- Tạp Chí Da Màu – Văn chương không biên giới - https://damau.org -

đời thủy thủ 3 (kỳ 4)

CHƯƠNG 16
TÌNH CỜ

Chiến hạm HQ-266 Rạch Gầm chầm chậm tiến vào cầu An Thới lúc mười một giờ trưa. Ánh nắng đứng bóng trải xuống mặt biển, hắt lên ngàn tia lấp lánh như pha lê. Gió nồng vị muối, mang hơi ấm đất liền và mùi dầu máy quen thuộc. Khi tiếng động cơ ngưng, mặt nước im, chỉ còn tiếng chân người dồn dập trên boong tàu.
Xe cứu thương của Căn cứ Hải quân An Thới đã chờ sẵn. Ba thương binh được cáng xuống, băng gạc trắng đẫm máu sậm đỏ. Mọi động tác đều cẩn trọng, lặng lẽ.
Hạ sĩ Nghĩa – người điều trị đã lâu trong bệnh xá – nay được phép về lại tàu. Khuôn mặt anh xanh xao nhưng nụ cười vẫn tươi, và trong ánh mắt ánh lên niềm tự hào của người lính sống sót trở về.
Khi Nghĩa bước chân lên boong, tiếng vỗ tay vang rền. Người cặp cổ, người nắm tay, người huýt gió. Võ Bằng bước tới, siết chặt tay anh, giọng trầm ấm:
– Tốt lắm, Nghĩa. Mừng em trở về tàu.

Nửa giờ sau, Tư lệnh Vùng cùng Chỉ huy trưởng Căn cứ Yểm trợ đưa toán chuyên viên xuống chiến hạm giám định thiệt hại. Phần mũi cần hàn gắn lại, vết đạn lỗ chỗ bên hông và trên đài chỉ huy phải được vá lấp. Ước tính sửa chữa trong bốn ngày.
Rạch Gầm được dời sang cập cầu Căn Cứ Yểm Trợ, bên cạnh vài chiếc Duyên tốc đỉnh và Chiến thuyền khác. Võ Bằng trở về phòng họp, nơi xấp công văn, công điện đang chờ. Anh dừng lâu ở bản báo cáo từ bệnh viện Rạch Giá:
“Thiếu úy Dương Công Đức đã giải phẫu gắp viên đạn ở bả vai, sức khỏe tốt.
Thủy thủ Lưu Văn Tạo đã giải phẫu lấy mảnh đạn khỏi cổ, tình trạng khả quan.
Cả hai đã được chuyển về Bệnh viện Hải quân Sài Gòn.”
Anh khẽ thở phào, như trút một gánh nặng trên vai.
Khi chiêu đãi viên gõ cửa xin phép dọn cơm trưa, hình ảnh tô bún cá ngày nào ăn cùng Huỳnh Như Oanh chợt ùa về. Anh lắc đầu:
– Tôi sẽ ăn ở ngoài.
Hình như chỉ có vị măn mẳn của nước súp và hương ngọt ngào của cà phê mới làm anh vơi được nỗi nhớ.

Vừa bước vào quán Hải Âu, Võ Bằng nghe tiếng gọi vang lên:
– Hạm trưởng! Mời Hạm trưởng đến chung vui!
Bàn sáu người – đa số nhân viên Ban Chiến tranh Chính trị. Hạm phó Tiến vội đứng dậy kéo thêm ghế:
– Mời Hạm trưởng ngồi đây.
Anh ngần ngừ, chủ định là ăn vội rồi sang quán Sóng hóng gió biển, mặc cho tâm hồn trôi về những kỷ niệm với Như Oanh. Nhưng thấy anh em ríu rít, anh đành ở lại.
Trung úy Tiến trình báo:
– Trước khi tới đây, tụi em ghé trường tiểu học. Cô hiệu trưởng mời chúng ta sáng mai đến, mười giờ.
Võ Bằng gật đầu:
– Vậy là nhất rồi. Mai, chín giờ bốn mươi lăm rời tàu.
Cô hầu bàn đến. Anh gọi bún cá và một lon Budweiser.
Trung sĩ Lâm cười tươi:
– Thưa Hạm trưởng, đêm qua chúng ta đánh chìm hai tàu bắc cộng, hôm nay rất đáng sương sương vài ly rượu mừng!
– Tôi kỵ rượu, bia là đủ.
Lâm nằn nì:
– Thưa Hạm trưởng, rượu nếp than An Thới danh bất hư truyền, ngọt và thơm, rất dễ uống!
Võ Bằng bật cười:
– Dễ uống nhưng cũng dễ say bí tỉ!
Hạm phó chen lời:
– Rượu nếp than uống một bổ hai, thưa Hạm trưởng. Một ly nhẹ thôi mà!
– Được, thử một ly cho biết.
Rượu quả thật ngon. Món ăn đưa cay cũng vừa miệng. Một ly rồi hai, cuối cùng là ba. Dự định ra biển sớm bỗng chậm mất hai tiếng.

***

Mặt trời đã chếch về tây khi Võ Bằng rời quán Hải Âu. Gió biển thổi mát rượi, xua bớt hơi men đang lan khắp thân. Đầu anh hơi choáng, nhưng chân vẫn vững.
Quán Sóng vẫn đó – thưa khách. Anh gọi cà phê phin rồi tự mang ra tán dù với hai chiếc ghế tựa còn chờ.
Ngồi xuống chiếc ghế xưa, tay anh khẽ vuốt lên tay vịn, nơi Như Oanh từng ngồi. Sóng vỗ nhịp vào bờ cát mịn, đưa anh trở lại buổi chia tay xưa. Anh đã nắm tay nàng, và nàng không rút lại. Anh đã hỏi:
– Có thật rồi mình sẽ không còn gặp nhau?
Giọng nàng còn văng vẳng:
– Em không biết. Em cần thời gian xét lại lòng mình. Khi anh mãn công tác, trước khi về Sài Gòn, anh hãy gặp chị em. Nếu chị chuyển lời… tức là em đã chọn.
Ngày ấy, anh đã vui như trẻ thơ. Nhưng giờ nghĩ lại, đó đâu phải lời hứa hẹn. Biết đâu, sau khi đắn đo, nàng nhờ chị chuyển: “Nói với Võ Bằng… đi chỗ khác chơi!”
Anh mím môi, nghe lòng nhói buốt.
Võ Bằng thở dài. Hơi rượu tỏa ra đánh thức cơn nhức đầu. Anh nhấp vài ngụm cà phê. Chất đắng lan dần, đầu óc bớt đau. Anh uống đến nửa ly. Biển vẫn xanh bát ngát, trời vẫn cao thăm thẳm. Trước mặt anh, sóng vẫn xôn xao như những lời thủ thỉ cũ.

Một dáng người thon thả từ dưới nước bước lên. Nàng mặc áo tắm một mảnh màu thiên thanh, mái tóc ngắn bám cổ, đôi kính đen che nửa khuôn mặt mà vẫn toát vẻ diễm kiều. Nàng đi dọc mép nước, dường như không biết có người đang chiêm ngưỡng.
Sức mạnh của men rượu nếp than khiến anh đứng dậy, bước lại gần:
– Chào cô. Xin lỗi vì đường đột. Đây không phải cách làm quen cũ kỹ đâu, chỉ là… quá tò mò: một người đẹp như cô sao lại xuất hiện ở chốn vắng thế này?
Nàng hơi giật mình, rồi cười trong trẻo:
– Chào đại úy. Lâu rồi không gặp, đại úy khỏe chứ?
Anh khựng lại. Cấp bậc hải quân đâu phải ai cũng biết. Hẳn nàng là thân nhân của hải quân, hoặc phu nhân của ai đó. Không khéo lại rắc rối. Anh nghiêng mình:
– Xin lỗi và xin phép chào cô.
Giọng nàng vẫn đùa cợt:
– Đâu có dễ đi như vậy! Đại úy tò mò chận đường tôi, thì cho tôi tò mò hỏi lại: hễ là người đẹp thì không nên xuất hiện ở chốn vắng sao?
– Vì ở chốn vắng này toàn là cơ quan quân sự. Cô thật lạc lõng giữa ba quân.
– Tôi lại thấy, ở chốn này, nhiều người đẹp cũng mặc quân phục hải quân mà.
– Nhưng không ai mặc áo tắm trong giờ làm việc!
– Đại úy tinh ý lắm. Tôi không phải nữ quân nhân, nhưng đã từng lạc lõng giữa chốn ba quân.
– Vậy thân nhân hải quân của cô là ai?
Nàng bật cười:
– Võ Bằng.
Anh giật mình, rồi nhận ra nàng đọc từ bảng tên. Đáo để thật! Anh nghĩ thầm và toan rút lui thì nàng lại hỏi:
– Theo Đại úy, phải là thân nhân hải quân mới được đến đây sao?
– Bị cô gọi ngay là đại úy, nên tôi hơi tò mò.
– Đại úy nghĩ đúng. Có người dạy tôi về cấp bậc hải quân.
– Ai vậy?
– Đại úy thử đoán xem?
Anh lắc đầu:
– Có trời mới đoán nổi!
Nàng trầm giọng:
– Người ấy cho tôi cơ hội hiểu về biển… để rồi đâm yêu biển. Nhờ thế, ngay cả khi nghiệt ngã nhất, biển vẫn mang đến cho tôi sự an nhiên. Tôi vẫn thường nghĩ về người ấy, và vẫn thầm cám ơn.
Tự dưng anh bỗng thấy ưa thích nói chuyện với nàng. Bốn ngày sửa chữa tàu, có người cùng ngắm biển khơi, đỡ nhớ Như Oanh. Anh dò hỏi:
– Cô tắm biển mỗi ngày?
– Không hẳn, chỉ những buổi chiều đẹp trời.
– Nghĩa là muốn gặp cô, tôi phải chờ đến ngày đẹp trời rồi còn phải chờ đến chiều?
Nàng không cười trước câu đùa của anh mà lại cúi mặt, im lặng. Anh sốt ruột:
– Tôi coi sự im lặng của cô là đồng ý. Cho tôi biết tên được chứ?
Nàng ngẩng lên, ánh mắt xa xăm:
– Biết để làm gì… Bởi vì tôi… xin chào Đại úy.
Nói rồi nàng quay đi, dáng mảnh mai tiến dần đến tán dù phía xa. Anh đứng lặng, ngẩn ngơ nhìn theo…

***

Sáng hôm sau, nắng sớm chan hòa. Tiếng chuông nhà thờ An Thới ngân dài trên phố nhỏ. Đúng mười giờ, toán dân sự vụ của Rạch Gầm đến trường tiểu học.
Cô Hiệu trưởng đứng ở cửa, niềm nở đón chào. Sáu mươi học sinh đồng loạt đứng lên khi toán Hải quân bước vào. Những đôi mắt tròn xoe, háo hức.
Võ Bằng mỉm cười:
– Các cháu ngồi đi.
Anh nhìn khắp lớp và khựng lại. Cô giáo đứng bên cửa sổ chính là người đẹp anh gặp hôm qua ở bãi biển. Vẫn đôi kính to che nửa khuôn mặt, vẫn mái tóc ngắn chấm cổ. Nàng thản nhiên như không thấy anh.
Cô Hiệu trưởng giới thiệu:
– Các em thương yêu, đây là các chú Hải quân đến từ Sài Gòn, thủ đô nước Việt của chúng ta.
Cô quay sang Võ Bằng:
– Đây là chú Hạm trưởng chiếc tàu đang cập ngoài cầu. Hôm nào, xin chú cho các em xuống thăm tàu. Các em có thích không?
Tiếng trẻ vang lên:
– Dạ có ạ.
Võ Bằng ân cần:
– Hiện tàu chú đang sửa chữa, chừng nào thuận tiện chú sẽ cho hay.
– Các em nói gì nào?
– Chúng cháu cảm ơn Hạm trưởng!
Anh hân hoan đứng lên:
– Hôm nay các chú sẽ dạy các cháu hát một bài rất vui, tên là Hát hay không bằng hay hát. Các cháu thích hát không?
– Dạ thích ạ!
– Chú Tiến, bắt đầu đi.
Hạm phó Tiến ra hiệu cho Hạ sĩ Lâm dạo đàn. Giai điệu rộn ràng vang lên. Các thủy thủ phân tán, ngồi xen giữa học trò. Tiến hát to:
“Hát hay không bằng hay hát!
Hát hay không bằng hay hát!
Hát luôn luôn, hát luôn luôn!
Hát những lời xây dựng nông thôn!”

Tiếng hát trẻ thơ hòa với tiếng đàn, ban đầu rụt rè rồi vang lớn. Các thủy thủ vừa hát vừa múa tay, khiến bầu không khí rộn ràng hẳn. Tiếng cười, tiếng vỗ tay rộn khắp sân trường.
Trung úy Tiến hứng chí hát đoạn kế:
“Hát hay không bằng hay hát!
Hát hay không bằng hay hát!
Hát liên hoan, hát vang vang!
Hát đông đông, hát cộng đồng!”

Âm nhạc lại bừng lên. Những khuôn mặt bừng sáng, những đôi môi đỏ hồng hát hăng say.

Khi kết thúc, cô Hiệu trưởng xúc động nói:
– Trường tôi thỉnh thoảng dạy hát, nhưng chưa bao giờ vui thế này. Cảm ơn các anh đã mang đến một buổi sáng rộn ràng và ý nghĩa.
Khi toán dân sự vụ vẫy tay chào. Đám học trò ùa đến, hỏi đủ điều:
– Các chú ơi, chừng nào trở lại?
– Cháu lớn lên, cho cháu đi tàu với chú nghen?
– Ngoài biển có bị say sóng không chú?
Võ Bằng cúi xuống xoa đầu từng đứa, thấy lòng ấm lạ. Tiếng hát trẻ thơ như còn ngân trong tim anh.
Anh quay lại chào từ giã cô Hiệu trưởng và các cô giáo. Khi anh đến cửa, cô giáo đeo kính bước tới, giọng nhẹ như gió:
– Đại úy… thật sự không nhận ra em sao?
Nàng gỡ kính xuống. Ánh mắt ấy. Nụ cười ấy. Dù đã hơn hai năm, dù mái tóc ngắn đi và làn da rám nắng, anh vẫn nhận ra.
Anh khẽ thốt:
– Phan Kim Phượng?
Nàng mỉm cười, giọng buồn lắng:
– Phan Kim Phượng chết rồi. Giờ em là cô giáo Lê Hồng Hạnh.
Anh đứng lặng, nghe tim mình đập lạc nhịp.
– Phan Kim Phượng… Lê Hồng Hạnh…
Kỷ niệm một chuyến hải hành đẹp mà cay đắng chợt ùa về. Anh thấy mình đang ngồi trong phiên xử của Hội đồng Kỷ luật, nghe Chủ tịch Hội đồng tuyên hình phạt…
Anh cũng nghe tiếng nàng ngậm ngùi:
– Chuyện dài… Ngày mai, ở bãi biển, em sẽ kể.

CHƯƠNG 17
TÌNH CỜ

“Có nên gặp lại nàng không?”
Câu hỏi ấy cứ váng vất trong đầu Võ Bằng suốt buổi tối. Một bên là nỗi tò mò, thương cảm; một bên là ám ảnh về tương lai hải nghiệp. Anh muốn biết nàng đã phải trải qua những gì sau khi bị an ninh bắt giữ: vì sao lại được khoan hồng, và có thể đổi nhân dạng, trở thành cô giáo. Nàng có bị tra hỏi, có khai hết, hay chỉ nói những điều cần nói?
Mà gặp lại để làm gì? Không chừng lại thêm một sai lầm. Và lần này như một tái phạm, tương lai thực sự mịt mù. Không gặp nữa là tốt nhất.
Khi ý nghĩ ấy hình thành rõ ràng, anh bỗng thấy lòng nhẹ đi, nhắm mắt và thiếp ngủ.
Cốc, cốc, cốc!
Tiếng gõ cửa vang lên, khẽ rồi mạnh dần. Võ Bằng choàng tỉnh:
– Tôi nghe.
– Trình Hạm trưởng, có Trung tá Chỉ huy trưởng Căn Cứ Yểm Trợ xuống tàu, đang ở trên boong.
– Tôi lên ngay!
Anh ngồi bật dậy, vội rửa mặt, thay quân phục.
Trên boong, Trung tá đứng ở mũi, hai chuyên viên kỹ thuật đang đo đạc phần hư hại. Võ Bằng đưa tay lên chào.
– Cho anh hay là Căn Cứ Yểm Trợ chỉ có thể sửa tạm. Khi tàu về Sài Gòn, Hải Quân Công Xưởng sẽ phục hồi nguyên trạng.
– Xin cám ơn Trung tá. Mời Trung tá dùng cà phê.
Trung tá mỉm cười:
– Cám ơn anh, tôi đang bận. Tôi chỉ muốn gặp anh để chắc rằng tàu không có yêu cầu sửa chữa nào khác. Máy chánh, máy điện vẫn chạy ngon lành?
– Dạ, rất tốt.
– Truyền tin, Radar?
– Dạ, vẫn tốt.
Trung tá nhìn dãy chiến đỉnh đậu cùng cầu:
– Những chiếc kia mới đi vài tuần đã quay về xin sửa. Còn tàu anh, hai tháng liên tục vẫn hoạt động — đúng là phép lạ!
Võ Bằng nói xuôi:
– Thật sự là phép lạ, thưa Trung tá.
Trung tá đưa tay:
– Thôi. Chúc Hạm trưởng luôn gặp mọi sự tốt đẹp.
Võ Bằng nắm lấy:
– Kính chào. Rất cám ơn Trung tá quan tâm.
Võ Bằng tươi cười tiễn Trung tá rời tàu. Anh quay sang Hạm phó vừa đi tới:
– Anh xúc tiến thảo văn thư xin Chiến Thương Bội Tinh cho sĩ quan và các nhân viên bị thương. Trình tôi chậm nhất là sáng ngày mốt. Ngoài ra, chuẩn bị quà để sáng mai toán chiến tranh chính trị cùng tôi đi ủy lạo họ.
– Rõ, thưa Hạm trưởng.
– Tàu ở bến bốn ngày, anh dự trù công việc ra sao?
Trung úy Tiến đáp rành mạch:
– Tôi cho lấy đầy dầu, nước, bổ sung đạn đủ cấp số. Về nhân viên, tôi đề nghị cho một chi đội trực, hai chi đội đi bờ, luân phiên 3 ngày. Ngày thứ tư, tổng vệ sinh chiến hạm.
Võ Bằng gật đầu:
– Chấp thuận. Nhắc nhở anh em đi bờ không được say sưa, phá phách. Bị quân cảnh nhốt là tôi không lãnh ra và tự tìm phương tiện về Sài Gòn.
– Rõ!
Võ Bằng vui vẻ:
– Còn anh, có định đi bờ không?
– Xong mọi việc sẽ tính sau, thưa Hạm trưởng.
– Ở đây trên hai tháng mà chưa quen cô nào sao?
– Ở đây, trai thừa, gái thiếu, đành chịu thua, thưa Hạm trưởng.
– Có ba cô giáo hôm qua đó, quen rồi mà.
– Giờ dạy học mà mò đến trông kỳ quá. Hai nữa, không chừng hai cô đã có chồng, còn một cô…
Hạm phó chúm chím môi, tiếp lời:
– Một cô hôm qua buông lời trách móc Hạm trưởng…
Võ Bằng bật cười mà tim nhói đau. Cô giáo Lê Hồng Hạnh, nữ đặc công Phạm Kim Phượng, cái tên ấy vang lên như một tiếng chuông cảnh tỉnh. Nhưng miệng anh vẫn buột ra một câu bất ngờ:
– Có thể hôm nay tôi gặp…
Hạm phó chào, rồi bước về phía mũi. Võ Bằng nhìn theo, lòng đầy cảm mến. Anh đã may mắn có một phụ tá năng nổ, rành việc, cầu tiến. Nhớ lại thời gian hai năm làm Hạm phó lần lượt trên hai tàu Tuần duyên hạm và Hộ tống hạm, anh cũng đã phải đổ bao nhiêu là mồ hôi, cả nóng lẫn lạnh. Hạm trưởng chỉ mó tay vào các đại sự cần đến nhiều kinh nghiệm hải nghiệp, còn mọi nhật vụ lớn nhỏ đều do Hạm phó bao thầu. Phần việc nguy hiểm nhất cho chức vụ Hạm phó là hướng dẫn toán võ trang qua tàu nghi ngờ khám xét, lục soát.
Anh chầm chậm bước vòng quanh chiến hạm. Lại thêm nỗi mừng; quản nội trưởng cũng rất xông xáo, biết điều khiển nhân viên. Đâu đâu cũng tươm tất, trật tự. Anh bỗng nghĩ về anh. Một vùng ngổn ngang chưa dọn được: những xáo động tâm tình vừa trỗi dậy.
Bữa cơm trưa cùng sĩ quan trực thật vui. Câu chuyện xoay quanh mối tình giữa hai nhân vật Vô Kỵ – Triệu Minh. Cả hai thử đưa ra kết cuộc. Cuộc bàn thảo gợi mối tình rối rắm hiện tại của anh. Phan Kim Phượng xem ra vẫn còn yêu anh. Hai năm trước, chính tình yêu đó góp phần ngăn nàng cho nổ quả bom, nhờ đó anh và nhiều người còn sống đến hôm nay. Vậy mà anh lại định lẩn tránh. Có bạc bẽo lắm không?
Hai năm qua, thỉnh thoảng anh vẫn nhớ nàng. Vẫn tự hỏi: nàng giờ ở đâu, ra sao. Nhưng giữa một bên là sự thỏa lòng hiếu kỳ và bên kia là tương lai hải nghiệp, anh đã chọn tương lai. Nay tình cờ gặp lại. Có gì mà phải trốn tránh?
Anh thấy rõ, trốn tránh không phải là cách xóa bỏ quá khứ. Gặp lại đâu phải là để bắt đầu lại, hoặc để hàn gắn. Mà để chôn vùi.
Anh thở dài, nhìn đồng hồ. Bốn giờ chiều. Trời trong, gió nhẹ. Thì coi như một cuộc đi dạo chơi – thế thôi. Nếu An Ninh có truy hỏi, thì tình thật giải bày: chỉ là chuyện tình cờ…

Võ Bằng mặc thường phục, thong thả hướng ra biển.
Bãi An Thới vẫn thế: sóng vẫn vỗ nhịp nhàng, những tán dù đổ bóng trên cát. Anh ghé quán Sóng, mắt lướt nhanh chung quanh, tìm bóng dáng đáng ngờ. Bãi vắng vẻ. Anh mua lon bia, tiến về chỗ dù cũ.
Nàng đang nằm trên ghế tựa, ghế của Oanh ngày trước. Anh đặt lon bia cạnh ly nước dừa trên bàn gỗ, thong thả ngồi xuống. Nàng nhỏm dậy, giọng hân hoan:
– Chào anh Bằng. Hôm nay anh mặc thường phục, trông lạ hẳn.
– Đẹp hơn hay xấu hơn?
– Dễ thương hơn.
– Khó thương mới tốt.
Nàng cười, nụ cười gượng:
– Cho dù khó thương, em vẫn sợ anh không đến.
– Sao lại sợ?
– Anh biết rồi mà còn hỏi.
– Thật tình anh không hiểu.
– Em đã gây tai họa cho anh, tưởng chẳng bao giờ anh tha thứ.
Võ Bằng im vài giây, rồi nhẹ nhàng:
– Em đáng được tha thứ. Nếu em cho bom nổ, anh đâu còn ngồi đây.
– Em rất vui nghe anh nói vậy.
Anh mỉm cười, ánh mắt xa xôi:
– Giờ em kể cho anh nghe đi. Từ Phan Kim Phượng thành cô giáo Lê Hồng Hạnh – chuyện ấy diễn ra thế nào?
Giọng nàng đều đều, không vòng vo.
Sở An Ninh Hải quân tra hỏi, nàng khai hết. Rồi Cục An Ninh Quân đội thẩm vấn, nàng khai cả tổ trưởng, địa điểm liên lạc, mật khẩu, kho chế tạo chất nổ. Ngay đêm đó, Cục cho đột kích, toàn tổ bị bắt gọn. Nàng được hưởng chương trình bảo vệ người hồi chánh – có nhân dạng mới, căn cước mới, nghề nghiệp mới, địa chỉ mới.
– Còn ba má em?
– Một tháng sau, không thấy em đến ở trọ nhập học, người chủ nhà vội cho ba má em hay. Hai ông bà lên Sài Gòn đến cảnh sát khai em mất tích. Ba tháng sau, An Ninh bí mật đưa ba má em ra đây, để thấy em còn sống và đang được bảo vệ. Em chỉ được bên ba má ba ngày rồi biệt tin đến bây giờ.
Giọng nàng nghẹn lại:
– Cả tuần lễ em khóc suốt đêm. Không chỉ vì thương ba má, mà vì sự dại dột khiến cả nhà đau khổ, chia lìa.
– Em chọn ra đây ẩn thân?
– Không. An Ninh chỉ định. Nói rằng em phải ở đây ba năm cho an toàn.
Anh khui lon bia, uống vài ngụm:
– Còn một năm nữa. Em định sau đó sẽ đi đâu?
– Có thể ở lại đây luôn. Em thích nơi này. Mỗi khi nhìn biển, em nhớ hai ngày hải hành thật đẹp… dù biết đó chỉ còn là ảo ảnh.
– Quên đi là hơn.
– Không thể. Em luôn lo cho anh, sợ anh bị liên lụy.
Võ Bằng chỉ cười nhẹ:
– Anh không sao. Em thấy rồi đó, quên anh đi.
– Hôm đầu gặp lại, thấy anh vẫn trong quân phục, em mừng lắm.
– Anh cũng thầm cảm ơn em đã không cho bom nổ.
– Em thật ngu dại, đi chọn cách giết người để tạo dựng tương lai hạnh phúc. Anh đã cứu đời em. Em thề sẽ mãi sống thanh bạch, chân thật.
Nàng nâng ly nước dừa, uống cạn nửa:
– Anh vẫn là Đại úy, vẫn Hạm phó Đống Đa 007?
– Không, đã chuyển qua tàu khác.
– Lớn hơn?
– Nhỏ hơn.
– Thế là bị phạt rồi!
– Không, ở đâu cũng làm bổn phận.
– Em có thể xuống thăm tàu không? Hay em đã làm anh quá sợ?
Anh chộp ngay lý do chính đáng, từ chối:
– Không sợ nhưng không được. Tàu đang sửa ở công xưởng.
Nàng nhìn bàn tay anh, không nhẫn, khẽ hỏi:
– Anh vẫn chưa có vợ?
Anh cười buồn:
– Hai năm qua nào dám đụng tới ai!
– Nghĩa là anh chưa… chê em?
– Ở vùng đất nhìn quanh chỉ thấy toàn là đàn ông này, chắc chắn không ai chê em. Nhưng cưới em, nếu là quân nhân hay công chức, đều là chuyện bất khả. Em hiểu vì sao không?
– Không.
– Vì em là người An Ninh đặc biệt theo dõi.
– Nhưng em đã hối lỗi.
– Họ tin em nhưng tì vết còn đó. Quân nhân công chức không được phép đụng vào người mang tì vết.
Nàng nhìn sững anh. Anh thở dài, tiếp:
– Đó là về phần anh. Còn về phần em, nghiêm trọng hơn. Em thừa biết phía bên kia không từ một thủ đoạn tàn độc nào. Nếu biết em hồi chánh, họ sẽ buộc em trở lại hoạt động – hoặc giết em và cả ba má em.
Nàng kêu khẽ thảm thiết:
– Trời ơi…
– Đó là lý do em phải đến ở đây. Và cũng là lý do ba má chỉ được gặp em một lần.
– Vậy là chẳng bao giờ…
– Sau ba năm, nếu em khéo léo, vẫn có thể đoàn tụ với ba má.
Nàng cúi mặt, hai vai run nhẹ. Nước mắt rơi xuống cát, thấm mất như chưa từng tồn tại.
– Em đâu ngờ ra nông nỗi này!
– Em buồn rầu càng thêm đẹp. Ai mà chẳng mê. Biết đâu mai này một bác sĩ, kỹ sư ra đây nghỉ hè, hoặc một doanh nhân ghé đến giao thương, gặp được em rồi rước em về Sài Gòn, và đưa ba má em về ở chung.
– Thật lòng, hiện tại em thấy vui với bọn trẻ thơ. Mỗi tiếng đánh vần, mỗi ánh mắt ngây thơ giúp em sống lại. Cô hiệu trưởng, đồng nghiệp đều thương. Cả sóng biển cũng thích vui đùa với em. Nhưng biết sao được số trời?
Giọng nàng chùng xuống:
– Em vẫn nhớ lời hứa khi chia tay ở hạm kiều Đống Đa 007. Em đã nói nếu sau này tình cờ gặp lại, sẽ cùng anh dạo núi Tao Phùng. Bây giờ gặp rồi, mà Vũng Tàu xa ngàn trùng. Không chỉ xa về khoảng cách… mà cả con người. Cô giáo Lê Hồng Hạnh với anh giờ chỉ là một người… hơn cả xa lạ.

Anh im lặng.

Ngoài kia, sóng vẫn vỗ đều. Anh nhớ Như Oanh – bàn tay mềm mại trong tay anh buổi chiều ngày nào. Anh biết mình đã yêu Như Oanh nhưng nàng còn xa hơn cả ngàn trùng. Một người đang ở gần, rất gần nhưng không thể rớ tới. Anh nhìn nàng.  Hai giọt nước mắt tiếp tục lăn dài trên má.
Anh đưa ly nước dừa cho nàng, nâng lon bia của mình:
– Coi như rượu ly bôi. Hãy uống cạn. Mọi sự xuôi gió, sóng yên.
Họ cùng uống. Cùng nhìn nhau…
Võ Bằng dứt khoát đứng lên, bước đi chậm rãi. Cô giáo Lê Hồng Hạnh ngồi yên nhìn theo. Và nước mắt lại tuôn tràn…

CHƯƠNG 18

TIẾN VỀ QUẦN ĐẢO THỔ CHÂU

Trưa An Thới biển màu xanh ngọc.
Võ Bằng đứng trên boong tàu, dõi mắt theo những hòn đảo lớn nhỏ thành một hàng dài. Hòn Thơm nổi bật, cao nhất, lớn nhất. Anh có nghe bãi tắm Hòn Thơm cũng đẹp nhất, nước trong nhất. Đã có lúc anh định thả ca-nô ra đó tắm nhưng lúc nào cũng thiếu… người đẹp đi cùng!
Từ sau hôm chia tay cô giáo Lê Hồng Hạnh, Võ Bằng chỉ quanh quẩn trên tàu. Không hẳn vì sợ chạm mặt, mà muốn lợi dụng bốn ngày sửa chữa để tìm hiểu thêm về loại trợ chiến hạm. Trên giá sách trong phòng họp sĩ quan không thiếu quyển cẩm nang nào. Từ cẩm nang cho máy chánh, máy điện đến truyền tin, điện tử, tác chiến, đào thoát…
Những trang cẩm nang cho thấy hình ảnh về một loại chiến hạm được trang bị hỏa lực mạnh để yểm trợ các cuộc hành quân ven sông, ven biển. Đôi khi trở thành soái hạm cho bộ chỉ huy. Nhiệm vụ thứ yếu là tuần tiễu. Võ Bằng đã trải qua vài trận địch phục kích nhưng đọc lại những dòng cảnh báo cũng không khỏi chạnh lòng. Với chiều dài đáng kể, thường trực phô bày toàn bộ mạn tàu trước mắt địch, vận tốc thấp và nhất là đơn độc trên sông, trợ chiến hạm luôn là mục tiêu ngon lành cho địch nhả đạn. Sự ra đời của súng B40, B41 càng gây thêm nhiều thiệt hại.
Từ sau Tết Mậu Thân 1968, nhằm tăng cường hữu hiệu công tác ngăn chặn và diệt địch, Hải Quân được trang bị thêm nhiều chiến đỉnh, giang đỉnh có tốc độ cao, hỏa lực mạnh, phản ứng nhanh. Trợ chiến hạm được điều động tuần dương, đáp ứng việc địch tăng cường xâm nhập đường biển.

Bốn ngày trôi qua, công tác hàn vá hoàn tất, tàu dời về cập cầu nổi. Anh định dùng ngày nghỉ bến cuối cùng khởi sự đọc Tư Tưởng Hiện Đại của Bùi Giáng mua khá lâu nhưng chưa hề rớ tới. Thế nhưng chữ nghĩa cứ bị bóng dáng Huỳnh Như Oanh xóa mờ. Anh không hiểu nổi con người của mình. Suốt hai năm dửng dưng với mọi người đẹp, rồi bỗng nhiên lại đam mê người chỉ gặp trong thoáng chốc. Phải chăng đó là vì hạp nhãn như thường nói?
Anh nhìn về phía đồi cao, nơi lần đầu gặp nàng. Trời xanh vời vợi, gió nhẹ mang theo hương biển khiến anh khao khát muốn ra quán Sóng nằm mơ màng có nàng bên cạnh. Rồi tưởng tượng ra cuộc đối thoại thú vị để nhớ giọng nói êm ái, ngọt ngào, tế nhị…

Võ Bằng trở xuống phòng họp sĩ quan, đọc hết công văn công điện để chắc chắn không còn việc gì cần giải quyết. Có hai công việc quan trọng trong một công điện từ Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải:

“1. Do thành tích đánh chìm hai tàu chở súng đạn, quý chiến hạm được ân thưởng bốn Anh Dũng Bội Tinh gồm hai ngôi sao bạc, hai ngôi sao đồng. Gửi danh sách về nơi gửi trong thời hạn sớm nhất.
2. Hạm trưởng được mời tham dự thuyết trình hành quân sáng mai lúc 8 giờ. Khởi hành công tác ngay sau buổi thuyết trình.”

Một ngôi sao bạc xứng đáng dành cho Thiếu úy Đức, trưởng khẩu 76,2 ly bị thương nặng. Ba ngôi sao còn lại ủy quyền cho Hạm phó tập họp nhân viên bình chọn. Anh trút bỏ quân phục, thay đồ dân sự rồi cuốc bộ lên phố. Dừng lại quán Ngự Bình, xơi tô bún bò Huế rồi lững thững đến quán Sóng. Anh mua lon bia, cầm ra tán dù vẫn bỏ trống. Đồng hồ ở cổ tay vừa chỉ hơn một giờ trưa. Giờ này chắc cô giáo Lê Hồng Hạnh còn bận dạy. Cho dù nàng đã ra đây tắm, có đến chào, anh cũng sẽ làm lơ.
Anh khui lon bia, mắt dõi ra khơi, nhâm nhi từng ngụm nhỏ. Anh ngả người, nhắm mắt mơ tưởng đến Như Oanh. Nàng thật dễ thương, đứng bên mép biển trong chiếc quần jeans xanh và áo sơ mi xám nhạt. Tóc đen, dài, xõa ngang lưng. Khuôn mặt gần hình bầu dục, đôi mắt to, sáng, làn da ngọc ngà. Và nàng đang cười – nụ cười duyên dáng, giọng cười giòn giã…
Giấc mơ kéo anh và nàng vào cõi sống đầy hạnh phúc, không tiếng súng, không thị phi. Chỉ anh và nàng và biển trời…

Khi tỉnh giấc, nắng đã nghiêng. Vài người tắm biển. Dăm ba dạo trên cát. Võ Bằng uống cạn lon bia rồi bước dọc bờ. Ánh nắng phủ lên mặt nước màu xanh dịu. Anh dừng lại nơi từng đứng với Như Oanh. Sóng nhấp nhô như lời thì thầm: “Anh Bằng, về Sài Gòn gặp em ngay. Em nhớ anh.”
Anh khẽ bật cười: “Võ Bằng ơi! Đừng mộng mơ nữa. Hãy tiếp tục xa lánh các giai nhân. Hãy hiến trọn tâm hồn cho đại dương. Chỉ có biển mới giữ đời thủy thủ thăng bằng. Dù sóng gió, bão tố, rồi cũng sẽ yên bình.”
Mặc những lời tự nhủ, lòng khao khát gặp lại nàng vẫn bỏng cháy. Ngày mai bắt đầu chuyến tuần tiễu tám ngày cuối cùng của lịch trình biệt phái. Kể cả hai ngày hải hành từ An Thới, mười ngày nữa tàu anh sẽ cập bến Bạch Đằng. Liệu Giáng Sinh này anh và nàng có được sánh vai cùng thiên hạ dạo phố ngập ánh đèn màu?

Quay về tán dù, anh giật mình khi chiếc ghế tựa đã có người chiếm. Một cô gái trẻ, áo pullover trắng, quần jean xanh, mái tóc ngắn, đôi mắt to. Khuôn mặt đẹp nhưng nhăn nhó khó chịu. Giọng khàn khàn:
– Tôi đành thất lễ: anh thật bất lịch sự! Nhìn gì như muốn nuốt sống người ta!
Anh mỉm cười:
– Xin lỗi, tôi không cố ý. Chỉ ngạc nhiên vì chiếc ghế tôi vừa ngồi bị chiếm mất.
Cô nàng hất mặt, khẽ gắt:
– Đừng kiếm chuyện làm quen. Tôi không chiếm ghế của ai hết. Chiếc ghế bỏ trống.
– Tôi chỉ mới ra mép nước một chút thôi.
Nàng nhổm lên, bực dọc dịch sang chiếc ghế bên, giọng lạnh:
– Vậy thì tôi trả ghế cho anh đấy.
Võ Bằng vẫn lịch sự:
– Tôi đâu có đòi. Ghế của quán Sóng chớ của tôi đâu. Chẳng qua…
Nàng bất ngờ nhoẻn miệng cười, ngắt lời:
– Tôi hiểu rồi và tôi cũng đã trả lại. Mời anh… hạ bàn tọa.
Anh thoáng phân vân. Bỏ đi thì thiếu bản lĩnh mà ngồi thì không còn hứng thú. Nàng lặp lại, giọng nhẹ hơn:
– Mời anh.
Võ Bằng đành ngồi xuống. Giọng nàng vui vẻ:
– Trông anh không giống dân địa phương.
– Cô nhận xét không sai. Tôi làm việc ở đây thôi.
– Cũng chẳng giống quân nhân hay công chức. Quân nhân, công chức không ai ngồi ở biển giờ này.
Võ Bằng trêu chọc:
– Cô luôn luôn nhận xét không sai. Tôi là… ngư dân.
Tưởng nàng sẽ quê mà câm miệng, nhưng lại tỉnh bơ:
– Ồ, thì ra anh là thợ lặn mò ngọc trai. Nghe nói Phú Quốc có nhiều ngọc trai ngũ sắc, đẹp nhất thế giới.
Anh trả lời cho qua chuyện:
– Cũng có thể.
– Vậy anh chắc giàu… nhất thế giới.
Võ Bằng bật cười:
– Ngọc trai không trôi giạt đầy dưới biển đâu. Tay làm hàm nhai thôi. Còn cô, là ai?
– Lan Như.
– Tôi muốn hỏi nghề nghiệp?
– Cũng như anh, làm việc ở đây.
Anh nhìn chiếc máy ảnh Canon xinh xắn nằm trên bụng nàng:
– Làm việc ở đây, không ai đủ tiền sắm máy ảnh quá đẹp.
Lan Như cười duyên:
– Nhận xét quá đúng. Tôi thuộc… khách qua đường.
– Ở đây mấy ngày rồi.
– Hai.
– Đã đi viếng những đảo nào rồi? Đã chụp hết mấy cuộn phim?
– Hỏi chi kỹ vậy? Có dám mời tôi về nhà, lo luôn cơm chiều không?
Võ Bằng lắc đầu:
– Không dám mời vì biết cô sẽ từ chối.
– Cái cách anh nói chuyện, chắc người Sài Gòn?
– Lần này thì cô đoán sai. Chính cô mới là dân Sài Gòn. Cô đến đây du lịch ư? Hết hè rồi…
Cô nàng mím môi một lúc, rồi hỏi lại:
– Anh biết tên tôi rồi, còn anh?

Võ Bằng nhắm mắt, thoáng xót xa. Đời anh đã vướng khá nhiều giai nhân. Thuở thiếu úy, ba người từng thương yêu, rốt cuộc đều chia tay. Lên trung úy, tu tâm dưỡng tánh. Lên đại úy, vớ phải cô đặc công suýt tiêu tùng sự nghiệp. Nay làm hạm trưởng chưa đầy một tháng đã gặp bốn người đẹp – một đang ngồi bên anh. Không biết cô nàng mang đến phúc hay lại thêm họa?
Anh cố hướng ý nghĩ về Như Oanh. Giờ này chắc nàng đang dạy học. Không biết nàng còn nhớ anh không. Anh chàng nào đó may mắn hơn anh nhiều.
Anh chợt nghe giọng ngọt ngào:
– An Thới có gì đặc biệt, hở anh…
Anh không đáp. Có tiếng ghế cọt kẹt và tiếng càu nhàu:
– Người gì đâu mà bất lịch sự, phách lối…
Khi mở mắt, nàng đã bỏ đi, tà áo trắng phất nhẹ trong gió. Anh nhìn theo, nói nhỏ: – Cảm ơn.

***

Sáng hôm sau, buổi thuyết trình hành quân kết thúc lúc 9 giờ. Khi Võ Bằng đứng lên chào từ giã, Tư lệnh Lương Đình Thám mỉm cười:
– Tôi gửi xuống tàu anh một người khách đặc biệt. Ưu tiên giúp đỡ.
Anh chờ nghe rõ hơn nhưng Tư lệnh chỉ bắt tay. Đành băn khoăn cùng Cố vấn Bill cuốc bộ về cầu tàu. Gần cuối cầu, ngang mũi chiếc Rạch Gầm, bóng dáng một thiếu nữ mặc bộ kaki xám, vai đeo túi xách, cổ đeo máy ảnh đang đứng trông ngóng. Khi đến gần, Võ Bằng và nàng cùng sững người.
Lan Như mỉm cười:
– Hoàn toàn bất ngờ. Lan Như xin chào Đại úy Võ Bằng.
Nàng chìa tay. Võ Bằng vui vẻ bắt lấy. Nàng quay sang Cố vấn:
– Hi! Nice to meet you. Lan Nhu, my name.
Cố vấn bắt tay nồng nhiệt:
– Nice to meet you, too. Call me Bill.
Lẽ ra Võ Bằng tra hỏi căn kẽ trước khi cho lên tàu, nhưng nhớ lời Tư lệnh, anh mời Lan Như cùng lên hạm kiều. Sĩ quan trực khám túi xách thật kỹ. Trong lúc chờ, Võ Bằng nhận ra cách Lan Như quan sát: ánh mắt lia nhanh qua từng khẩu súng, từng vị trí – ánh nhìn rất đáng nghi ngờ đối với người quá giang.
Khi đến phòng họp, các sĩ quan đã có mặt đông đủ. Tất cả đứng lên chào. Hạm phó ra dấu mời Lan Như ngồi ghế của anh. Các sĩ quan cùng dãy nhích sang một ghế. Hạm phó ngồi kế Lan Như.
Võ Bằng hỏi nàng:
– Tư lệnh báo gửi người xuống tàu mà không nói rõ để làm gì?
Lan Như mỉm cười:
– Trước hết vô cùng xin lỗi anh Võ Bằng nếu hôm qua Lan Như có lời không phải. Lan Như là phóng viên chiến trường của nhật báo Ngôn Luận. Lan Như từng tham dự các cuộc hành quân của Hải Quân trong sông, hôm nay mong muốn thực hiện một phóng sự về hoạt động trên biển.
Võ Bằng nghiêm giọng:
– Mặc dù có lời gửi gắm, nhưng theo thủ tục, xin cô cho xem giấy tờ liên quan.
Nàng nhấc chiếc xách để cạnh ghế mở lấy xấp giấy tờ trao cho Võ Bằng. Anh chăm chú đọc từng tài liệu:
– Thẻ Căn Cước do Quận trưởng Quận 1 ấn ký.
– Thẻ Báo Chí do Bộ trưởng Bộ Thông Tin ấn ký.
– Giấy Công Tác Ký Giả do Nha Báo Chí ấn ký.
– Giấy phép nhập hạm do Bộ Tư Lệnh Hải Quân Hành Quân Biển ấn ký.
Võ Bằng chỉ thị Trung úy Tuấn tìm cho anh một văn thư có con dấu của Bộ Tư Lệnh Hành quân Biển. Sau khi so sánh tỉ mỉ, anh an tâm nói:
– Đừng lấy làm phiền, chẳng qua ngoài ý muốn.
Anh nhìn một lượt các sĩ quan, giới thiệu:
– Cô Lan Như là phóng viên chiến trường của tờ báo danh tiếng Ngôn Luận. Welcome aboard!
Tất cả vỗ tay, đồng hô: “Welcome aboard!” Võ Bằng nồng nhiệt tiếp:
– Chiến hạm Rạch Gầm chúc cô có dịp diễn đạt các trận đánh như trận Rạch Gầm thuở trước.
Lan Như mỉm cười, mắt long lanh. Có tiếng xì xào thán phục người đẹp chịu chơi. Phóng viên chiến trường đồng nghĩa coi cái chết tựa lông hồng.

Võ Bằng chỉ thị Hạm phó cấp cho Lan Như một phòng ở khu sĩ quan. Trung úy Đặng Thành Tài tạm thay Thiếu úy Dương Công Đức đang dưỡng thương, trách nhiệm về ẩm thực toàn thể thủy thủ đoàn.
Võ Bằng nói qua về công tác tám ngày tới:
– Nhiệm vụ như trước, nhưng trọng yếu hơn. Thổ Châu là tiền đồn ở Vịnh Thái Lan, cách Phú Quốc 100 cây số hướng tây nam, cách mũi Cà Mau 160 cây số hướng tây bắc. Đó là nơi địch tập trung trước khi xâm nhập dọc theo bờ biển hai tỉnh Kiên Giang và An Xuyên. Ngăn chận và tiêu diệt từ xa là trách nhiệm của Trợ chiến hạm Rạch Gầm, ba khinh tốc đỉnh và toàn bộ Duyên Đoàn 42 phối hợp. Khu vực này nhiều hải sản nên đông đảo tàu đánh cá, địch dễ trà trộn. Riêng ngư dân đảo Thổ Châu đã có hàng chục tàu, thêm tàu các nước Mã Lai, Thái Lan. Việc phân biệt không dễ dàng.
Anh hướng về sĩ quan trực, tiếp:
– Cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển, chúng ta lên đường.
Tiếng còi nhịp vang, thúc hối. Trên đường lên đài chỉ huy, Võ Bằng siết chặt tay vịn cầu thang, cảm giác bất an len lỏi. Bất chấp các giới chức thẩm quyền ký tên xác nhận, anh vẫn mong Lan Như không phải là một Phan Kim Phượng thứ hai.

CHƯƠNG 19

TIẾN VỀ QUẦN ĐẢO THỔ CHÂU (tiếp theo)

Hải trình đến Thổ Châu khác xa mọi chuyến trước. Thay vì rẽ trái hướng vào bờ như khi đi Nam Du hay Hải Tặc, Trợ chiến hạm Rạch Gầm lao mũi chếch phải, bung hết tốc lực đường trường ra khơi. Với vận tốc mười hai gút, con tàu phăng phăng rẽ sóng đến vùng chỉ định. Trời trong, gió nhẹ, biển êm như lời mời gọi dịu dàng đầy hứa hẹn.
Vừa qua khỏi Hòn Móng Tay, ba hải lý phía Nam Hòn Thơm, Võ Bằng xem lại hải trình, chỉnh độ giạt bù trừ hướng gió rồi giao lại trách nhiệm hải hành cho sĩ quan đương phiên. Anh trở về buồng riêng, bật băng nhạc. Tiếng hát Lệ Thu trong trẻo, ngọt ngào vang lên, xoa dịu mọi mỏi mệt, lo âu. Đó là thói quen, một cách giải tỏa sau những giờ căng thẳng trên đài chỉ huy. Giai điệu quen thuộc Ngậm Ngùi, Mùa Thu Trong Mưa, Thuyền Viễn Xứ, Xin Còn Gọi Tên Nhau gợi nhớ những chiều cuối tuần ở Queen Bee, thuở còn làm thuyết trình viên Trung Tâm Hành Quân Hải Quân trại Bạch Đằng. Hình ảnh các giọng ca thần tượng hoàn toàn thay thế các bóng hồng…

Đúng mười hai giờ, Võ Bằng xuống phòng ăn sĩ quan. Tất cả đứng lên chào. Anh ra hiệu mọi người ngồi, rồi quay sang chiêu đãi viên: “Mời cô Lan Như.”
Nàng xuất hiện với vẻ e dè. Võ Bằng lên tiếng:
– Mỗi bữa, cô dùng cơm với chúng tôi.
Lan Như lắc đầu, nhỏ nhẹ:
– Xin cảm tạ. Tôi có mang theo lương khô.
– Cứ để dành. Ăn chung cho vui.
Lan Như ngập ngừng:
– Vậy… xin cho tôi được đóng góp.
Võ Bằng cười, lắc đầu:
– Chuyện nhỏ. Mời cô ngồi.
Hạm phó nhường chỗ. Sĩ quan xê dịch. Võ Bằng tiếp lời:
– Mọi người đều đeo bảng tên, cô làm quen dần vậy.
Chợt nhớ vị cựu Hạm trưởng Đống Đa thường mở lời thăm hỏi dành cho “khách quá giang” Phan Kim Phượng, anh hỏi Lan Như:
– Cứ nói thật, không có điều gì phiền lòng về tiếp đãi chứ?
Lan Như nở nụ cười tươi tắn:
– Thưa, hơn cả mong đợi.
– Về ẩm thực, tuy không bằng nhà hàng, nhưng chắc chắn không thua… lương khô. Mời cầm đũa.
Lan Như cúi nhìn mâm cơm, mắt sáng lên:
– Chà! Canh chua, cá kho, đậu xào thịt bò – toàn món ưa thích.
Không khí trở nên ấm cúng. Võ Bằng chan canh vào cơm. Cố vấn Mỹ cầm đũa thuần thục. Mọi người lặng lẽ ăn. Tiếng muỗng chạm vào tô, tiếng chén đặt lên bàn. Một lúc sau, Võ Bằng ngẩng lên:
– Với tư cách phóng viên, cảm tưởng đầu tiên của cô về Rạch Gầm?
Lan Như vừa nhai vừa suy nghĩ. Gọi “anh” như hôm qua có lẽ không ổn. Xưng “tôi” nghe xa cách. Cuối cùng nàng chọn:
– Thưa Hạm trưởng, Lan Như…
Võ Bằng lắc đầu ngắt lời:
– Cô gọi chúng tôi là anh được rồi.
Lan Như mỉm cười:
– Thưa anh. Lan Như thấy… súng mà phát sợ. Từ mũi đến lái, chỗ nào cũng súng với súng. Khẩu ở mũi thật đồ sộ.
Mọi người khẽ cười. Không khí dịu lại. Võ Bằng hỏi tiếp:
– Còn gì nữa?
– Thủy thủ sung sướng hơn bộ binh nhiều. Bộ binh hành quân vất vả. Súng vác, đạn đeo, hành trang lỉnh kỉnh. Còn thủy thủ được tàu chở đi, có người nấu nướng, có máy nước uống.
Thiếu úy Ngô Quang lên tiếng:
– Bộ binh vất vả thật, nhưng chúng tôi cũng có nỗi khổ riêng. Say sóng – nhiều người ta thán thà chết còn hơn!
Lan Như mỉm cười:
– Tôi có thấy sóng gió gì đâu! Êm ru mà!
Trung úy Tuấn nói:
– Do cô may mắn gặp ngày đẹp trời đó!
Hạm phó Tiến cười:
– Khi ra khơi, chúng tôi được tăng phụ cấp ăn uống, nhưng nghịch lý là sóng to gió lớn thì… ăn vô nhả ra!
Tiếng cười rộ lên. Võ Bằng dịch cho cố vấn.
Lan Như chớp mắt, tinh nghịch:
– Tôi hy vọng có dịp nếm thử… ăn vô nhả ra!
Mọi người lại cười. Giọng nàng dịu dàng:
– Lại phải so sánh: bộ binh ngủ bờ ngủ bụi, còn thủy thủ thì giường ấm nệm êm.
Võ Bằng nhún vai:
– Đó là cách bù đắp cho nhiều tháng xa nhà, và cũng để dưỡng sức đối phó sóng gió. Cô từng đi hành quân với bộ binh lâu nhất bao lâu?
– Nửa tháng. Nhân đây, xin cám ơn đã cho tôi một buồng đầy đủ tiện nghi, giường ấm nệm êm.
Võ Bằng đặt đũa, nhìn thẳng nàng:
– Hành quân sống chết trong gang tấc. Cô trẻ đẹp, sao chọn nghề nguy hiểm?
– Lan Như thích từ nhỏ. Thích phiêu lưu mạo hiểm.
– Thiếu gì cách phiêu lưu không nguy hiểm.
– Nhưng phiêu lưu nào cũng phải tốn kém, trừ tháp tùng hành quân. Phiêu lưu mà còn được trả lương!
Mọi người bật cười. Hạm phó xen vào:
– Cô làm phóng viên từ bao giờ?
– Năm 1965. Từ phóng viên thành phố thành phóng viên chiến trường. Của nào tiền nấy!
Hạm phó hỏi thêm:
– Vậy cô thành phóng viên chiến trường lâu chưa?
– Hai năm rồi.
Tiếng Hạm phó chân thành:
– Nên giải nghệ, lấy chồng đi.
Trung úy Tài chen vào:
– Như lấy tôi chẳng hạn!
Lan Như cười khúc khích, mắt long lanh:
– Nếu thích lập gia đình, Lan Như lấy chồng lâu rồi. Anh là người thứ một nghìn lẻ một ngỏ lời. Xin hứa, chừng nào hết thích bay nhảy mà anh chưa có vợ, Lan Như sẽ ưu tiên tìm anh.
Cả bàn cười rộ. Võ Bằng gật đầu:
– Đúng là mỗi người một ý thích. Nhiều nhân viên của tôi có chuyên môn mà các hãng xưởng đều cần – cơ khí, điện tử, y tá, kế toán – nhưng họ lại thích phiêu lưu mạo hiểm với chiến hạm. Chuyến đi này đáp ứng đúng ý thích của cô.
Lan Như tròn mắt:
– Đại dương mênh mông, ngày nào cũng như ngày nào, có gì mà gọi là phiêu lưu mạo hiểm?
Võ Bằng nhìn nàng, nói chậm rãi:
– Cuộc chiến này, cộng sản gọi là chiến tranh tổng lực: tuyên truyền, khủng bố, ám sát, tấn công. Bằng mọi giá chúng phải đưa nhiều loại người và vũ khí vào Nam. Nhiệm vụ của chiến hạm là tìm và diệt. Đó chính là phiêu lưu mạo hiểm.
Lan Như ngừng đũa, nhìn Võ Bằng. Lời anh nói khiến nàng lặng đi. Một nhiệm vụ nặng nề nàng không hề nghĩ tới. Nàng nhìn anh bằng ánh mắt nể vì.
Võ Bằng trầm giọng tiếp:
– Chúng tôi không thụ động. Chúng tôi chủ động săn đuổi. Đó là phiêu lưu. Khi đụng trận, đó là mạo hiểm. Do chủ động, chúng tôi bình tâm nhắm mục tiêu tác xạ. Đó là niềm hứng khởi của thủy thủ đoàn.
Lan Như bật cười, cố xua cảm giác nặng nề:
– Rốt cuộc, giống như trò chơi săn đuổi?
Nói xong, nàng nhận ra sự bất kính của mình. Không khí chùng xuống. Võ Bằng nhíu mày, mạch cổ giật nhẹ nhưng giọng anh vẫn bình thản:
– Phải nói đầy đủ: trò chơi chết người! Tuần rồi, rạp Đại Nam có chiếu phim Moby Dick, cô có xem không?
– Có xem. Đó là cuộc săn cá voi, phiêu lưu và mạo hiểm.
Võ Bằng lại nhíu mày. Giọng anh lạnh:
– Không chỉ là săn cá voi. Đó còn là ẩn dụ về niềm tin mù quáng, như tin vào một chủ nghĩa không tưởng. Nhưng thôi, chúng ta nên ăn tiếp.
Không ai nói gì thêm. Sau cùng, anh quay sang Hạm phó:
– Có dịp, Hạm phó kể cho cô Lan Như nghe về những lần săn tàu Bắc Cộng. Chuyện đó sẽ giúp bài phóng sự thêm hấp dẫn.
Hạm phó Tiến liếc nhìn nàng. Ánh mắt chạm ánh mắt:
– Tôi không phải là người kể chuyện hay, nhưng tôi tin qua ngòi bút của cô nó sẽ vô cùng hấp dẫn.
– Cám ơn anh, tôi mong được nghe.
Chiêu đãi viên dọn bàn, mang lên món bánh kẹp sô-cô-la. Anh nói:
– Món điểm tâm này là của cố vấn.
Mọi người cám ơn Bill. Cố vấn hỏi Lan Như bằng tiếng Việt khá rành rọt:
– Lần đầu đi tàu, cô cảm thấy thế nào?
– Tôi thích lắm. Mọi thứ đều mới lạ.
– Sau tám ngày, cô sẽ thấy còn nhiều điều thú vị khác. Khi viết xong bài phóng sự, cho tôi một bản. Tôi sẽ dịch và đăng trên Stars and Stripes.
Lan Như lắc đầu:
– Một vinh dự lớn, tôi không dám nhận. Nhưng anh sẽ có một bản để tùy nghi.
Điều này nhắc nàng nhớ lời chủ bút: cần tin tức đầy đủ về sinh hoạt, chiến trận, kỹ thuật điều động và phản ứng của thủy thủ. Muốn vậy, nàng phải được tự do tìm hiểu.

Chuông điện thoại reo. Đài chỉ huy báo cáo: đã thấy đảo. Võ Bằng, Cố vấn và các sĩ quan đồng đứng dậy. Lan Như nhìn theo, muốn đi cùng, nhưng ngại ngỏ lời. Còn quá sớm để đòi hỏi.
Chiêu đãi viên mời nàng cà phê. Theo thói quen, nàng vừa nhâm nhi vừa suy nghĩ Cả hai người quyền lực nhất trên tàu – Hạm trưởng, Hạm phó – xem chừng đều tỏ ra lạnh nhạt, giữ khoảng cách. Bất lợi thật. Nhưng dù khó khăn thế nào, nàng vẫn phải giữ nhiệt huyết.
Cạn ly, nàng rời phòng ăn, bước qua hành lang vắng lặng về buồng ngủ. Trên giường, chiếc áo lạnh dày có nón trùm đầu được xếp ngay ngắn. Bên cạnh là áo giáp, nón sắt. Thì ra Võ Bằng không hề vô tâm. Nàng chạm tay lần lượt ba món, nghe lòng ấm áp. Nhưng anh vẫn là một người kỳ dị, khó đoán. Nghề nghiệp thúc đẩy nàng tìm hiểu.
Nằm dài trên nệm, nàng cảm thấy mỏi mệt tan dần. Nhưng nỗi cô đơn ùa đến. Ngày đầu tiên mới qua vài giờ mà dài như vô tận. Nàng băn khoăn nghĩ về cuộc phiêu lưu mạo hiểm lần này. Nếu đụng trận, bộ binh còn có nhiều hầm hố ẩn nấp, còn trên tàu, chỉ một áo giáp? Thì đành cầu mong đạn biết tránh mình!
Nàng lắng nghe những âm thanh lạ: tiếng máy tàu gầm gừ, hệ thống thông gió o o. Nỗi khắc khoải khiến nàng thao thức. Căn buồng chật hẹp khiến nàng như nghẹt thở. Nàng nhớ bầu trời rộng, nhớ không khí trong lành nơi rừng sâu.
Không chịu nổi, nàng bật dậy, quyết định lên boong tàu. Qua phòng ăn sĩ quan, dọc theo hành lang dài, vào phòng ăn đoàn viên. Một thủy thủ hỏi nàng cần gì. Biết mục đích, anh đưa nàng đến cánh cửa gài chặt bằng nhiều cần quay. Bằng động tác nhanh nhẹn, anh vặn các cần quay xuôi chiều, cánh cửa nặng nề bật mở.
Ánh nắng chói chang xuyên vào mắt Lan Như. Gió lạnh tạt vào mặt, thơm tho. Nàng bước ra ngoài. Biển mở rộng, những vệt sóng loang ánh bạc. Nàng đi vòng qua mạn trái, dưới gió. Mặt biển êm đềm, óng ánh, mênh mông. Xa xa, vài chiếc ghe câu bơ vơ. Nàng thấy mình cũng đâu khá gì, lạc lõng, bơ vơ. Ban ngày đã buồn tẻ, đêm xuống hẳn càng khủng khiếp. Chẳng lẽ suốt tám ngày chỉ quanh quẩn buồng ngủ và phòng ăn?
– Chào chị, xin lỗi tôi đến hơi chậm.
Nàng giật mình quay lại. Một thủy thủ trẻ gật đầu chào. Nàng hồi hộp hỏi:
– Chậm gì vậy anh?
– Đi tìm chị khắp nơi.
– Có chuyện gì?
– Hạm trưởng bảo tôi nhắn: chị có thể lên đài chỉ huy ngắm quần đảo Thổ Châu.

CHƯƠNG 20
CHIA TAY

Một tuần đã trôi qua kể từ đêm Như Oanh nói lời chia tay Vinh. Suốt bảy ngày, nàng vùi đầu vào việc soạn bài giảng dạy. Thỉnh thoảng hình ảnh Vinh, ký ức cũ thoáng hiện về, nhưng rồi câu nói “Bà Bộ trưởng” vang lên như tiếng chuông cảnh tỉnh, giúp nàng vững vàng hơn với lựa chọn của mình.
Sáng nay Chủ Nhật, ngày vốn thuộc về Vinh suốt bốn năm ròng. Ánh nắng cuối thu xuyên qua khung cửa sổ, rải những vệt vàng ấm áp lên sàn nhà, không làm tan nỗi hồi hộp đang dâng lên. Nếu Vinh đến, liệu nàng nên lánh mặt hay cứ đối mặt cho rõ ràng, dứt khoát?
Ba mẹ nàng đã ra công ty xuất nhập cảng từ sớm để tiếp nhận lô hàng mới. Căn nhà yên ắng lạ thường như chờ cuộc gặp gỡ chắc chắn là chẳng ai vui.
Đúng 9 giờ, tiếng chuông cửa vang lên. Tim nàng thắt lại. Chờ đến hồi chuông thứ ba, như để tỏ ra không hề ngóng trông, Như Oanh mới từ từ mở cánh cửa.
Vinh đứng đó, trong bộ vest chỉnh tề, bó hồng nhung đỏ thắm trên tay. Nhưng ánh mắt anh không còn vẻ tự tin ngày trước, mà tỏ vẻ ngại ngùng, lúng túng. Hai người nhìn nhau, một thoáng im lặng nặng nề. Như Oanh đón bó hoa để không mở rộng vòng tay như mọi khi. Nàng khẽ nói:
– Mời anh vào.
Vinh bước theo nàng vào phòng khách. Anh ngồi xuống chiếc sofa mà trước đây anh vẫn xem như một phần không gian dành riêng cho anh và nàng. Như Oanh cắm hoa vào bình đặt lên bàn, rồi ngồi đối diện, thay vì vẫn cạnh kề nhau. Giọng Vinh có phần hối hả:
– Cảm ơn em đã tiếp anh. Anh… anh đã sợ là em không muốn gặp mặt nữa.
Như Oanh cúi mặt, im lặng. Vinh lại tiếp:
– Anh xin lỗi về chuyện hôm trước. Anh đã có phần thô lỗ. Mong em bỏ qua cho anh…
Như Oanh ngẩng lên, giữ giọng điệu bình thản:
– Anh không cần phải xin lỗi. Suốt bốn năm qua em đã yêu anh, và biết ơn anh cho em những ngày tháng hạnh phúc ấy. Nhưng chuyến đi An Thới vừa rồi giúp em hiểu rõ mình muốn sống thế nào. Ở đó, con người bình dị, thiên nhiên thanh tịnh. Em thấy hoàn toàn thích hợp với em không như lối sống sang trọng, phô trương, hời hợt. Nghĩa là em nhận ra anh không còn là người đàn ông em mơ tưởng.
Vinh vội đáp lời:
– Em muốn sống ở đâu, anh cũng chiều. An Thới, Nha Trang, hay bất cứ tỉnh nào anh đều đồng ý. Em muốn anh thay đổi thế nào, anh sẽ làm đúng như vậy.
Nàng thở dài, nhìn thẳng vào mắt anh:
– Nói thì dễ lắm. Nhưng bản tính đâu dễ thay đổi. Anh là người của chức vị, của uy quyền và danh vọng. Một khi rời những thứ ấy, anh sẽ khổ, và người khổ cùng anh – là em. Thử tưởng tượng anh làm một công chức tỉnh lẻ. Chắc chắn chỉ ngày một ngày hai là anh bất mãn. Rồi anh sẽ cáu gắt hơn, và rồi chính anh sẽ là người đòi ly dị.
– Không! Không bao giờ có chuyện đó xảy ra. Anh hứa với em.
Giọng nàng vẫn nhẹ nhàng:
– Em không tin vào những lời hứa, kể cả của chính em!
– Nhưng ít nhất hãy cho anh một cơ hội…
Nàng bước đến lấy từ tủ lạnh ra một lon bia cho Vinh và một ly nước lạnh cho mình. Vừa ngồi lên ghế, nàng nâng ly uống vài ngụm. Khoảng lặng kéo dài. Ánh sáng ngoài cửa sổ hắt lên gương mặt nàng, u buồn, lạnh lẽo.
Vinh nhìn lon Budweiser nhưng không khui uống. Anh lặp lại:
– Như Oanh, hãy cho anh một cơ hội.
Nàng sửa thế ngồi, lên tiếng:
– Còn một điều nữa. Chính điều này khiến em dứt khoát…
Vinh ngạc nhiên, mắt mở to chờ đợi. Giọng nàng nghèn nghẹn:
– Trong Đêm Màu Hồng, anh nói thẳng với em: “Sao không nghĩ, một ngày nào đó, người ta sẽ gọi em là “Bà Bộ trưởng”?
Vinh vội xua tay:
– Anh chỉ muốn nói em xứng đáng có một cuộc sống sang giàu…
Như Oanh lắc đầu, giọng đầy chua chát:
– Tham vọng của anh, tự nó không có gì sai. Nhưng anh đem tham vọng ấy để gắn lên người em thì đó là sự xúc phạm. Em yêu con người của anh, chứ không phải vì tương lai thành “Bà Bộ trưởng”.
– Anh… anh xin lỗi. Anh không có ý đó.
– Khi còn là người yêu mà anh đã nghĩ như thế, thì khi thành vợ chồng, anh sẽ còn buông những lời nặng nề nào nữa? Khi nhân sinh quan khác biệt, tốt nhất là đừng làm khổ nhau.
Vinh cúi mặt, dáng vẻ khốn khổ, bất lực. Rồi bất ngờ ngẩng mặt, ánh mắt sắc lạnh:
– Vậy là… em đã có người khác rồi, phải không? Cái người ở An Thới đó?
Như Oanh bình thản:
– Đây là chuyện giữa anh và em, không ăn nhằm gì đến ai khác.
Vinh đứng phắt dậy, mặt đỏ gay. Như Oanh thản nhiên ngước nhìn. Vinh cố kìm nén cơn thịnh nộ, giọng run lên:
– Được rồi! Em muốn chia tay thì chia tay!
Anh quay người, bước những bước dài nặng nề ra cửa. Tiếng động cơ xe nổ rền, khục khặc phóng vụt đi. Như Oanh bước đến tựa lưng vào cánh cửa nhìn theo. Một cảm giác trống rỗng mênh mông ùa về. Hai hàng nước mắt trào ra, không vì tiếc nuối mà vì nhẹ nhõm.

***

Sáng hôm sau, Như Oanh đang ngồi soạn bài giảng dạy tuần tới thì mẹ bước vào. Giọng mẹ nhẹ nhàng:
– Oanh, ba chờ con dưới nhà.
Tim nàng khẽ chựng lại, và đoán là chuyện của Vinh. Xuống phòng khách, nàng thấy ba đang ngồi nghiêm trên ghế. Mẹ ngồi xuống bên cạnh, nét mặt trầm tư. Không khí có phần căng thẳng.
Ba nàng hắng giọng:
– Con ngồi xuống đi.
Như Oanh e dè ngồi, cố giữ bình tĩnh. Nhưng khi chạm phải ánh mắt nghiêm nghị của ông, một làn sóng bối rối khẽ dâng lên…
Giọng ông Khải ôn tồn, nhưng đi thẳng vào vấn đề:
– Ba vừa nói chuyện với ba của Vinh. Ông ấy bảo con giận Vinh nên không chịu làm lễ hỏi nữa. Có đúng không?
Như Oanh khẽ gật đầu:
– Dạ, đúng. Nhưng con không giận, chỉ là thấy… không thể sống với anh ấy.
– Chuyện gì đã xảy ra? Bốn năm vui vẻ, sao tự dưng đổi ý?
– Tụi con khác nhau quá, thưa ba. Anh ấy nóng nảy, và… không tôn trọng con.
Ông Khải nhíu mày:
– Nóng nảy thì sửa được. Còn không tôn trọng là sao?
– Ảnh cho rằng con mê ảnh vì tương lai ảnh làm bộ trưởng.
Ông Khải cau mày:
– Nó chỉ muốn con có cuộc sống khá hơn thôi. Bao cô mơ được như con.
– Nhưng con không muốn bị đo bằng tiền bạc hay chức vụ.
Nàng quay nhìn mẹ, tìm kiếm một sự đồng cảm:
– Thưa mẹ, nếu ngày xưa ba cũng phô trương như vậy, liệu mẹ có chịu làm vợ ba không?
Mẹ nàng nhẹ giọng:
– Con à, tình yêu bốn năm đâu dễ bỏ. Hãy cho nó một cơ hội.
– Nhưng con không muốn có một người chồng ba hoa, và thô lỗ. Ngay giữa chốn đông người, anh ấy cũng đã lớn tiếng với con.
– Bởi vậy nó mới hạ mình đến xin lỗi. Con còn muốn nó phải làm gì hơn nữa?
– Ba đối với mẹ lúc nào cũng dịu dàng, ân cần. Ba muốn con mình sau này bị chồng nạt nộ, rồi xin lỗi, rồi lại nạt nộ sao? Con không thể chấp nhận một cuộc sống như vậy.
Bà Khải dịu dàng:
– Con à, mẹ hiểu lòng con. Nhưng bỏ qua đi. Nó đã hạ mình xin lỗi rồi!
– Mẹ à, mẹ biết đó, “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Con không muốn cả đời phải bị ràng buộc với một người có tính tình như vậy.
Ông Khải thở dài. Quẹt lửa bật ba lần mới cháy, ông châm thuốc. Khói vờn quanh khuôn mặt u buồn:
– Con biết đó, việc làm ăn giữa ba và ba nó đang ở giai đoạn quan trọng. Nếu con rút lui, có thể hỏng hết.
Như Oanh nhìn thẳng vào ba, giọng kiên quyết:
– Chuyện làm ăn của ba không liên quan đến tụi con. Hai đứa mới gặp nhau sau này…
– Con đã hứa về lễ hỏi. Giờ con rút lui, người ta bảo gia đình mình thất tín.
– Lời hứa là của con. Con có quyền rút lại nếu thấy sự tình không đúng như lúc hứa.
Ông Khải trân trân nhìn con gái. Nó quá giống chị nó ngày nào: thẳng thắn, cương nghị, lý lẽ vững vàng. Ông đổi giọng nhẹ nhàng hơn:
– Con quên một mối ràng buộc. Đó là ân nghĩa giúp con được dạy học ở trường gần nhà.
– Con không hề nhờ anh ấy. Anh ấy tự nguyện giúp. Dù sao, con cũng đã nghĩ đến chuyện sẽ xin đi dạy ở một nơi khác, để tránh những lời dị nghị.
Bà Khải kêu lên, giọng lo lắng:
– Không được đâu con! Ba mẹ chỉ còn mỗi mình con ở bên cạnh. Mẹ không muốn con đi xa.
Như Oanh chồm tới, nắm lấy tay mẹ:
– Mẹ à, nếu con lấy anh Vinh, thì con cũng phải theo chồng về nhà khác.
Ông Khải hít một hơi thuốc thật sâu, từ từ nhả khói. Ông hỏi:
– Ba của Vinh còn nói… con đã để ý người khác. Có thật không?
Nàng cúi đầu. Mẹ nàng ngạc nhiên, kêu lên:
– Thật sao? Sao có thể được!
Nàng đắn đo, rồi dứt khoát thưa:
– Con xin nói rõ, chuyện này không phải là lý do con tuyệt giao với anh Vinh. Con chỉ mới quen, tình cờ trong bữa tiệc ở nhà anh Thám. Chưa có gì rõ ràng, thậm chí không chắc gì gặp lại nhau.
Ông Khải hỏi dò:
– Người đó là ai?
– Cùng nghề với anh Thám… Hải quân. Nghe nói anh ấy là Hạm trưởng.
Ông Khải bật cười khô khốc:
– Hạm trưởng nghe thì oai, nhưng cũng chỉ là sĩ quan. Lương đâu đủ lo cho con?
– Chị con vẫn hạnh phúc dù đạm bạc.
– Con à, chị con đã sáu năm không có nổi căn nhà. Đời sống thì năm nay nơi này, năm tới nơi khác, y như tàu lênh đênh. Nhà này một hải quân là đủ rồi!
– Con cũng như chị, đó là cuộc sống con ước mơ. Còn hơn vạn lần, năm này qua năm khác, suốt ngày nghe lải nhải về hợp đồng, thuế má, thống kê…
Nàng nắm tay mẹ, giọng tha thiết:
– Ba mẹ đã cho chị của con quyền chọn chồng. Xin hãy cho con được như vậy. Con chọn – con chịu trách nhiệm.
Mẹ nàng đặt tay lên tay chồng, cười hiền hòa:
– Ngày xưa em cũng vậy thôi, anh nhớ chứ?
Khói thuốc bay lên, tan dần. Ông Khải nhìn vợ, rồi nhìn con. Trong ánh mắt ông chợt có nét dịu dàng, pha chút hoài niệm:
– Ba mẹ con sao giống nhau dữ. Ngày xưa, ba cũng chỉ là công chức nhỏ, nhưng mẹ con tin ba. Đúng là đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn…
Ông ngừng, giọng trầm xuống:
– Ba chỉ sợ con khổ. Chỉ sợ con tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa. Nếu người đó thật lòng, đủ bản lĩnh, hãy để ba mẹ gặp.
Giọng nàng buồn buồn:
– Con không biết có duyên gặp lại anh ấy không. Con cũng không biết ảnh có thương con không, có ước muốn cưới con không. Chỉ là linh cảm….
– Nếu có duyên gặp lại, con đối xử thế nào?
– Con sẽ tìm hiểu thêm về tư cách, tính tình. Nếu anh ấy độc thân, đàng hoàng và muốn tiến đến hôn nhân con sẽ đưa đến gặp ba mẹ.
Ông Khải trang nghiêm nhìn con gái:
– Vậy ba hỏi con điều cuối cùng. Nếu sau khi ba mẹ tìm hiểu và đi đến kết luận không đồng ý, con có nghe lời ba mẹ không?
Như Oanh nhìn sâu vào mắt ông, nụ cười tươi nở trên môi. Nàng gật đầu, giọng tôn kính nhưng kiên định:
– Dĩ nhiên con sẽ nghe lời ba mẹ, nếu thấy… thuyết phục.

Vũ Thất

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Vũ Thất