Cũng chỉ là một giòng sông. Cũng chỉ là một chiếc cầu. Cũ-kỹ. Như thường. Nhưng nơi đây đã mang một ý nghĩa, một kỷ-niệm rõ-rệt. Có nhiều lúc tôi tự hỏi tại sao chỗ này lại là ranh giới. Tôi chưa dám dùng chữ biên giới, có lẽ vì trong tôi nó còn tiềm ẩn một niềm tin. Rằng: dù sao thì sự chia cắt cũng chỉ là giai đoạn, sẽ có ngày người ta không còn phải dừng chân lại ở bên kia cũng như bên này đầu cầu.
Tôi đứng dựa vào thanh-cầu, áp má vào một thanh-sắt, hơi lạnh truyền sang da thịt tôi. Rõ-rệt quá. Hiển nhiên quá. Giòng sông đây. Chiếc cầu đây. Không thể… nghi-ngờ, không thể tưởng tượng gì được nữa. Tôi đứng đây, tôi đứng bên này, tôi dừng lại ở bên này, không khí tôi thở có thể là từ bên này hay bên kia bởi làn gió hiu hiu từ cửa biển thổi vào. Hòa hợp và chan chứa. Nhưng đất dai thì vẫn là đất đai. Bờ bên kia và bờ bên này vẫn là hai miền tôi không thể làm sao được để nó khỏi là xa-cách.
Tôi đập mạnh tay vào thanh sắt thành cầu, tiếng kim khí rung vang lên truyền sang tới bên kia. Mầu sắc thì không thể, một chiếc cầu mà sơn nhiều mầu dang-dở, như là một cuộc tình-duyên dở-dang.
Tôi đứng lặng nhìn sang bên kia, lúc này nơi đây yên tĩnh quá, tưởng có thể lắng nghe nhịp tim của người hai bến bờ rung-động. Mạch máu tôi tưởng có thể truyền sang được mạch máu những người bên kia. Tôi nghĩ rằng dù muốn, dù không, dù ngăn trở, dù xa cách, con người hai miền vẫn còn nhiều ràng buộc với nhau.
Tôi gạt đi hình ảnh những cuộc biểu tình phản đối, những kiến nghị, những buổi hội-họp, những biểu ngữ, những khẩu hiệu, những thái độ chính-trị của bên này cũng như bên kia.
Tôi không nghĩ tới cả những tấm bản-đồ quân-sự trong các Bộ Tham-Mưu. Những kế hoạch, những dự-tính của các nhà chiến thuật. Tôi muốn có một thái độ nhìn thẳng, khoan thai. Bao nhiêu bản đồ đều gấp lại. Bao nhiêu những dấu tích gì mang một ý-nghĩa chia phôi, tôi muốn dẹp đi hết.
Để lắng nghe thấy từ lòng đất, từ dòng nước, từ những lùm cây cụm cỏ, những hơi thở, những nụ cười ở đôi môi, và khóe mắt dân hai miền một tiếng thầm gì đó, một âm vang gì đó, một cái gì đó hết sức linh thiêng: hết sức dịu-dàng và hết sức hòa-thuận.
Tôi muốn nằm thẳng cẳng, giang tay giang chân giữa chiếc cầu này, nhắm mắt lại để không phải ngửi thấy, không phải nghe thấy, không phải trông thấy, không phải nghĩ tới tất cả những gì ở xung quanh, những gì đang diễn ra cay-đắng. Tôi muốn quên đi cái thực tại.
Nhưng những tiếng động khua vang trên cầu làm tôi nhận thấy mình đang đứng ở đầu cầu bên này. Tôi đưa mắt nhìn lên. Hai người cán-bộ hai miền đang thả bước trên cầu. Trang bị khác nhau, dáng điệu khác nhau, hướng đi khác nhau, một người đi sang bên kia, một người bước tới bên này. Cả hai cùng chậm-rãi. Cả hai cùng in bóng dưới dòng sông. Các anh không cười với nhau, các anh không cả nhìn nhau. Dửng dưng như hai thành cầu đối diện, như những chiếc ghế của một bộ bàn ghế! Các anh vẫn cúi đầu thả bước đều đều. Trời ơi! Tôi không thể chịu được thái-độ này. Tại sao lại không cười với nhau được chứ. Người bên cạnh không còn là người đối với các anh nữa sao. Người đối diện không còn một ý-nghĩa gì nữa sao. Các anh không còn biết rung-động, yêu thương gì tha-nhân nữa cả?
Người bên kia đi sang bên này đã đến gần chỗ tôi. Anh ta bắt đầu chú ý tới tôi. À thì có thế chứ. Anh cũng phải biết rằng có tôi đứng bên này chứ. Anh cũng phải nhìn thấy tôi chứ. Ê! Nhưng không nhìn thế đâu nhé, không nhìn cái lối tra-hỏi thế đâu nhé. Tôi không là thứ để anh nhìn như nhìn một khẩu-súng, một trái mìn. Tôi là người, tôi thích người khác mỉm cười với tôi, khoan thai và hòa-thuận với tôi.
Chắc anh nghi ngờ tôi chứ gì. Muốn tìm hiểu xem tôi là gì chứ gì. Có phải là do-thám không à? Khôi hài nhỉ. Tôi nhìn mắt anh tôi biết, tôi nhìn miệng anh tôi biết. Không một ánh trìu-mến, không một nụ thương cảm. Chỉ là một thái-độ xoi-mói.
Nên nhớ ngày mai tôi sẽ không còn ở đây nữa nhé. Năm năm đã qua rồi. Vùng này tôi đã quen rồi. Tôi sẽ trở lại thủ-đô. Tôi sẽ đi xe hơi trên quốc lộ về Huế. Rồi từ đó tôi sẽ đáp xe lửa chui qua các hầm xuyên núi tới Đà Nẵng. Nơi đây tôi sẽ lên máy bay vô miền Nam.
Trước khi máy bay hạ cánh tôi sẽ nhìn nghiêng qua cửa sổ ngó xuống Saigon. Anh muốn tôi mang vào đấy một hình ảnh bộ mặt soi-mói nghi ngờ của anh à. —- Không. Vậy thì phải làm sao, có ai lại muốn mang kỷ-niệm xấu với nhau đâu.
Tôi nghĩ tới Saigon và người tôi yêu trong ấy. Nàng thường ngồi chơi dương cầm. Một mình.Có lần nàng viết cho tôi trong thư, “Em tức không được khiêng đàn ra chỗ anh, dạo một bản cho hai bên sông cùng nghe. Âm thanh là của chung và nghệ-thuật không biên-giới”.
Giá lúc này mà nàng có ở đây, với cây đàn. Anh có thích nghe chứ. Tôi sợ anh lại tưởng lầm là tiếng đàn chiêu-dụ anh. Các anh hay nghi ngờ lắm. Nghe đàn các anh cũng phải điều tra người đánh đàn trước. Hồi tôi ở Hà Nội, tôi cũng có một người yêu thích dương cầm. Nàng ở lại bên ấy. Chẳng hiểu bây giờ cô ta có còn ý-thích ngày xưa nữa không.
À, nhưng với anh thì tiếng đàn lúc này có mang một ý-nghĩa gì không, có ích lợi gì không chứ. Lúc này chắc anh chẳng nghĩ đến những âm-thanh ấy. Âm-thanh phải có lợi với các anh mới là nghệ-thuật. Vì vậy nhiều khi một tiếng súng nổ trong đêm tối cũng có thể là một khúc nhạc của các anh. Bây giờ thì anh chỉ chú ý đến tôi, anh đang nghiên cứu tôi. Tôi bắt đầu giận anh từ lúc anh nhìn tôi.
Anh đứng khom lưng, hai khuỷu tay tì trên thành cầu. Nhìn xuống dòng nước, rồi lại sang nhìn tôi. Tôi biết anh đang có dự-định về tôi.
Tôi không muốn người nào nắm trọn con người tôi cả. Tôi muốn cô độc, không liên-quan gì tới các anh. Tôi sẽ ngồi bệt xuống bờ sông này. Để chỉ nghĩ đến cái thiêng-liêng của quê-hương ta, lắng nghe tiếng rền của giòng nước, lắng nghe tâm-hồn mình đọng lại.
Tôi mới đọc một bài của một nhà văn ngoài ấy. Bài “Con sông Tuyến Hiền-Lương” đăng trên Tạp-chí Văn-Nghệ số tháng 10-1959 ở Hà Nội. Anh ta kể lại một chuyến đi thăm Hiền-Lương. Anh đã nói dối nhiều điều. Anh ta cũng đi men theo dọc bờ sông bên kia, và từ bên ấy anh ta nhìn sang bên này. Tôi thì mới chỉ nhìn từ bên này sang bên ấy. Điều thiếu sót là, chúng ta mới chỉ nhìn nhau với những cái nhìn một chiều như thế. Tôi muốn tôi phải là anh, anh được là tôi. Chúng ta phải được nhìn từ bên ngoài vào người khác và phải từ bên trong con người ấy nhìn người ấy cũng như phải nhìn ta từ bên trong ta và nhìn ta từ bên ngoài ta nữa. Tôi không muốn nói đến những thái-độ, kiểu cách nhìn của các cán-bộ. Tôi muốn nói với anh bạn Văn-Nghệ bên kia là chúng ta thử nhìn nhau bằng những cái nhìn văn-nghệ. Dĩ nhiên là người nào cũng có lập-trường và nhìn với cái lập-trường của mình. Tôi không bảo là anh phải nhìn qua ống kính của tôi, nhưng giá mọi người chúng ta đều được nhìn qua tất cả những ống kính ở tất cả mọi góc cạnh.
Anh bạn cán-bộ bên kia ơi. Anh đã xếp loại được tôi rồi phải không. Tôi thuộc thành-phần nào trong xã-hội và anh đã quyết định một thái độ với tôi hay sao mà anh xoa tay mỉm cười thế.
Tôi sống ở miền gần ranh giới này đã từ năm năm nay. Ngày mai tôi sẽ về Thủ-Đô. Hôm nay tôi ra đây để tìm lấy cái cảm-giác của một kẻ mất quê-hương. Ngồi tại cái đầu cầu để mà nhận rõ thấy một điều rằng đất nước mình hiện không thống nhất. Từ mấy năm nay tôi vẫn có cái cảm tưởng mơ-hồ rằng sự phân chia chỉ là tạm bợ ngày một ngày hai sẽ không còn nữa. Nhưng rồi tôi cũng phải nhìn nhận rằng việc hàn-gắn một chia cắt không phải chuyện dễ-dàng. Nhất là hàn-gắn sự chia cắt giữa những tâm-hồn chúng ta. Trong phòng nhóm của những kẻ có thẩm-quyền, người ta cầm cây chì đỏ, vạch ngay con sông này trên bản-đồ một vạch thật giản-dị, nhưng người ta có biết đâu nó đã…. vạch sâu vào tâm-hồn chúng ta một sự cách-biệt kinh-khủng.
Dòng sông nhỏ hẹp, lại có chiếc cầu bắc qua. Giản-dị và sơ-sài. Những cây cản chặn ngang đường kia sẽ chẳng giữ được ai. Người ta có thể vượt qua, người ta có thể xóa-bỏ đi một lằn mức trên đất đai nhưng người ta khó có thể vượt qua được sự phân-chia cách-biệt giữa các tâm hồn con người hai miền.
Đến bao giờ hai người cán-bộ gác cầu mới khỏi đối xử với nhau như hai đồ vật, bao giờ họ mới biết nhìn nhau bằng cái nhìn thành-thật thương cảm. Bao giờ họ mới giật mình mà nghĩ ra rằng họ là anh em. Chỉ vì hai chủ-nghĩa khác nhau mà thành thù-địch. Mặc dù chủ-nghĩa nào cũng đều hướng về con người để cứu lấy nó.
Ở đây tôi không nói đến cái sai lầm hay chân-lý của chủ nghĩa nào. Tôi gạt điều đó ra ngoài. Tôi chỉ thắc-mắc là cả hai bên đều vì con người mà tại sao lại trở thành thù-địch. Hôm nay trước khi trở vào Thủ-Đô, tôi ra ở đầu cầu bên này để suy nghĩ tới điều đó. Anh bạn bên kia ơi. Đừng có nghĩ đến chiếm-đoạt nhau. Hãy nghĩ tới làm thế nào cho con người được làm việc và hưởng-thụ, mà vẫn tự-do và thảnh thơi.
Đã từ bao lâu nay người ta lợi dụng con người để tìm cách phá đổ nó. Từ bao nghìn năm nay, có biết bao lý thuyết, chủ nghĩa mà sao con người vẫn đói khổ. Con người bị lường gạt đã nhiều. Hãy nghĩ đến nó và để nó được tự do.
Người cán bộ bên kia xoa tay mỉm cười bước thêm vài bước tới tận đầu cầu bên này. Anh cười Chính trị với tôi! Anh chào hỏi thăm tôi. Rồi anh chợt nói tôi :
– Hẳn anh bạn biết bên nào mạnh chứ. Liên Sô vừa phóng một vệ tinh bốn tấn rưỡi, bay xung quanh trái đất, mắt người nhìn thấy.
Nói rồi anh nhìn lên trời như tìm kiếm trong đám mây trên kia cái đảm bảo cho lời nói của anh.
Tôi nhìn xuống dòng nước, từng bóng mây in hình dưới ấy, có cả chiếc cầu, có cả bóng dáng của anh.
Tôi không trả lời anh. Tôi nhìn đứa bé chăn trâu trên bãi cỏ gần bờ sông. Nó mặc một manh quần đùi đen, chiếc áo cánh bẩn thỉu, nằm ngủ trên con vật gầy còm.
Tôi nghĩ rằng công việc của chúng ta phải làm không phải là điều anh vừa hỏi tôi, mà là những vấn đề cho những lớp người nghèo khổ. Những đứa bé không đi học.
Tôi đứng dậy trở về nhà thu xếp hành lý. Ngày mai tôi sẽ không còn ở đây, từ ngày tôi đến đến ngày tôi đi, con sông vẫn là đường chi cắt, gián đoạn. Người hai miền vẫn gạt nhau ra khỏi hồn nhau và coi nhau như thù địch.
Nhưng thực ra vấn đề không ở con sông, không ở chiếc cầu, không ở những cột cờ. Nó ở trong lòng con người hai miền, ở trong lòng chúng ta. Giữa chúng ta không phải chỉ cách biệt bởi một ranh giới, một làn mức, mà là ở bức tường vô hình ngăn cách tâm hồn chúng ta. Chúng ta đối diện nhau mà không nhìn nhau. Chúng ta ở rất gần nhau mà vẫn thấy như lạc-lõng. Anh bạn bên kia ơi, yêu-thương còn chưa đủ cho nhau nữa là căm thù. Đau xót không chỉ tại xa quê hương mà là ở cái nứt-rạn rướm máu trong lòng. Tôi muốn mỗi người đều xét lại đến những ràng-buộc của mình.
Tôi tạt vào lớp học mà tôi đã bàn giao lại cho một thầy giáo mới đến thay tôi. Căn nhà lá có những bàn ghế thô sơ loang lổ những vết mực học trò.
Tôi nhìn lên chiếc bàn của tôi, nó là một chiếc án thư gỗ gụ của một thời xa-xưa để lại. Chỗ làm việc của tôi đó. Vị trí của tôi đó. Từ năm năm nay. Tôi yêu những hình-ảnh này. Những hình ảnh buộc liền với đời tôi một cách thắm-thiết. Tôi yêu những khuôn mặt ngờ-nghệch của những đứa bé nhà quê. Từ năm năm nay tôi sống với chúng, tôi đã không dạy chúng đả đảo hay ủng-hộ ai. Tôi nói nhiều với chúng về tình yêu-thương nhau, sự ràng-buộc giữa những con người.
Người hai miền ơi !
Ngày mai tôi không còn ở đây. Nhưng con sông thì vẫn còn đấy. Công việc nối liền hai miền, xóa đi cái ranh-giới trên đất đai và cái ranh giới trong tâm hồn chúng ta là công việc của chính chúng ta. Không dựa vào một vệ-tinh hay phi-thuyền-không-gian nào cả. Nếu ngày mai chúng ta không còn nữa mà việc ấy vẫn chưa giải-quyết được, chúng ta vẫn coi nhau như thù-địch thì sẽ đến lần những thế hệ sau chúng ta. Những đứa bé còn đang ngồi ở bàn học trò hay nằm ngủ trên mình trâu sẽ có một ngày chúng biết yêu nhau, và ngày ấy con sông này sẽ không còn là biên giới.
Thì xin đừng ai dạy chúng căm thù.
Thảo Trường
Trong tạp chí Sáng Tạo số 4 – Bộ mới – 10, 1960
_______________________________________________________________
“Understanding Vietnam” by Neil L. Jamieson (page 285-289)
In early 1970, I spent an evening with poet Ninh Chu. We wandered around the city, sampling the specialties of various kiosks and sidewalk cafes, drinking beer, and talking about literature and politics. Just before curfew, he took me to his home and pressed a book into my hand. It was Try the Fire, by Thao Truong. “This,” Ninh Chu told me, “is real Vietnamese literature. Here is the deepest and best spirit of our people.” He especially drew my attention to a selection I translate as “Color and Hue,” written about 1959.
Disclosure: Bản dịch này không đầy đủ, có nhiều đoạn bị bỏ qua
Color and Hue
It’s just a river. Just a bridge. Old. Very ordinary. But this place has meaning, a clear significance. I often ask myself why this place is a boundary. I don’t yet dare use the word border, perhaps because there remains within me a hidden confidence. This is that no matter what, this division is merely a phase. There will come a day when people will no longer have to halt at this or that end of the bridge…
I stand looking intently at the other side. It is very quiet here now. It is as if by listening carefully I can hear the rhythm of the heartbeats of the people on the two banks. It is as if my blood vessels are linked to the blood vessels of those people on the other side. I think that whether desired or not, whatever the obstacles, whatever the distance, the people in the two regions are tied to each other in many ways.
I reject the images of the protest demonstrations, the resolutions, the conferences, the banners, the slogans, the political attitudes of this side and that side…
Fold up all the maps. Everything that bears any trace of the concept of division, I want to cast it all away.
Let me hear from the bowels of the earth, from the flow of the water, from the bushes and clumps of grass, the breathing, the smiles on pairs of lips and in the corners of the eyes of the people in the two regions some whisper, some echo, something absolutely divine, absolutely gentle, absolutely harmonious.
I want to stretch out, spreading my arms and legs across this bridge. Closing my eyes, not smelling, not hearing, not seeing, not thinking of anything around me, of any of the painful things that are happening. want to forget reality.
But a commotion on the bridge makes me realize that I am standing on this side of the bridge. I look up to see two cadres from the two regions strolling on the bridge. Their equipment is different. They have a different air about them. They are walking in different directions. One walks toward this side of the bridge; one, toward the other. Both slowly. Both cast their shadows on the river. They don’t smile at each other. They don’t even look at each other. As indifferent as two towers of the bridge facing each other, like chairs in a set of table and chairs. They keep their heads bent and keep walking slowly. My God! I can not stand this attitude. Why can’t they smile at each other? Is the person beside you no longer a person to you? Is the person facing you no longer of any significance to you? Can you no longer be moved, no longer feel anything for other people?
The person from the other side has crossed to a place near where I am standing. He’s beginning to take notice of me. Of course he is! He must know that I am standing here on this side. He must see me! What! Don’t look at me like that. Don’t give me that questioning look. I am not a thing to be looked at as if I were a gun or a mine. I am a person. I like other people to smile at me, to be relaxed with me and in harmony with me. You stand bent over, your elbows resting on the bridge railing, looking down at the water and then over toward me. I know that you are deciding about me.
I don’t want anyone to grasp me entirely. I want to be alone, not to have anything to do with you. I am going to sit down on the bank of this river. So I can just think of the sacredness of our country, listen intently to the ringing of the water, listen intently to the welling up of our souls.
I have just read an article by a man of letters from over there [ …] printed in […] Hanoi [….] He too went along the bank of the river, on the other side, and he looked from that side to this side. Whereas I have just looked only from this side to that side. What a shortcoming! We look at each other from only one direction like that. I want myself to be you, and you to be me. We must be able to look at the other person from the outside, and must also look at him from inside himself, just as we must also look at ourselves from the inside and from the outside as well. I don’t speak of the attitudes, of the unnatural looking of the cadres. I want to tell my literary friend on the other side that we should try looking at each other in literary ways. Naturally, everyone has a point of view and looks at things from his point of view. I don’t tell him to look through my glasses, but suppose we all looked through all the glasses and looked on all sides.
Hey, friend cadreman over there. You’re categorized me already, haven’t you? To which part of society do I belong and what attitude have you decided to take toward me that you rub your hands and smile like that?
I’ve lived near this boundary for five years now. Tomorrow I will return to the capital. I came out here today to seek the sensation of one who has lost his homeland, to sit at the edge of this bridge in order to see clearly that our country is not now unified. For years now I have retained the vague feeling that this division was temporary, that in a day or two it would be no more. But now I must accept the fact that healing such a division is no easy task. Especially healing the separation of our souls. In the conference room of those with authority, those with red pencils in their hands, drawing a line along the river is such a simple thing to do, but how can they know they have… drawn deep into our souls a terrible separation.
The river is narrow, and is spanned by a bridge. Simple and modest. That gate blocking the road on the other side will not be able to hold anyone back. People can pass it. People can erase a line on the land, but it’s difficult for them to cross the division separating the souls of the people in the two regions.
When will the two cadres guarding the bridge cease to treat each other as two objects? When will they ever learn to regard each other with sincere affection? When will they ever be stirred to remember that they are brothers? Only because of two differing doctrines has enmity arisen. Even though the two doctrines are directed at people in order to save them.
Here I do not speak of the error or honesty of nay doctrine in particular. I put that matter aside. I simply raise the question that both sides are for the people, so why do they become enemies? Today, before returning to the capital, I come out here to the entrance of this bridge to think about that. Friend on the other side, let us not think about taking over each other. Keep thinking about how people can earn a living and enjoy themselves, and still be free and at ease.
How long have people been using man in order to seek a way of destroying him? For how many thousand years; so many theories, so many doctrines; why is man still hungry and miserable? Man has been deceived many times. Keep thinking of him and let him be free.
The cadre from the other side of the bridge again rubs his hands and smiles, and take a few more steps until he reaches this end of the bridge. You’re laughing at me over politics. You ask how I am. Then suddenly you say to me:
“You see which side is strong, don’t you? The Soviets have just launched a four and a half ton satellite around the earth, for all to see.”
Having spoken, you look up at the sky, as if seeking proof of your words in the clouds.
I look down at the water. The reflection of the clouds is there, as is the bridge, and even your shadow.
I don’t answer you. I’m looking at a boy tending buffalo in a patch of grass near the river. He is wearing a ragged pair of black shorts and a filthy shirt, lying asleep upon the body of a skinny beast.
I think the tasks we must perform are not what you were just asking me about, but are rather the things concerning people who are poor. Children who do not go to school.
I get up and go home to pack my suitcase. Tomorrow I will no longer be here. From the day I arrived until the day I leave, the river has been a road of division, an interruption. The people of the two regions still reject each other, still shun each other’s souls, and regard each other as enemies.
But actually, this matter is not in the river, nor in the bridge, nor in the flagpoles. It is in the hearts of the people in the two regions, in our hearts. Our separation is caused not only by the boundary, by a line, but by a shapeless wall that forms a partition between our souls. We face each other, but do not look at each other. We are very near each other, yet seem to be lost. O friend on the other side, is love for each other not yet enough that we must have hatred and resentment as well? The pain comes not only in being far away from home, but it is in the crack from which the heart’s blood oozes. I want each person to examine the ties that bind us together.
O people of the two regions…
Tomorrow I will no longer be here. But the river will still be here. The task of bringing the two regions together, of erasing the border on the land and border in our souls is primarily our task.
Don’t rely on any satellite or spaceship. If tomorrow we are no more and this problem is not yet resolved, if we still look upon each other as enemies, then it will be the turn of the generations that follow us. The children who are now sitting at desks in school or sleeping on the backs of buffalo will have a day when they learn to love each other, and on that day this river will no longer be a border.
So please don’t teach them to hate.