nhợn. Nàng thầm cầu mong đừng ói, đừng để Võ Bằng cười. Mà ói ra đâu? Chẳng lẽ cho tưới lên sàn. Thấy nàng lúng túng cúi nhìn quanh, một thủy thủ hiểu ý, lặng lẽ kéo chiếc xô ở góc đến cạnh chân nàng. Sợ mở miệng sẽ ói, nàng chỉ gật nhẹ, biết ơn.
– Đài chỉ huy. Mục tiêu 2 cách ba hải lý.
– Súng cối 81. Chuẩn bị hỏa châu. Hướng 1 giờ.
– Nhận rõ.
– Tất cả ổ súng sẵn sàng.
– Đã sẵn sàng!
Không khí như đông đặc. Bắn hỏa châu đồng nghĩa với lộ vị trí – cho cả địch lẫn ta. Nhưng địch có lợi thế hơn. Chúng biết là gặp tàu tuần, sẽ không do dự bắn phủ đầu trong khi ta còn nghi ngờ. Võ Bằng nói với nhân viên âm thoại chuyển lệnh:
– Tất cả ổ súng chú ý. Khi có hỏa châu, nếu địch khai hỏa, phản pháo tức khắc. Riêng khẩu 76 trục xạ hai quả vào đài chỉ huy.
– Nhận rõ.
Thời gian trôi chậm trong im lặng nặng nề. Tiếng từ miệng loa bừng tỉnh mọi người:
– Đài chỉ huy. Khoảng cách 1000 yards. Hướng 1 giờ.
– Bắn hỏa châu!
Một tiếng “bùm” trầm đục vang lên. Quả pháo lao vút, vạch một vết lửa trắng, rồi bung dù, treo lơ lửng như mặt trời đêm. Ánh sáng đổ xuống mặt biển, phơi bày một chiếc tàu đang tiến tới.
Đó không phải ngư thuyền miền Tây. Thân tàu dài, mũi nhọn, sơn màu xám bẩn. Trên boong sau, dưới tấm bạt, là những khối vuông xếp chỉnh tề. Không cột buồm, không lưới cá, không bóng người thong thả, chỉ có những cái bóng đen nhanh nhẹn di chuyển. Võ Bằng lẩm bẩm: “Đúng là tàu xâm nhập”.
Ánh hỏa châu bắt đầu mờ. Anh ra lệnh bắn tiếp quả thứ hai. Không gian lại bừng sáng.
– Đài chỉ huy. Cách 700 yards.
Anh cầm loa khuếch đại, giọng mạnh, dứt khoát:
– Tàu lạ chú ý! Đây là chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Các anh đang ở trong hải phận Việt Nam. Yêu cầu tắt máy, tất cả lên boong. Bất tuân lệnh sẽ nổ súng!
Giọng nói của anh vang vọng trên mặt biển nhưng tàu lạ vẫn im lặng. Võ Bằng đưa loa cho cố vấn. Người bạn đồng minh tuôn một tràng tiếng Mỹ. Tàu lạ quay đầu bỏ chạy.
Võ Bằng lại cầm loa, gằn từng tiếng:
– Tàu kia. Muốn sống, ngưng máy lập tức. Có chạy cũng không thoát.
Anh nói với hai chiến thuyền:
– Delta 5, theo tôi, truy kích.
Tất cả tăng máy hết tốc lực. Ngay lúc đó, một dãy lửa lóe sáng từ tàu địch. Nhiều tràng đạn xé gió lao tới. Một số rơi trước mũi Rạch Gầm, một số vút ngang đài chỉ huy. Lan Như ló đầu ra ngoài chụp ảnh, Võ Bằng định quát “muốn chết hả” thì các khẩu 76, 40, 20 đã đồng loạt rền vang đinh tai điếc óc.
Dù bị đáp trả dữ dội, hỏa lực địch vẫn ào ạt bắn sang. Hỏa châu đã tắt, khiến những đường đạn lửa trong đêm càng thêm ghê rợn. Đạn va vào vách sắt, vách đài chỉ huy, vào lá chắn an toàn các khẩu pháo, tóe lửa.
– Đài chỉ huy. 20 ly tả hạm báo cáo. Một thủy thủ bị thương
Võ Bằng nói vào loa nội bộ:
– Toán y tế đến ngay tả hạm.
– Khoảng cách mục tiêu 500 yards.
– Bắn tiếp hỏa châu.
Lửa đạn địch vẫn vãi tới tắp. Võ Bằng ra lệnh:
– 76 ly. Trực xạ hai quả vào đuôi tàu địch.
Hai tiếng nổ nối tiếp, quả đầu rơi gần lái, khối nước bung cao trắng xóa. Quả thứ hai trúng đuôi tàu, lửa phụt lên, khói đen cuồn cuộn. Tàu địch chậm hẳn lại. Nhiều bóng đen nhốn nháo, vài người nhảy ùm xuống biển.
Võ Bằng hét lớn:
– Tất cả ngưng bắn!
Im lặng đột ngột phủ xuống. Chỉ còn tiếng sóng và tiếng máy tàu. Giọng Võ Bằng lại vang lên:
– Hai máy tiến 1. Chuẩn bị rọi đèn.
Anh cầm vi âm PRC-46:
– Delta 5. Báo cáo tổn thất.
– Delta 5 vô sự.
– Cẩn thận tiến lên mạn tả, tôi tiếp cận mạn hữu. Cố gắng cứu vớt những người nhảy xuống biển.
Tàu địch đã ngừng hẳn, cách Rạch Gầm 200 mét. Võ Bằng ban lệnh:
– Giám lộ, rọi đèn.
Đèn chưa kịp rọi, một tiếng nổ long trời lở đất rung chuyển đại dương, kéo theo hàng loạt tiếng nổ dồn dập. Một khối cầu lửa khổng lồ bùng lên, khói đen ngùn ngụt cuốn cao. Hơi nóng hắt tới tận Rạch Gầm. Võ Bằng cho lệnh lùi tàu. Hai chiến thuyền cũng tản ra.
Lan Như hào hứng bấm máy liên tục, ghi trọn quang cảnh trận hải chiến, cảnh ngọn lửa bùng lên trên tàu địch, từ từ co cụm, chỉ còn một đám nhỏ trên mặt biển. Bỗng dưng nàng nghe lòng se lại. Những bóng người nhảy xuống biển lúc nãy giờ ra sao? Bao nhiêu người đã chết theo tàu chìm? Niềm hào hứng nghề nghiệp vụt tắt. Lần nào cũng vậy, sau trận chiến là nỗi xót xa tràn về…
Võ Bằng lại cho tàu tiến tới. Đèn rọi qua lại tới lui. Tàu địch biến mất. Có một đầu người nổi trên mặt biển và một cánh tay quơ quơ cầu cứu. Một chiến thuyền tiến tới.
Như phụ họa tình hình, tiếng máy PRC-46 vang lên:
– Hải Dương 3 báo cáo: Mục tiêu 1 đã bị khống chế, thu nhiều súng đạn, bắt giữ tàu và 5 người gồm hai bị thương nặng. Ta hai bị thương nhẹ. Xin cho chỉ thị.
– Chờ. Tôi đến gặp anh.
Sau mười lăm phút, Delta 5 báo cáo vớt được 2. Một người bị thương nặng. Cả hai được chuyển qua Rạch Gầm. Chiến hạm tiến máy hướng về Thổ Châu gặp Hải Dương 3. Hai chiến thuyền tiếp tục tuần tiễu trục Hòn Khoai – Hòn Chuối.
Anh cho lệnh giải tán nhiệm sở tác chiến rồi vào phòng truyền tin gửi công điện cho Vùng 4:
“TTBC. Rạch Gầm, hai duyên tốc đỉnh, hai chiến thuyền đã phối hợp ngăn chận 2 tàu địch. Hai cuộc chạm súng xảy ra. Ta: 3 bị thương. Địch: Chết không rõ. Bị thương và bị bắt 7. Một tàu xâm nhập chìm, một bị bắt giữ với nhiều súng đạn. Xin cho chỉ thị”.
Lan Như hí hửng lên đài chỉ huy với tâm trạng hân hoan đã ghi lại được những hình ảnh hải chiến quý giá. Không thấy bóng dáng Võ Bằng, nàng hụt hẫng. Anh đi đâu? Không thể về buồng lúc này. Chỉ có thể là anh xuống thăm thủy thủ bị thương. Nàng vội xuống sân chính vào phòng y tá.
Nàng đoán đúng. Võ Bằng đang thăm hỏi thủy thủ Hòa, đạn xuyên hông máu ra nhiều nhưng không trầm trọng. Anh còn rất tỉnh táo trả lời mọi câu hỏi. Thấy nàng, Võ Bằng xoay qua mỉm cười:
– Đã đụng trận, hài lòng rồi phải không? Bài phóng sự hải chiến hẳn sẽ lôi cuốn độc giả.
– Chưa bao giờ hài lòng như lần này.
– Nên chụp hình các tù binh cho đầy đủ. Đi với tôi.
Trên đường đi, Lan Như chầm chậm nói:
– Đây là lần đầu ra trận… em thấy sợ.
Nàng cúi mặt ngượng ngùng khi nghe mình bất ngờ xưng em. Võ Bằng thản nhiên bước, giọng dịu dàng:
– Tôi cũng sợ.
Lan Như ngước lên:
– Nhưng… không phải sợ cho em.
Võ Bằng mỉm cười nhìn nàng:
– Anh cũng vậy.
Chương 25
Hãy về bên nhau…
Sau hai tuần chập chững vào nghề… gõ đầu trẻ, sau những đêm cặm cụi soạn bài giảng, những ngày phải nhớ, phải nói liên miên, Như Oanh cảm thấy rã rời. Tối thứ Bảy, nàng lên giường sớm, tự nhủ sẽ ngủ một giấc dài thẳng cánh.
Ánh nắng sớm của sáng Chủ Nhật len qua khe cửa, thắp sáng căn phòng nhỏ yên tĩnh. Những hạt bụi lấp lánh, chậm rãi trôi trong không gian, như đang khiêu vũ trên hình dáng còn chìm trong giấc ngủ say nồng.
Tiếng gõ cửa bất ngờ vang lên, dồn dập và khẩn thiết, xé toạc sự tĩnh lặng mong manh. Như Oanh giật mình tỉnh giấc, mắt còn nặng trĩu nhìn về phía chiếc đồng hồ báo thức: chín giờ. Giờ này, ngày này… thường là Vinh đến.
Một nỗi mệt mỏi lẫn chán chường lan tỏa khắp người nàng. Có nên tiếp không? Nàng chỉ muốn được yên.
Còn đang phân vân, chưa kịp quyết định, tiếng gõ lại vang lên lần nữa, và một giọng nói quen thuộc, rành rọt cất lên:
– Dậy đi. Ngọc Lan đây. Tao vô nghe.
Giọng nói ấy như một luồng gió mát thổi tan mọi uể oải. Như Oanh mừng rỡ kêu to:
– Vô đi!
Nàng tỉnh ngủ hẳn, ngồi bật dậy đúng lúc cánh cửa bật mở. Ngọc Lan, với mái tóc dài buông lơi và áo dài xanh thanh nhã, bước nhanh vào. Chẳng khách sáo, nàng nhẹ nhàng đóng cửa rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế cạnh bàn học, thở ra một hơi dài.
Như Oanh vồn vã, giọng còn ngái ngủ:
– Về hồi nào vậy?
– Tối hôm qua. Về trễ, không đến mày ngay được nên hôm nay đến sớm.
– Dạy học ở Long An sao rồi?
Ngọc Lan đáp, vuốt mái tóc còn lòa xòa:
– Học trò hiền lành lắm. Ở trọ chung với mấy cô giáo, ăn cơm tháng. Cũng tạm yên thân.
Như Oanh hạ giọng, cười nói:
– Thế… đã có người mới của chốn mộng mơ mới chưa?
Ngọc Lan mỉm cười, lắc đầu:
– Chưa! Thầy giáo già thì quá già, thầy trẻ thì quá trẻ!
Từ ngày vào Đại học Sư Phạm, Ngọc Lan đã trải qua vài mối tình. Khi không còn đồng cảm, nàng thẳng thừng rút lui, không níu kéo. Như Oanh vẫn thầm ngưỡng mộ sự minh bạch ấy của bạn. Chính vì vậy, nàng đang mong gặp bạn để nhờ gỡ mớ rối bời trong lòng mình.
Nàng thở dài, nói:
– Đang mong gặp mày để nhờ gỡ rối tơ lòng đây!
Ngọc Lan tròn mắt:
– Sao? Mày với anh chàng Vinh duyên tình trục trặc à? Tưởng định xong ngày đám hỏi rồi chứ?
Như Oanh cười buồn:
– Chuyện dài, để tao rửa mặt cái đã.
Như Oanh rời giường. Ngọc Lan đưa mắt nhìn quanh gian buồng quen thuộc của bốn năm hai đứa từng ngồi học chung, từng tâm sự đến tận khuya. Những bức tranh trên tường vẫn như ngày nào. Mona Lisa với nụ cười bí ẩn, Cô gái với đôi khuyên tai bằng ngọc trai lấp lánh ánh mắt xuyên thấu tâm can và Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân mang vẻ đẹp dịu dàng thuần khiết. Những kỷ niệm của thời sinh viên bỗng ùa về, đẹp, lặng lẽ…
Như Oanh trở lại, giọng trầm buồn:
– Tao và Vinh tuyệt giao rồi!
Ngọc Lan ngồi thẳng dậy:
– Hả? Mày nói chơi chắc?
– Không. Trăm phần trăm!
Ngọc Lan trố mắt nghiêng người về phía trước, hỏi dồn:
– Chuyện gì đã xảy ra đến nông nỗi ấy? Anh ta có bồ khác à?
Như Oanh lắc đầu, giọng chán nản:
– Được như vậy, tao càng mừng. Đàng này…
Như Oanh kể lại chi tiết cuộc cãi vã lần cuối, Ngọc Lan nghe mà lòng trĩu nặng, ngao ngán lắc đầu:
– Không ngờ anh chàng có ý tưởng tầm thường và hẹp hòi đến vậy. Mày đã quyết định đúng. Nhưng liệu anh ta sẽ chịu buông tha?
Như Oanh cắn môi:
– Không chịu cũng phải chịu.
– Nếu tuần sau anh ta đến, mày có tiếp không?
– Không.
– Dù là… lịch sự mời một ly nước?
– Cũng không!
Ngọc Lan hài lòng với thái độ kiên quyết của bạn, cười hỏi:
– Mọi sự chỉ vì anh chàng Thiện?
Như Oanh ngơ ngác:
– Thiện nào?
– Anh chàng Thiện của đêm nghe ca nhạc chứ Thiện nào! Đừng giả mù sa mưa.
Như Oanh bật cười:
– Tưởng gì! Chỉ là một khuôn mặt trong đám đông.
Ngọc Lan chớp mắt tinh nghịch:
– Không Thiện thì là hạm trưởng. Hạm trưởng gì quên rồi?
Như Oanh nghe xao xuyến. Ngọc Lan đã nhắc đến đúng người nàng đang cần thổ lộ. Nàng nhìn bạn, nói nhỏ:
– Chính vì người đó mà tao cần mày làm cố vấn.
– Rắc rối đến vậy mà sao tao chả biết gì về anh chàng đó?
– Có thì giờ đâu mà kể. Đã tính kể khi nghe ca nhạc, nhưng rồi bận… nhảy đầm. Ngày hôm sau thì mày đã đi Long An rồi!
Ngọc Lan hào hứng dịch ghế lại gần:
– Thì giờ đang có thừa. Kể đi!
Như Oanh dông dài cho hai buổi gặp gỡ ngắn: buổi tối dạ tiệc ở nhà người chị, và buổi xế chiều trên bãi biển. Đó là một người không hào nhoáng nhưng rắn rỏi, điềm đạm, nói năng thẳng thắn và sâu sắc. Rồi, trong phút bốc đồng khi chia tay, một lời hứa buột miệng thốt ra.
Thấy Ngọc Lan chăm chú lắng nghe, đôi mắt mở to đầy hứng thú, Như Oanh hăng hái tiếp tục:
– Tao tưởng sau khi về Sài Gòn, bên cạnh Vinh, cơn rung động nhỏ nhoi ngoài bãi biển sẽ tự tan. Nhưng không ngờ… chính Vinh lại tạo điều kiện cho tao nhớ Võ Bằng thêm hơn. Một hình bóng mới đến, một cuộc tình vừa tan, khiến tao ngơ ngẩn. Nếu giữ lời hứa với Võ Bằng, tao thấy có một cái gì đó không ổn…
Ngọc Lan vươn tay nắm lấy tay bạn, siết nhẹ:
– Hỏi thật lòng, mày nhớ anh chàng nhiều không?
Như Oanh nhìn ra cửa sổ, giọng trầm xuống:
– Lúc nào rảnh rỗi là nhớ. Càng rảnh càng nhớ. Nhất là những lúc yên tĩnh, trước khi chợp mắt, hay vừa thức giấc. Hình ảnh cứ hiện ra cùng giọng nói, nụ cười.
Ngọc Lan reo lên:
– Vậy là “tiếng sét ái tình” rồi còn gì nữa!
Như Oanh nhăn nhó:
– Không! Chỉ nhớ nhiều sau khi chia tay với Vinh. Và chính vì cuộc chia ly làm tao sợ. Sợ yêu quá vội vàng để rồi lại vướng phải không đúng người. Nhưng cũng sợ vì đáp ứng quá chậm chạp mà vuột mất người có thể là… người trong mộng.
Ngọc Lan lắc đầu, giọng đầy kinh nghiệm:
– Sợ toàn những chuyện vớ vẩn. Nên bắt chước tao đi. Cứ thuận theo thời thế – gặp thời thế thế thời phải thế. Thấy thích, thấy hợp thì nhào vô cái rụp. Thấy không thích, không còn hứng thú nữa thì cái rụp rút lui. Như mày vừa dũng cảm bỏ Vinh đấy thôi. Giờ thì hãy mạnh dạn tiến tới. Hãy viết thư cho chàng ta, hò hẹn gặp mặt đi.
Như Oanh vẫn còn do dự, ngón tay vân vê cây viết:
– Đã hứa thì chắc chắn phải viết rồi. Nhưng… sợ nếu ngỏ ý mong gặp lại, thì nghe có vẻ như tao… tự hạ giá mình quá thấp!
Ngọc Lan bật cười giòn tan, vỗ nhẹ lên đùi:
– Bạn ơi là bạn! Tình cảm xuất phát từ trái tim, từ cảm xúc chứ đâu phải từ cái bàn cân hay thước đo! Có yêu, có nhớ, có muốn gặp thì cứ nói thật. Giả tạo mới là tự hạ thấp mình.
Như Oanh thở dài:
– Đành là vậy… Nhưng tao muốn nhờ mày giúp ý kiến về lá thư gửi cho Võ Bằng. Tao đắn đo, viết đi xé lại cả tuần rồi mà không biết viết sao cho không tỏ ra quá hối hả, cũng không quá hững hờ.
Ngọc Lan lại lắc đầu, nhưng lần này với vẻ dịu dàng, nghiêm túc hơn:
– Oanh này, quan trọng nhất vẫn là lòng mình thật sự muốn gì. Hãy viết theo trái tim của mày.
Ngọc Lan đứng bật dậy, mặt rạng rỡ, hối thúc:
– Lại ngồi đây… và viết…
Như Oanh bước lại bàn học, rút tập giấy trắng tinh từ hộc kéo. Nàng cầm cây viết mà nỗi lo lắng mơ hồ lại trào dâng. Nàng ngước nhìn bạn, giọng đầy bất an:
– Viết thế nào đây? Bắt đầu từ đâu?
Ngọc Lan khoanh tay, ra dáng suy tư một lúc, rồi chậm rãi nói:
– Chúng mình đều là giáo sư Việt văn, nghĩa là văn chương chữ nghĩa bề bề, nhưng tao là người ngoại cuộc, biết gì mà cố vấn. Chính mày phải viết bằng cảm xúc thật của riêng mày.
Như Oanh nhìn tập giấy, nghĩ suy. Ngọc Lan khuyến khích:
– Cứ viết đi, lời ra ý cũng tuôn theo.
Như Oanh áp ngòi viết xuống trang giấy. Hơi thở chậm lại. Rồi từng con chữ hiện ra, chậm rãi, cẩn trọng, thấm đẫm những rung cảm từ con tim.
Sài Gòn, sáng Chủ Nhật…
Anh Võ Bằng thân mến,
Hy vọng lá thư này tìm đến anh, bất kể anh đang ở nơi nào, giữa biển khơi hay vùng đảo xa xôi. Mong anh luôn giữ vững tay lái, bình an vượt qua mọi con sóng dữ.
Anh còn nhớ lời Như Oanh hứa trước khi chúng ta chia tay vào buổi chiều duyên hải? Từ ngày về Sài Gòn, Như Oanh đã cân nhắc kỹ càng, nghiêm túc về con đường tình cảm của chính mình. Và giờ đây, Như Oanh muốn thông báo với anh một cách chân thành nhất: lễ hỏi dự trù với người yêu bốn năm đã vĩnh viễn hủy bỏ.
Xin anh đừng vội nghĩ rằng anh là nguyên nhân khiến Như Oanh bị coi là kẻ bất nhất. Không, không phải vậy. Thật lòng, Như Oanh vẫn từng ước mong mình có thể tiếp tục gần gũi và yêu thương anh ấy nhiều hơn. Nhưng một sự việc bất ngờ đã xảy đến, như một tấm gương, giúp Như Oanh có dịp nhìn lại lòng mình một cách rõ ràng hơn. Và Như Oanh nhận thấy, thật khó để có thể tiến tới một kết cuộc hạnh phúc trọn vẹn. Không phải vì không thiết tha, mà bởi không thể nào kéo dài cả cuộc đời bên cạnh người có quan niệm sống hoàn toàn trái ngược với mình.
Giờ đây, khi gánh nặng tinh thần ấy đã được trút bỏ, Như Oanh thấy cả thể xác lẫn tâm hồn đều nhẹ nhõm lạ thường. Và cũng chính trong sự nhẹ nhõm này, Như Oanh nhận ra đã đến lúc cần giữ trọn lời hứa với anh…
Khi nào công việc nơi đảo xa của anh hoàn tất, trở về Sài Gòn, nếu anh thấy thuận tiện và… cũng muốn có một buổi gặp mặt, chúng ta có thể cùng ngồi lại bên nhau. Sẽ vẫn có ly cà phê phin đậm đà cho anh và ly nước dừa mát lành cho Như Oanh như lần chúng ta cùng ngồi nơi quán Sóng ven biển. Và chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn để tiếp tục câu chuyện “tình duyên hải” còn đang dang dở.
Như Oanh mong rằng, cuộc gặp gỡ – nếu có – sẽ giúp tình cảm của chúng ta tìm được đúng vị trí của nó: hoặc là mở ra một chân trời hạnh phúc thật sự, hoặc là dứt khoát, thanh thản khép lại như lần Như Oanh vừa khép lại.
Nghe nói Phú Quốc sắp trải qua cơn bão cuối mùa. Cầu mong cho Rạch Gầm và thủy thủ đoàn của anh luôn an toàn, sớm về cập bến căn cứ.
Thân mến,
Huỳnh Như Oanh
(Địa chỉ: …)
Viết xong, Như Oanh lặng lẽ đọc lại một lần rồi trao cho bạn. Ngọc Lan cầm lá thư, chăm chú đọc từng dòng, đôi mày đôi khi nhíu lại, đôi môi đôi khi mỉm cười. Trái tim Như Oanh đập thình thịch đợi chờ.
Cuối cùng, Ngọc Lan ngẩng lên, gật đầu kiểu cô giáo hài lòng:
– Chân thành, tế nhị, rõ ràng, không cần thêm gì nữa.
Như Oanh nhắm mắt lại, thở ra một hơi nhẹ nhõm. Một cảm giác êm đềm, ấm áp kỳ lạ lan tỏa trong lồng ngực. Trong khoảnh khắc ấy, nàng như thấy hình ảnh Võ Bằng hiện ra trước mắt với nụ cười hiền hòa. Nhưng ngay sau đó, một cảm giác bất an chợt đến, như ngọn gió đại dương bất ngờ tạt qua. Nàng mở mắt, hỏi khẽ:
– Giả sử thư bị thất lạc?
– Không đâu. Gửi KBC cho chị mày, chỉ sớm hay muộn.
– Giả sử anh ấy nhận được thư, mà không đến… thì sao?
Ngọc Lan cười giòn:
– Thì cũng chẳng sao cả. Mày đã sống thật lòng! Nếu không có duyên hải, thì chờ… duyên thiên.
Như Oanh như không nghe câu cợt đùa của bạn. Nàng trông ra cửa sổ, nơi bầu trời Sài Gòn sáng Chủ Nhật trong xanh. Một dáng mây trôi chầm chậm như con tàu đang hải hành. Nhưng đang ra khơi hay về bến? Nàng không rõ.
(Còn tiếp)
Vũ Thất
bài đã đăng của Vũ Thất
- đời thủy thủ 3 (kỳ 9) - 26.05.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 8) - 19.05.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 7) - 12.05.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 6) - 05.05.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 4) - 21.04.2026
- đời thủy thủ 3 (kỳ 3) - 13.04.2026
- Đời Thủy Thủ 3 - (Chương 5 đến Chương 10) - 25.03.2026
- đời thủy thủ 3 (Kỳ 1) - 18.03.2026
- bóng người cùng thôn - 16.02.2025
- đời thủy thủ 2 (chương 16 & 17) - 19.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 14 & 15) - 17.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 12 & 13) - 14.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 10 & 11) - 12.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 8 & 9) - 09.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 6 & 7) - 05.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 4 & 5) - 03.08.2023
- đời thủy thủ 2 (chương 2 & 3) - 01.08.2023
- đời thủy thủ (2) - (chương 1) - 29.07.2023
- đời thủy thủ (chương kết) - 29.05.2012
- đời thủy thủ (chương 15) - 25.05.2012
- đời thủy thủ (chương 14) - 17.05.2012
- đời thủy thủ (chương 13) - 03.05.2012
- đời thủy thủ (chương 12) - 26.04.2012
- đời thủy thủ (chương 11) - 06.04.2012
- đời thủy thủ (chương 10) - 30.03.2012
- đời thủy thủ (chương 9) - 24.02.2012
- đời thủy thủ (chương 8) - 16.02.2012
- Đời Thủy Thủ (Chương 7) - 20.01.2012
- Đời Thủy Thủ (Chương 6) - 29.12.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 5) - 05.12.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 4) - 11.11.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 3) - 04.11.2011
- Đời Thủy Thủ (Chương 2) - 19.10.2011
- Đời Thủy Thủ (chương 1) - 03.10.2011
- Sao Hôm - 02.11.2010